Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Có hay không nhân vật Trần Hoằng Nghị và ngôi đền thờ tổ họ Trần ở làng Mẹo (Phương La) tỉnh Thái Bình?

Đặng Hùng - Hội Viên Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam | Thứ Tư, 02/10/2019 10:53 GMT +7

Vanhien.vn trân trọng giới thiệu bài viết của Nhà sử học Đặng Hùng trình bày tại Toạ đàm khoa học về nhân vật Trần Hoằng Nghị do Hội đồng họ Trần Việt Nam phối hợp với các nhà nghiên cứu lịch sử tổ chức ngày 26/8/2019 tại Hà Nội nhan đề  "Trần Hoằng Nghị có phải là thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ hay không? Việc lập đền thờ Tổ họ Trần - Việt Nam ở làng Mẹo - Phương La là đúng hay sai?".

Quang cảnh toạ đàm.


Tôi rất vinh dự được mời đến dự Hội thảo khoa học: "Sự thật về Trần Hoằng Nghị có phải là thân phụ của Thái sư - Trần Thủ Độ hay không?"


Cách đây hơn 12 năm (Tháng 1/2017 - 8/2019); tôi được hội KHLS Việt Nam mời tham dự hội thảo khoa học: "Hoằng Nghị đại vương và việc bảo tồn, tôn tạo khu di tích lịch sử văn hóa Phương La (Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình)".


Khi tổng kết cuộc hội thảo, GS. Vũ Khiêu đã nói: 


"Trong cuộc hội nghị này chỉ là bước đầu .... việc nghiên cứu không dừng lại ở đây mà còn phải tiếp tục tìm hiểu thêm trên một địa bàn rộng lớn hơn. Ngoài việc tìm hiểu ở quê hương còn phải tìm hiểu trong toàn quốc. Ngoài việc tìm tòi trong nước còn phải tìm tòi ở nước ngoài" ...


Giáo sư Vũ khiêu cho rằng: "Trong hội thảo, chúng ta thấy có nhiều ý kiến trái ngược nhau và cần phải đi sâu hơn nữa; chiều nay nảy ra ý kiến khác nhau, có khi đặt lại vấn đề rất lớn: Có cụ Trần Hoằng Nghị không? Có phải là cha của Trần Thủ Độ không? Có phải là thần hoàng làng Phương La hay không? Thực sự có công với Phương La hay không? Chúng tôi mong rằng cần tiếp tục nghiên cứu hơn nữa để làm sáng tỏ những ý kiến của mình đã nêu lên" .....


Ông Dương Trung Quốc trong bài phát biểu của mình tại hội thảo đã thừa nhận rằng: ..."Chúng tôi nghĩ dù còn khiếm khuyết một chút, chưa đầy đủ một chút thì chúng ta vẫn có thể hướng tới đấy như là những giả thiết để chúng ta đi tiếp và đồng thời cũng thừa nhận rằng trong lịch sử cũng có những cái đảo lộn, có những cái ta tưởng thế này rồi lúc khác ta lại thay đổi thì điều đó là một nhu cầu khách quan của quá trình nhận thức ....".


Vâng! Cuộc sống luôn thay đổi nhưng sự kiện lịch sử thì chỉ diễn ra một lần! Vì thể tìm hiểu diễn biến sự kiện lịch sử đã xảy ra và bổ sung nhiều lần thì càng tiến tới độ chính xác cao của những tiến trình lịch sử. Phải chăng vì những lý do đó mà hôm nay hội KHLSVN, ... đã phối hợp với HĐ dòng họ Trần - Việt Nam tổ chức hội thảo: "Ai là thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ".

Nhà sử học Đặng Hùng trình bày tham luận.


Tôi xin phép trình bày bài viết của mình:


 "Trần Hoằng Nghị có phải là thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ hay không? Việc lập đền thờ Tổ họ Trần - Việt Nam ở làng Mẹo - Phương La là đúng hay sai?".


Bài viết  gồm các phần sau: 


1. Sự hình thành làng Mẹo (Ứng  Mão-Hương La xưa-Phương la,Thái Phương,Hưng hà ngày nay) có từ thời lý?Trần?... hay được hình thành vào thời Hậu Lê? Sơ lược vài nét về các dòng họ và họ Trần trên vùng đất này.


2. Xác định có hay không nhân vật Trần Hoằng Nghị lập làng Mẹo (Phương La ngày nay) hay không? Ông ta có phải là thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ? Có hay không bến Trấn ở hương Tinh Cương xưa? Đâu là nơi sinh của Thái sư Trần Thủ Độ?


3. Có hay không miếu Cây Đa (đền Nhà Ông) ? Lập đền thờ tổ họ Trần - Việt Nam ở làng Mẹo là đúng hay sai?

 

I. Sự hình thành làng Mẹo (Phương La xưa - Phương La, Thái Phương, Hưng Hà ngày nay) có từ thời Lý? Trần? hay được hình thành vào thời Hậu Lê? Sơ lược vài nét về các dòng họ và họ Trần trên vùng đất này.


a) Sự hình thành làng Mẹo ( - Phương La, Thái Phương, Hưng Hà ngày nay) có từ thời Lý? Trần? hay được hình thành vào thời Hậu Lê?


Xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình được thành lập ngày 22/3/1977, trên cơ sở sát nhập thôn Phương La của thôn Tân Việt vào các thôn Hào Nguyên, Nhân Xá, Xuân La, Trác Dương (làng Then) - thuộc xã Thái Thịnh trước đây. Muốn xác định được làng Mẹo (Phương La) có phải là làng cổ được hình thành thời Lý? Trần? hay thời Hậu Lê? thì điều quan trọng nhất cần xác định nơi đây có phải là vùng đất cổ của huyện Hưng Hà hay không ?


+Trên vùng đất Hưng Hà xưa đã hình thành các làng Việt cổ. Theo sách "Địa danh Thái Bình xưa và nay" thì ở các huyện thuộc hương Đa Cương thời Lý, lộ Long Hưng thời Trần đã có các vùng đất cổ như Kỳ Bố, Hải Ấp, .... và các làng cổ ở vùng Hải Ấp, Tư cương xưa (nay là vùng đất xã Hồng An, xã Tiến Đức, xã Tân Tiến và các làng Diên Hà, Diên Nông, Diên Lãng, Diên Tề, Diên Trường, Diên Hải, Diên Phúc, Tè, Khuốc, Tịt và Lưu Xá ....


Ngoài ra còn có các địa danh thời Lý - Trần như: Đại Mang, Phù Nhân, Mang Nhân (nay thuộc xã Hồng An) và Lưu Xá, Thái Đường, .... nhưng không thấy có ghi địa danh làng Phương La.


Đến thời Lê Sơ (hậu Lê) mới thấy xuất hiện tên xã Hương La và làng Ứng Mão; tên xã Hương La được ghi trên quả chuông đồng ở chùa Linh Ứng (làng Mẹo); chuông được đúc vào ngày 6/12 năm Bính Dần, Chính Hòa năm thứ 7 (1686). Bài minh chuông được khắc vào năm Chính Hòa thứ 9 (1688) - niên hiệu đời vua Lê Hy Tông (1680-1705).


Một câu hỏi được đặt ra; vậy nếu nói xã Hương La và làng Ứng Mão (làng Mẹo) có từ thời Lý - Trần thì tại sao không thấy sử cũ hay văn bia hoặc tài liệu nào đó ở thời kỳ này ghi lại? Và nếu cho rằng vùng đất này có từ cuối thời Lý - đầu thời Trần do Trần Hoằng Nghị gây dựng nên thì sao không thấy sử cũ ghi lại và cũng không hề thấy các văn bản, tài liệu nào ghi chép về việc các vị tiên tổ nhà Trần như Trần Hấp, Trần Lý, .... và ngay cả vua Lý Cao Tông, Thần Tông, Huệ Tông "lai vãng" đến vùng đất này? Nó khác hẳn với việc sử thời Lý ghi vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông đã từng đến đất Đại Mang, Mang Nhân, Hải Ấp ....


Nếu như một số bài viết gần đây cho rằng đất Hương La có từ thời Lý? Trần ? thì trước khi được ghi vào trong minh chuông được khắc vào thời Hậu Lê tại sao lại không thấy có văn bản thư tịch nào của thời Lý-Trần nhắc đến tên xã Hương La. Hoặc nếu như xã Hương La được hình thành vào thời Lý - Trần thì lúc đó mang tên hoặc lệ thuộc vào trang, ấp, xã nào mà không được nhắc tới? Mà ngay cả "Đại Việt sử ký toàn thư", hay sách "Thông Sử" của cụ Lê Quý Đôn và sau này của Phạm Nguyên Hợp (thời Nguyễn) không thấy ghi lại? như đã từng ghi các địa danh: Mang Nhân, Hải Ấp, Đìa, Phù Ngự, Côn Cương, Thái Đường, ..... ở các xã giáp với xã Hương La xưa (Phương La ngày nay)?


Ngay ở các làng (thôn) thuộc xã Thái Phương ngày nay (giáp với làng Phương La) thì vào những năm 1960-1962 khi nạo vét sông Sa Lung người ta đã phát hiện ra mộ Hán ở giáp giới giữa 2 làng Hà Nguyên và Nhân Xá. Mộ Hán còn được tìm thấy ở khu vực gò Đống Giang, Đông Diệc thuộc thôn Trác Dương (làng Then). Theo sách "Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Thái Phương giai đoạn 1930-2005" (trang 8) - thì mộ thời Lý, Trần được phát hiện ở gò Đống Diệc, thôn Trác Dương. Trên bản đồ Nông nghiệp tỉnh Thái Bình (1972) thì làng Then (Trác Dương), Xuân La, Hà Nhân, Nguyên Xá thuộc các vùng đất có độ cao so với mực nước biển từ 1.2m đến 1.4m; trong khi đó làng Phương La (Mẹo) độ cao chỉ từ 0.5m đến 0.7 so với mực nước biển. Đây là vùng đất thấp nhất, trũng nhất và có độ phèn chua cao nhất trong vùng và trong huyện Hưng Hà. Vì thế khó có thể chứng minh được rằng vùng đất Ứng Mão (Mẹo), Hương La xưa - Phương La ngày nay hình thành và phát triển vào thời Lý-Trần được.


Qua tìm hiểu được biết trước đây 2 làng Xuân La và Ứng Mão (Mẹo) cùng thuộc xã Hương La. Đến năm Tự Đức thứ 34 (1881), xã Hương La được chia thành 2 xã: Phương La và Xuân La. 


Tìm hiểu ở các làng liền kề làng Ứng Mão và cùng ở tổng Lập Bái như: làng Gạo, Diêm, Đồng Trang, Tú Mậu, Nam Tiến, Bắc Sơn, Việt Thắng (nay thuộc xã Hồng An) có mối liên hệ khá mật thiết với làng Ứng Mão (Phương La). Cụ thể cây cầu đá được bắc qua sông Thái Sư nối liền giữa làng Gạo với làng Ứng Mão (nay được thay bằng cầu bê tông xi măng); những người công đức làm cầu được ghi tên trong tấm bia "Thạch kiều bi ký" được làm vào ngày 1/10 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) còn lưu ở chùa Ứng Mão xã Thái Phương, huyện Hưng Hà không chỉ ghi tên những người công đức thuộc làng Ứng Mão mà còn có tên của những người thuộc làng Đìa, làng Gạo, Hưng Nhân, Tú Mậu, Đồng Trang (thuộc xã Hồng An); hoặc ở các làng khác trong huyện, phủ Tiên Hưng xưa. Điển hình như cụ Trần Đình Dư, Trần Đình Đội, Trần Hữu Lực, Trần Nguyên Mỹ là người ở làng Đìa thuộc xã Hồng An ngày nay. Cụ Trần Đình Dư còn được thờ làm hậu thần của làng Đìa. Qua tìm hiểu được biết việc xây dựng cầu đá nối liền giữa thôn Đồng Trang, làng Gạo,  Tú Mậu với làng Ứng Mão của Hương La xưa đã được người dân của các làng khác xung quanh công đức là vì: Khi khai khẩn đất hoang hóa và đầm ao ở  sát 2 bờ sông Thái sư; xưa kia đã có rất nhiều  dòng họ từ các thôn làng thuộc xã Hồng An ngày nay và nhân dân trong vùng di cư xuống khẩn hoang lập ra các  trang ấp, xóm như: xóm Gạo, Đồng Trang, Ớm (quán Bún) và vượt sông sang làng Ứng Mão lập trang ấp khai hoang khởi nghiệp. Thực tế cho thấy những cư dân hiện sống ở làng Phương La ngày nay đều là những người dân ở các nơi tìm đến sinh cơ lập nghiệp. Vì mối quan hệ thân tình đó cho nên chức dịch xã Hưng Nhân xưa (thuộc xã Hồng An ngày nay) đã liên kết cùng xã Hương La xây dựng cây cầu đá nối liền 2 xã với nhau.


Hiện nay ở xã Hồng An có tới 32 chi ngành họ Trần sinh sống (mang chữ đệm khác nhau); các dòng, chi họ Trần chiếm tới 65-70% dân số xã Hồng An; nếu so sánh với xã Thái Phương thì các chi họ Trần ở xã Hồng An  nhiều gần gấp đôi số chi ngành họ Trần của xã Thái Phương (32/19 chi họ Trần).


b/ Phải chăng làng Ứng Mão (Mẹo) - Phương La ngày nay được hình thành vào thời Hậu Lê?


Khoảng trên dưới 20 năm trở lại đây đã có một số nhà nghiên cứu "sống chết" khẳng định rằng: "làng Ứng Mão (Mẹo) - Phương La là một trong những nơi dấy nghiệp của vương triều Trần ở thế kỷ 13 và là nơi Trần Hoằng Nghị sinh cơ lập nghiệp, mở làng, dạy dỗ Trần Thủ Độ, góp phần giành ngôi nhà Lý về cho nhà Trần?


Nhìn chung, những tư liệu mà một số nhà nghiên cứu đưa ra đều chỉ dựa trên sự truyền khẩu ở cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 do một số người cho rằng mình là hậu duệ của Trần Thủ Độ ở làng Phương La, xã Thái Phương cung cấp. Các tư liệu đó không hề dựa vào các văn bản, tư liệu sử học hoặc các tài liệu khảo cổ học cũng như các thần tích, thần phả, văn bia, sắc phong, .... Để chứng minh cho giả thiết mà các nhà sử học, nhà nghiên cứu đã nêu ra trong hội thảo năm 2007 và thông qua các bài viết của mình để làm sáng tỏ luận điểm: Trần Hoằng Nghị đã sinh ra Trần Thủ Độ tại làng Ứng Mão xưa (Phương La ngày nay). Các văn bản, tài liệu mà các nhà sử học, nhà nghiên cứu đưa ra trong hội thảo 2007 và sau này đã không đủ sức thuyết phục rằng: Có một dòng họ Trần đã từng lập nghiệp tại làng Ứng Mão từ cuối thế kỷ 12 đến đầu thế kỷ 13. Thực tế các bài tham luận của các nhà nghiên cứu chỉ đưa ra được những bằng chứng cho thấy làng Ứng Mão (Mẹo) - Phương La ngày nay được hình thành vào thời Hậu Lê thông qua bài minh chuông được khắc vào năm Chính Hòa thứ 9 (1688); hiện chuông còn treo tại chùa Linh Ứng, làng Phương La.


Vậy làng Ứng Mão (Mẹo), xã Hương La được hình thành vào giai đoạn nào thời Hậu Lê? 


Một điều đơn giản ai cũng biết, đó là sau khi lập làng, trang ấp trù phú thì người dân Việt nói chung thường xây dựng chùa, đình, đền, miếu để thờ phật, thần thánh với mong muốn được che trở, bảo vệ, đời sống an cư lạc nghiệp, ... phát triển dòng họ, kinh tế gia đình và xã hội.


Hơn 10 năm về trước chúng tôi đã được các cụ Trần Văn Cài, Lê Minh Nghiêm, Trần Quang Pháo ở làng Đìa, xã Hồng An và các cụ già ở xã Minh Tân liền kề với làng Mẹo (xã Thái Phương) cho biết: Trước đây vùng đất Đồng Ngang (sát làng Mẹo) và cả khu vực đất làng Mẹo thấp hơn so với các thôn ở phía trên như Đống Gạo, Đìa, Diềm,  .... chứ không cao như hiện nay. Dân ở Đồng Ngang, Ứng Mão tập trung ở khu vực đất nổi cao dựng làng lập ấp. Làng Ứng Mão (Mẹo) có sau các làng Côn Cương Hưng Nhân, Đìa, Xuân La, làng Then. Có lẽ vì thế ở thời Lý - Trần không thấy có địa danh Hương La mà chỉ có địa danh Mang Nhân, Đại Mang, Ngự Thiên, ....

Điều này cũng trùng khớp với tư liệu  mà chúng tôi sưu tầm được ở các làng Xuân La, Then, Nguyễn, Nhân Xá (xã Thái Phương). 


Ông Phạm Xuân Báu, ông Phạm Văn Thành ở làng Xuân La dẫn chúng tôi ra bờ sông đoạn chảy qua làng mình, chỉ cho chúng tôi thấy nền móng của một ngôi miếu cũ sát bờ sông. Trước  đây là miếu thờ "Hoàng bà bến Súc trấn quốc đại vương"; sau này miếu bị rỡ đi, hiện ở đình hiện vẫn thờ vị Thiên Thần này.


Theo các cụ ở làng Xuân La cho biết: Trước đây làng Nhân Xá, Hà Nguyên, Trác Dương (Then) và làng Xuân La có trước; sau này người dân ở các nơi mới di cư đến khai khẩn vùng đất trũng sát bờ sông (nay thuộc làng Mẹo). Lúc đầu những người dân ngụ cư đã hòa nhập với người dân Xuân La; họ cúng chung ở đình, chùa Xuân La. Khi có người thân mất thì cũng chôn cất ngay ở khu đồng đất cao thuộc bãi tha ma làng Xuân La. Đến nay vẫn còn vài chục ngôi mộ của người làng Mẹo (Phương La) nằm trên đồng đất làng Xuân La. Làng Xuân La thời trước còn có tục chạ làng (tổ chức cúng ở đình làng, các suất đinh đều tham gia, sau khi tế lễ xong thì cùng phá cỗ). Vì cùng thờ cúng chung ở đình, chùa, miếu, .... với người dân Xuân La nên vào một năm theo tục lệ của Xuân La thì những người dân ngụ cư (nay là dân ở làng Phương La - lúc đó chưa thành lập làng) phải tổ chức lễ chạ ngay ở vùng đất mới khẩn hoang để đãi dân làng Xuân La. Do mới định cư, kinh tế còn khó khăn, xuất đinh lại ít nên những người dân ngụ cư đã tổ chức cúng tế và ăn cỗ trước rồi mới gõ trống mời khách. Đúng hẹn dân đinh Xuân La kéo sang, thấy hết cỗ bèn bảo nhau bỏ về họp tại đình làng; và từ đó cấm không cho những người dân bên kia sông sang cúng ở đình, chùa làng Xuân La nữa. Có lẽ vì lý do đó nên những người dân ngụ cư đã quyết định tách ra và lập trang ấp mới; lúc đầu gọi là trang (ấp) Ứng Mão. Sau một thời gian dân cư đông đúc gọi là làng Ứng Mão (làng Mẹo). Vì lập làng mới vào năm Ất Mão khoảng năm 1675, triều vua Lê Hy Tông (hoặc có thuyết nói làng Ứng Mão được lập vào năm Ất Mão (1615), triều vua Lê Kính Tông nên lấy tên gọi là làng Ứng Mão; có nhiều người cho rằng ý nghĩa của 2 từ này là vì buộc phải tách khỏi làng Xuân La nên để ứng đối mà thành lập làng mới; do lập làng vào năm Ất Mão nên gọi là làng Ứng Mão. Câu chuyện trên dẫu chỉ là truyền thuyết nhưng lược bỏ cái vỏ bên ngoài thì vẫn có cơ sở để tin rằng nhiều khả năng làng Phương La ngày nay được thành lập vào năm Ất Mão.


Trong bài viết: "Bàn về tên gọi Ứng Mão, Hương La va Phương La quê hương của Hoằng Nghị đại vương" (PGS. Nguyễn Tá Nhí - Viện NCHN, Trang 278 - SDD); có viết ở  phần 2.3: "Tên gọi Ứng Mão chỉ thây xuất hiện trong các tư liệu Hán Nôm hiện đang lưu giữ tại chùa Linh Ứng và đình Đông của làng Phương La. Chữ "Mão" vốn được dùng để ghi chép tên làng Mẹo - lúc đầu chỉ viết đơn là Mão (卯) (không có bộ nhật); là chữ ghi tên một trong 12 con giáp: Tí , Sửu, Dần, Mão, ... Đến đầu thê kỷ 20 mới đổi viết thành chữ Mão (昴)(có bộ nhật), chỉ tên sao Mão là một ngôi sao trong nhị thập bát tú; (Ứng Mão là tên của một thôn thuộc xã Phương La bây giờ) - (SDD).. Thực tế cho thấy thôn Ứng Mão và thôn Xuân La nằm chung trong xã Hương La. Tên xã Hương La chỉ xuất hiện vào thời Hậu Lê trong bài minh văn ở chuông chùa làng Ứng Mão (1686-1688). Đến triều vua Tự Đức thứ 31 mới tách thành 2 xã Xuân La và Phương La (Theo lịch sử Đảng bộ xã Phương La).


Trong sắc phong cho 2 vị thiên thần Lôi Công và Thiên Quan năm Đồng Khánh thứ 2 (1887)-lần đầu tiên có ghi tên xã Phương La. Rất có thể khi lập xã mới Phương La người ta vì kiêng tên húy nên đã đổi chữ Hương thành Phương (Hương La thành Phương La); rõ ràng 2 xã Phương La, Xuân La đều có chung chữ La (để không quên gốc cũ) tách ra từ xã Hương La. 


Trong bia ghi việc dựng cầu đá ngày  11/10 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) cho biết: "thôn Ứng Mão, xã Hương La, tổng Lập Bái, huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng". Sắc phong ngày 24/11 năm Tự Đức 33 (1880) ở đình Phương La ghi: "Sắc chỉ Hưng Yên tỉnh, Diên Hà huyện, Hương La xã".


Bản tục lệ xã Phương La lập ngày 22/5 năm Tự Đức thứ 34 (1881) ghi: "Tiên Hưng phủ, Hưng Nhân huyện, Lập Bái tổng, Phương La xã". 


Như vậy tên xã Phương La chính thức được thay cho Hương La xưa là từ năm Tự Đức thứ 34 (1881) - (SDD- trang 203) - (Sau khi lập xã Phương La từ thôn Ứng Mão và thôn Xuân La thành xã Xuân La (tổng Lập Bái, huyện Hưng Nhân, phủ Tiên Hưng)). Một chứng minh quan trọng cho việc xác định ngay từ những năm (có thể là trước khi đúc chuông chùa Linh Ứng (1686) - thì làng Xuân La và Ứng Mão đều thuộc xã Hương La. trong mục chữ trên khuông "tự ký" được khắc trên quả chuông ở chùa Linh Ứng (Ứng Mão) có ghi: "Thôn Xuân La xã nhà Nguyễn Thị Lộc - năm mạch sử tiền; Trần Hữu Nghĩa, vợ Lê Thị Tài sử tiền" ... (SĐD - trang 250).


Từ "xã nhà" ghi ở trên chuông là chỉ xã Hương La (lúc đó bao gồm cả thôn Xuân La) - chứ còn xã nào khác nữa. Điều đó chứng minh rất rõ vào thơi điểm năm 1686 xuất hiện tên xã Hương La và có 2 thôn: Ứng Mão và Xuân La. "Căn cứ vào những ghi chép trên quả chuông chùa Linh Ứng, tên gọi của xã Hương La chắc chắn đã xuất hiện vào năm 1686-1688" -(SDD -trang 254). 


Ngay trong văn bia: "Thạch kiều bi ký" tạo dựng năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) cũng ghi thôn Ứng Mão xã Hương La; ở mặt sau của bia có ghi: "Xuân La thôn, tín lão Bùi Thị Duyên hiệu Diệc Lạc cúng tiền ngũ quan. Phạm Viết Lục tiền nhị quan, Hoàng Hữu Liên tiền nhất quan, Hoàng Công Tịnh tiền nhất quan". 


Với nội dung đã nêu ở trên; thiết nghĩ làng Ứng Mão (Mẹo) - sau này là Phương La không thể có ở vào thời Lý - Trần được; mà nó chỉ có thể được hình thành vào thời Hậu Lê (khoảng 1615 hoặc 1675). Có thể khi mới tách ra khỏi làng Xuân La một hai năm sau mới lâp ấp vào đúng năm Ất Mão nên gọi là Ứng Mão. Khi dân cư phát triển đông đúc gọi là làng Ứng Mão (Mẹo). Tên xã Hương La phải chăng được hình thành vào thời kỳ này và được chính thức thừa nhận khi ghi vào trong minh văn chùa Linh Ứng. Xã Hương La lúc đó bao gồm 2 thôn Ứng Mão và Xuân La.


C) Sơ lược vài nét về dòng họ Trần và các dòng họ khác sống trên vùng đất làng Phương La và xã Thái Phương.


Qua khảo sát thực tế, hiện ở làng Phương La có 12 dòng họ, số nhân khẩu có trên 4000 người, họ Đinh là một trong những dòng họ về Phương La sớm nhất nên dòng họ này đã định cư ở những nơi cao nhất của làng. Các chi họ Trần và các dòng họ khác về đây muộn hơn nên thường sống định cư ở rìa làng và thuộc vùng đất thấp. Dân cư ở Phương La hầu hết đều từ các tỉnh trong nước, trong huyện và các xã lân cận di  cư tới. Điển hình như các dòng họ Trần ở Hồng An với các thôn Đống Gạo, Đìa, Đồng Trang, Đồng Hà, Điềm v.v… giáp giới với làng Phương La. Hiện vẫn còn mối quan hệ họ hàng thân thích giữa các dòng họ ở Hồng An với các dòng họ Trần Quang, Trần Văn, Trần Đình, Trần Hữu, Trần Ích, … Họ Lê, họ Đỗ, họ Nguyễn … ở xã thái Phương nói chung và Phương La nói riêng. Điển hình như dòng họ Trần Hữu ở Hồng An di cư tới làng Phương La  và làng Then đến nay cũng được  6 - 7 đời. Dòng Trần Quang cũng từ Hồng An di cư tới đất Thái Phương đến nay đã được 7 - 8 đời… Phải chăng vì thế nên khi xây dựng đình, chùa, đúc chuông, dựng cầu ở làng Ứng Mão (Phương La ) đều có sự ủng hộ, công đức của các dòng họ Trần Ích, Đình, Trần Văn, Trần Quang, họ Lê, Trần Hữu ở các làng Đìa, Đồng Trang, Đống Gạo, v.v.. thuộc xã Hồng An. Dòng Trần Bá có ông Trần Bá Tuất từ làng Trác Dương di cư sang Phương La đến nay cũng được 7 đời. Dòng họ Trần Đức (Văn) Mẫn cũng từ nơi khác di cư về Phương La đến nay được 8 - 9 đời. Hộ ông Trần Văn Nhuận từ làng Then di cư sang làng Phương La (đến nay hàng năm vẫn ăn giỗ Tổ ở làng Then).


Ngay cả dòng họ Trần Văn của chi họ ông Trần Văn Sen có người nói là di cư từ làng Đìa sang ? nhưng theo ông Trần Quang (Văn) Đãng (trưởng ngành 4-chị họ Trần Văn) cho biết dòng họ này từ nơi khác về Phương La đến nay đã được 8 - 9 đời; nhưng cũng không rõ cụ Tổ từ đâu về đây và tên là gì. 


Có các dòng họ : như họ Lê vốn ở làng Đa Quả (Hà Trung) Thanh Hóa về Phương La cũng đã được 9-10 đời; họ Đào về đây được 8 đời ; Họ Nguyễn về đây được 9-10 đời; họ Đoàn, họ Đỗ từ Hưng Yên, Hải Dương sang đến nay cũng đã được 6 -7 đời. Dòng họ Bùi di cư về Phương La  được vài đời nhưng đến nay chỉ còn có 1 hộ. 


Thực tế ở làng "Mẹo" Phương La trước đây chỉ có 5 - 6 chi họ Trần, hiện nay có tới  12 chi họ Trần nhưng đa phần là do mới tách ra để thành lập chi mới. Ngay như  chi họ Trần  nhà ông Trần Văn Sen có 5 ngành thì ngành trưởng không có người kế tự, nay còn 4 ngành cũng tự động tách ra thành 4 chi. Điển hình như chi nhà ông Trần Quang (Văn) Đãng (thuộc ngành 4 trong họ Trần Văn); Khi ông Trần Văn Sen nhận Trần Hoằng Nghị là ông tổ họ nhà mình và cho rằng mình là hậu duệ của Trần Thủ Độ thì ông Trần Quang Đãng, ông Trần Văn Thiện và những người trong ngành 4 đã phản ứng bằng cách tách ra khỏi chi nhà ông Sen với quan điểm cho rằng không có nhân vật Trần Hoằng Nghị và ông này nếu có cũng không phải là ông Tổ của họ Trần Văn nhà mình. Nếu cho rằng dòng họ Trần ở làng Phương La nói riêng ở xã Thái Phương nói chung  có cùng một dòng máu đồng huyết với  dòng họ Trần của ông Trần Văn Sen là không đúng. Càng không đúng khi cho rằng 12 chi họ Trần này có cùng một ông tổ với họ Trần  nhà ông Trần Văn Sen; Vì các chi họ trần ở đây  đều có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và từ nhiều nơi về đất Ứng Mão (Phương La) sinh sống;chứ không phải cùng một ông tổ như nhiều người thêu dệt bịa đặt ra. Đúng là họ đồng danh chứ không đồng huyết. 


Thực tế ở ngay ở làng Then có chi họ Trần Hữu từ Hồng An di cư tới sinh sống đến nay đã được 6 - 7 đời; ở Phương La cũng có dòng Trần Hữu tới nay cũng đã được  8 - 9 đời. Tuy mang họ Trần nhưng có nguồn gốc xuất xứ lại không phải là gốc họ Trần. Theo gia phả dòng họ Trần Hữu, Trần Ích ở xã Hồng An thì tổ tiên của họ là người Chiêm Thành được vua Lê Thánh Tông đưa về sống ở đất Côn Cương (Làng Đìa) được 3 đời thì được triều đình cho phép đổi thành họ Trần ích, Trần Hữu; Theo bản gia phả của dòng họ Trần Hữu cách đây 8 - 9 đời ,dòng họ này có 3 người bỏ làng đi nơi khác lập nghiệp, trong đó có người về làng Ứng Mão chăn vịt, ở cánh đồng giáp làng Xuân La, làng Then; sau này lấy vợ sinh con tại nơi ở mới; nhưng không rõ có mang chữ chữ đệm là Trần Hữu hay mang chữ đệm khác.


Nhiều chi họ Trần ở làng Mẹo xã Thái Phương trong những năm gần đây đã tham gia chung trong tổ chức ban liên lạc họ Trần Việt Nam ở làng, xã (kể từ khi ban liên lạc họ Trần Việt Nam được thành lập đến nay); nhưng không phải tất cả các chi họ Trần ở đây đều tham gia vào Ban liên lạc họ trần ở xã và làng Phương La và vẫn còn một số chi không tham gia. Vì thế dư luận ở làng Phương La cho rằng việc xây dựng đền thờ Trần Hoằng Nghị như hiện nay là của chi họ của ông Trần Văn Sen đứng ra làm đơn xin phép UBND tỉnh và chỉ là nhà thờ riêng của chi họ Trần Văn nhà ông Sen chứ không phải là nơi thờ tổ tiên của các chi họ Trần và các dòng họ khác sống ở làng Phương La.


II. Xác định có hay không nhân vật Trần Hoằng Nghị lập làng Mẹo (Phương La ngày nay) hay không? CÓ HAY KHÔNG BẾN TRẤN  Ở LÀNG MẸO HƯƠNG TINH CƯƠNG XƯA-(PHƯƠNG LA  NGÀY NAY)? Thiên thần Trang Nghị Đại Vương được thờ ở đền Xuân La có phải là Hoằng Nghị Đại Vương thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ như ông PGS - TS Nguyễn Minh Tường đã ngộ nhận?


A/ Xác định có hay không nhân vật Trần Hoằng Nghị lập làng Mẹo (Phương La ngày nay) hay không?  

 

Cho đến nay các nhà nghiên cứu lịch sử (của VSH và Hội KHLS Việt Nam nói riêng); cùng các nhà nghiên cứu lịch sử ở tỉnh Thái Bình vẫn chưa đưa ra được những tài liệu văn bản học, cổ sử, văn bia, gia phả thần tích, sắc phong, chứng tích khảo cổ học hay các tư liệu điền dã mang tính khoa học nghiêm túc, đáng tin cậy để chứng minh và thuyết phục rằng có nhân vật Trần Hoằng Nghị  sống ở thời cuối triều Lý –đầu triều Trần  và ông ta có phải là thân phụ thái sư Trần Thủ Độ hay không? Có phải Trần Hoằng Nghị lập làng Phương La vào cuối thế kỷ thứ 12 hay không?


Vào tháng 1 năm 2007 Hội KHLSVN và Viện SH cùng UBND tỉnh Thái Bình đã phối hợp đồng tổ chức hội thảo khoa học về Trần Hoằng Nghị và việc bảo tồn khu di tích lịch sử văn hóa Phương La xã Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình. Tại hội thảo này nhóm nghiên cứu của ông PGS - TS Nguyễn Minh Tường viện dẫn các tài liệu điền dã chưa qua khảo cứu thẩm định tính chính xác khoa học, độ tin cậy của các tư liệu điền dã đó của cụ Dương Quảng Châu đã công bố ở một số cuộc hội thảo về Trần Thủ Độ và nhà Trần trên vùng đất Thái Bình. Đồng thời nhóm nghiên cứu của ông Nguyễn Minh Tường còn căn cứ vào nguồn tài liệu từ sách "Thuyết Trần" do cụ Trần Xuân Sinh biên soạn nhưng những nguồn tư liệu của sách này viết về Trần Hoằng Nghị lại được trích dẫn từ tư liệu điền dã của cụ Dương Quảng Châu.


Tài liệu văn bản học duy nhất mà nhóm nghiên cứu của ông Nguyễn Minh Tường đưa ra là các sắc phong được các triều đình phong kiến trước đây ban sắc cho các vị thần hoàng làng Xuân La là: "Trang nghị Đại Vương" - (Một trong tứ vị lôi oanh thần Sấm - nắm giữ gió mây sấm chớp). Trong bài tham luận tại hội thảo về Trần Hoằng Nghị tháng 1 năm 2007 (được in trong sách kỷ yếu hội thảo: "Thân thế sự nghiệp Hoằng nghị Đại Vương thân phụ thái sư Trần Thủ Độ"; PGS - TS Nguyễn Minh Tường viết : Trong sắc phong của thôn Xuân La, tên Hoằng Nghị Đại Vương đều được ghi là Trang Nghị Đại Vương, đấy là gọi theo một mỹ hiệu khác mà triều đình phong cho Ngài. Vả lại, trong đạo sắc này, ngay dưới mỹ hiệu Trang Nghị Đại Vương, ngài còn được ban hai chữ "Cương Nghị", vì thế nếu có gọi ngài là Cương Nghị Đại Vương cũng chẳng sai. Có thể khẳng định Trang Nghị Đại Vương được thờ làm thần thành hoàng ở thôn Xuân La, không thể là ai khác, ngoài Hoằng Nghị Đại Vương, vì một lẽ đơn giản đất này, xưa kia nằm trong phạm vi "Thượng chí Vô Tè, hạ chí Cống Cách, tức là trang ấp của ngài.”…


Cho đến nay văn bản cổ nhất ở làng Phương La là bài minh văn được tạo khắc vào năm Chính Hòa thứ 9 (1688) thời hậu Lê.Nhưng cũng không chứng minh được vấn đề quan trọng là Trần Hoằng Nghị là người đã  lập làng Ứng Mão(Mẹo) và  là người đã  dậy dân trồng dâu nuôi tằm,dệt vải ,mở chợ phát triển kinh tế ở khu Bến Trấn  Ứng Mão xưa(phương la ngày nay) được.


Tại cuộc hội thảo "Thái Bình với sự nghiệp nhà Trần" năm 1986; trong bài viết tham luận của từ đất Thái họ Trần dựng nghiệp của cụ Dương Quảng Châu, không thấy tác giả nhắc đến việc có nhân vật Trần Hoằng Nghị sống ở làng Ứng Mão (làng Mẹo) - (Phương La) xã Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình. Nội dung bài tham luận xoay quanh việc khẳng định cụ Trần Kinh sinh ra Trần Hấp; Trần Hấp sinh ra Trần Lý; Trần Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung v.v..


Nhưng tại cuộc hội thảo nhân 800 năm ngày sinh Trần Thủ Độ được tổ chức tại Thái Bình vào năm 1994. Cụ Dương Quảng Châu với bài tham luận: "Trần Thủ Độ với Thái Bình", bằng việc công bố bài thơ Nôm "mà tác giả đã viết để mở đầu cho bài tham luận: "Rất nhiều cụ già ở quê Tiên Hưng tôi thường đọc bài thơ Nôm: "Bến trấn Tinh Cương lưới với chài"… từ bài thơ này tác giả Dương Quảng Châu khẳng định: Trần Thủ Độ sinh ở bến Trấn, nay thuộc xã Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình. Nhưng chính tác giả Dương Quảng Châu cũng lại đặt vấn đề: "Ai đẻ ra Hoằng Nghị Đại Vương" và để trả lời câu hỏi này tác giả viết: "Theo các nguồn tư liệu điền dã và thành văn đã sưu tầm được thì cụ Trần Hấp con trai cụ Trần Kinh sinh ra Trần Lý và Trần Hoằng Nghị. Lúc đầu cụ Trần Hấp từ Tức Mạc sang Hải Ấp (Lưu Xá) rồi sau sang làm ăn, đi về giữa hai nơi Lưu Xá và Ứng Mão; ngành Trần Hoằng Nghị sinh cơ lập nghiệp ở đây là chính, còn Trần An Bang (Trần Thủ Độ) sau này sang lập nghiệp ở vùng Lưu Xá… Còn ngành Trần Lý, Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung… sinh cơ lập nghiệp ở Lưu Xá" (SĐD trang 174).


Năm 2001, Sở VHTT Thái Bình tái bản sách: "Thái Bình với sự nghiệp thời Trần" - (In lần đầu vào năm 1986); Ở lần tái bản này hai tác giả Dương Quảng Châu - Phạm Hóa  đã bổ sung them một số tư liệu  vào  bài viết đã in trước đây: "… Trần Hấp là con cả cụ Trần Kinh di trú về miền Hải Ấp nay thuộc xã Canh Tân, Hưng Hà. Người em trai Trần Hấp là Trần Quả rời Tức Mạc về Bến Trấn (nay thuộc xã Thái Phương, huyện Hưng Hà). Tối ngày vào đồng rồi ra sông chài lưới, đem lòng yêu người con gái ở đây sinh ra Trần Hoằng Nghị. 


Như vậy là ở hai cuộc hội thảo, tác giả Dương Quảng Châu đã công bố hai người sinh ra Trần Hoằng Nghị: Lúc đầu là Trần Hấp (bài viết năm 1994); sau là Trần Quả (Bài chỉnh sửa tái bản in năm 2001). Vậy ai là ông nội của Trần Thủ Độ? Cụ Trần Hấp hay cụ Trần Quả (nếu có nhân vật này)? 


Trong các bài viết của cụ Dương Quảng Châu tham gia hội thảo  về Trần Thủ Độ và Vương triều Trần được tổ chức ở Thái Bình; nếu đọc kỹ sẽ thấy mâu thuẫn về số lượng anh em của Trần Thủ Độ. Trong bài "Trần Thủ Độ với Thái Bình" - Tác giả Dương Quảng Châu cho rằng Trần Thủ Độ có 3 anh em: Trần An Quốc, Trần An Hạ, Trần Thủ Độ, nhưng ở bài chỉnh sửa lại bài viết tham gia hội thảo năm 1986 để in tái bản năm 2001 thì tác giả Dương Quảng Châu lại cho rằng em trai Trần Hấp là Trần Quả sinh Trần Hoằng Nghị; Trần Hoằng Nghị sinh ra Trần Thủ Độ và Trần An Quốc. Điều đáng ngạc nhiên là tác giả lại đánh đồng Trần An Quốc với Trần An Hạ là một người và cho rằng Trần An Quốc lấy em gái hoàng hậu Đàm Thị  (vợ vua Lý Cao Tông). Đây là một sai lầm lớn của tác giả Dương Quảng Châu; vì căn cứ vào  văn bia "Miễu lăng Bi ký" được khắc ở thế kỷ thứ 17 hiện để ở đình làng Miếu xã Đông Quang ngày nay và văn bản chữ Hán: "Quán thôn tự điển" được khóa sinh Đặng Đình Tập - cựu lý trưởng xã Trực Nội (thời gian đó làng Quán và làng Miễu đều thuộc xã Trực Nội (Làng Quán, nay thuộc xã Đông Xuân, Đông Hưng, Thái Bình). Văn bản: "Quán thôn tự điển" được viết năm 1923; kèm theo là văn bản điều tra của Hội khảo cứu phong tục thôn Quán, thôn Miễu năm 1938, các văn bản và văn bia nêu trên đều khẳng định Lý An Hạ là cháu vua Lý Anh Tông, gọi vua Lý Cao Tông là chú. Lý An Hạ không phải họ Trần mà là họ Lý, sau này do có công lao với nhà trần nên ông được ban quốc tính họ Trần. Lý An Hạ sinh năm 1177; đến năm 1202 - 1205 ông được cử vào làm Châu Bá Châu Nghệ An và đánh tan quân xâm lược Chiêm Thành. Năm 1216 - 1218 quân Chiêm Thành - Chân Lạp vào cướp nghệ an lại bị ông đánh đuổi; ông được triều đình ban phong là An Hạ Hầu cho hưởng thực ấp là 1.500 hộ. Khi nhà Trần giành ngôi của nhà Lý (12/1225) - vào năm 1226 - 1227 triều đình nhà Trần cho Phùng Tá Chu vào thay ông trấn thủ Nghệ An. Ông về hưu sống tại Nghệ An. Năm 1268 hai vợ chồng ông lần lượt mất tại Nghệ An. Vua Trần Thái Tông rất thương tiếc và gia phong là An Hạ Đại Vương. Đến năm Bảo Phù thứ 6 (1278) vua Trần Thái Tông cho phép đem hài cốt hai vợ chồng ông về táng tại khu thổ phụ Kinh Cường (tứ thôn Miễu - làng Quán) cho xây lăng tẩm, lập bia công đức, giúp cho dân trong làng phụng thờ, lại ban cho đôi câu đối:


"An Hạ Hầu, An Hạ Vương công tích liệt oanh tồn quốc sử

Vi Vương phi, Vi hậu muộn công danh ngật ngãi tại thiên thu"


Vợ của Lý An Hạ là bà Đàm Chiêu Chinh là con gái tướng quân Đàm Thời phụng triều Lý. Chị gái của bà là Đàm Thị là hoàng hậu của vua Lý Cao Tông. Thái ấp của bà Đàm Chiêu Chinh (được thừa hưởng của cha là Đàm Thời Phụng) - ở khu vực thôn Quán xưa, có tên là Trang Mai Hạnh. 


Còn Trần An Quốc  mới đúng là anh của  Trần Thủ Độ, ông  lấy bà công cháu Thiềm Hoa (con vua Lý). Thái ấp của ông bà ở làng Vũ Bị, tổng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Do có ý đồ chống lại nhà Trần nên bà Thiềm Hoa cùng chồng là Trần An Quốc, con trai là Cự Việt tín hầu đều bị sát hại. Hiện còn phủ Vũ ở làng Vũ Hựu thờ vợ chồng và con trai bà.


B/CÓ HAY KHÔNG  BẾN TRẤN  Ở LÀNG MẸO –HƯƠNG TINH CƯƠNG XƯA- LÀNG PHƯƠNG LA  NGÀY NAY?


  Trong bài viết tham gia hội thảo tại Thái Bình năm 1986: "Từ đất Thái họ Trần dựng nghiệp - không hề thấy tác giả Dương Quảng Châu nhắc tới từ "Bến Trấn" ở làng Ứng Mão (Mẹo) Phương La ngày nay, cũng không thấy ghi Trần Kinh sinh ra 3 người con là Trần Hấp, Trần Quả, Trần Mẽ; là càng không thấy nhắc tới nhân vật Trần Hoằng Nghị sinh ra Trần Thủ Độ và Trần An Quốc; Trần An Hạ? 


Ngay cả bài thơ Nôm cũng không được dẫn ra và mãi đến năm 1994 tại hội thảo "Trần Thủ Độ với Thái Bình mới thấy tác giả công bố lần đầu tiên để khẳng định vị trí quan trọng của khu bến Trần (Tức vùng đất Phương La -Xuân La - Trác Dương xã Thái Phương ngày nay).


Câu hỏi được đặt ra: Liệu ở làng Mẹo, xã Thái Phương có "Bến Trấn"  không?nếu có thì hiện  nay nó nằm ở khu vực nào? 


Khi còn sinh thời cụ Dương Quảng Châu, tôi (tác giả) thường được cụ rủ đi điền dã ở nhiều nơi trong tỉnh Thái Bình để tìm hiểu về các di tích lịch sử thời Lý - Trần - Lê - Nguyễn.
Qua tìm hiểu ở  xã Phương La và các xã lân cận được biết:

Từ trước tới nay vẫn  có con sông nhỏ bắt nguồn từ sông cầu Nại (sông cầu Nại khởi nguồn từ một nhánh sông chảy từ cống Đào Thành (xã Cộng Hòa) chảy qua làng Mẹ xã Hòa Tiến, rồi chảy qua cầu Lại (xã Liên Hiệp); Khi đi qua cầu Lại khoảng 500m thì con sông này tách dòng và có một dòng chảy qua xã Thái Hưng, lượn qua rìa làng Xuân la rồi qua cánh đồng Giang (giáp giới làng Xuân La, làng Then, làng Phương La); Dòng sông chảy sát đống Lựa của làng Mẹo (Phương La), rồi chảy theo rìa làng Phương La qua cầu Tiên (nơi trước đây có tấm bia đá) Thạch Kiều Bi Ký") - được tạo khắc năm 1830 - hiện bia để ở chùa Phương La. Xưa các cụ truyền lại câu ca: Đầu gối đống lựa, chân tựa cầu Du (ý muốn nói tới biên giới phía Nam của làng Ứng Mão (Mẹo). Dòng sông nhỏ tiếp tục chảy qua cánh bến, (bên kia sông là cánh đồng sát đường đi xuống thôn Đống Gạo, xã Hồng An hoặc ngược lên thì tới làng Diền - chợ Diền (xã Minh Tân). Từ cánh bến dòng sông chảy qua cầu Du lượn qua cầu Diêm (xã Minh Tân), chảy qua cánh đồng Lộc Thọ (xã Độc Lập) rồi chảy qua cầu Diềm (xã Minh Hồng) và đổ ra cửa sông đò Phú Hậu. Sau này khi làm cống Minh Tân (xã Minh Tân) để lấy nước từ sông Hồng vào thì dòng sông nói trên chảy từ cầu Du xã Thái Phương đến cầu Diền chia làm 2 nhánh, 1 nhánh qua Minh Hồng rồi đổ ra khu đò Phú Hậu đã nêu trên; Còn nhánh thứ hai chảy qua cầu Nãi (làng Long Nãi, xã Độc Lập - Hưng Hà), rồi chảy ra cống Minh Tân (xã Minh Tân) và chảy ra sông Hồng. Hoặc ngược lại từ sông Hồng qua cống Minh Tân, dòng sông đưa nước vào qua các xã nói trên.


Tìm hiểu thực tế tại khu cánh Bến (nay thuộc thôn Tân Hòa, xã Thái Phương), gặp các cụ cao tuổi: cụ Trần Quang (Văn) Đãng (85 tuổi), trưởng ngành 4, đời thứ 6 - thuộc chi họ Trần Văn nhà ông Trần Văn Sen tại làng Mẹo, Phương La và ông Trần Văn Mão 72 tuổi, người thôn Tân Hòa cho biết: "Tổ tiên chúng tôi về sống ở làng Mẹo (Phương La) đến nay đã 8 - 9 đời (tính đến đời cháu cụ Đãng); không hề thấy các cụ truyền lại là có địa danh bến Trấn nào hết mà chỉ có địa danh cánh Bến ở làng Ứng Mão xưa (Mẹo - Phương La ngày nay).


 Ở đây chỉ có cánh Bến nằm sát con sông nhỏ chảy theo rìa làng Phương La. Bên kia sông cánh Bến là cánh đồng giáp thôn Đống Gạo xã Hồng An. Trước đây ở gần sát cánh Bến dân làng có làm một chiếc giếng to để lấy nước sinh hoạt và phục vụ lễ hội ở đình, chùa, đền, miếu. Sát sông có bến nước dân làng thường sinh hoạt, tắm rửa khi đi làm đồng về. Sát cánh Bến trước đây có một hồ nước (hiện nay hồ vẫn còn và thông với dòng sông chảy qua làng); cạnh hồ có đền thờ Đức Thánh Trần; dân làng gọi tắt là đền Trần. Đền có 3 gian nhà gỗ lim nhưng đến thập kỷ 70 của thế kỷ trước đền bị hạ giải; nay là nơi ở của một số hộ dân trong làng.


Vì có bến nước, lại ở sát ven sông và nằm ở rìa của làng Mẹo - Phương La; nên những người dân ở trong làng gọi khu vực này là "Cánh Bến". Chứ làm gì có BẾN TRẤN ở làng Mẹo như nhiều người lầm tưởng.


Thực tế  tôi biết cụ  dương Quảng châu đã liên tưởng  và ghép ngôi đền thờ "Hoàng bà bến Súc trấn quốc Đại Vương" - ở làng Xuân La với con sông chảy qua cánh bến ở làng Mẹo  và địa danh Hương Tinh Cương để làm bài thơ Nôm:


                                            " Bến trấn Tinh Cương lưới với chài”


Trước đây (vào những năm 1994 - 2000) - khi cụ Châu còn sống tôi đã hỏi cụ: "Ở làng Mẹo làm gì có bến Trấn sao cụ lại viết ghép vào vậy? Cụ Châu nói: ghép cho vần để tạo  ra  bài thơ dẫn đề  khẳng định vị trí địa thế quan trọng của vùng đất Phương La - Xuân La - Then …thời Trần. Đi  với cụ nhiều nên tôi biết các tư liệu của cụ Dương Quảng Châu  sưu tầm được  ở vùng đất làng Mẹo, làng Then, làng Xuân La … đa phần là các tư  liệu theo dạng truyền khẩu …... Chính vì thế các tư liệu của cụ thu thập được  luôn mâu thuẫn chồng chéo lên nhau khi viết về  thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ và anh em của Trần Thủ Độ (như đã nêu  trên).


Gần đây khi trở lại làng Mẹo (Phương La) để tìm hiểu thêm tư liệu, tôi được cụ Trần Quang Đãng, cụ Trần Văn Mão cho biết: khoảng cuối năm 2006 - đầu năm 2007 - Viện Sử học và HKHLSVN có cử một đoàn về làng Mẹo (Phương La) để tìm hiểu tư liệu  về đền nhà ông, về Trần Hoằng Nghị và bến Trấn, nhưng họ chỉ được gặp những người nắm bắt lơ mơ về ngôi đề và khu cánh Bến hoặc có những người không biết cũng tham gia vào trả lời các câu hỏi cứ như là họ đã biết; vì họ được  một số người bố trí cung cấp số liệu cho đoàn. Chứ những người sống cùng trong chi họ Trần Văn (chi nhà ông Sen) như chúng tôi và lại ở sát cánh Bến, hiểu biết khá rõ về nguồn gốc, tổ tiên của chi họ mình từ nơi khác về đất Ứng Mão mới được 8 - 9 đời và từ đời ông cha đến nay vẫn thường tắm gội ở cánh Bến thì họ không đến gặp mặt để tìm hiểu cho rõ ngọn ngành.


C/ Thiên thần Trang Nghị Đại Vương được thờ ở đền Xuân La có phải là Hoằng Nghị Đại Vương thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ như ông PGS - TS Nguyễn Minh Tường đã ngộ nhận?


Trong hội thảo về "Hoằng Nghị Đại Vương" việc bảo tồn, tôn tạo khu di tích lịch sử - văn hóa Phương La"; được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 1 năm 2007; ông PGS - TS Nguyễn Minh Tường (VSH) có bài  tham luận: Thân thế sự nghiệp Hoằng Nghị Đại Vương  - thân phụ của Thái sư Trần Thủ Độ. Đọc kỹ bài tham luận của ông PGS - TS Nguyễn Minh Tường và các bài tham luận khác trong hội thảo khoa học năm 2007; một điều dễ nhận ra là không ít nhà nghiên cứu và bản thân ông Nguyễn Minh Tường đều sử dụng các tư liệu điền dã đầy mâu thuẫn, thiếu tính khoa học biện chứng, thiếu độ chính xác về lịch sử vùng đất và con người ở làng Ứng Mão xưa của cụ Dương Quảng Châu khi tìm hiểu về thân thế, dòng họ của Trần Thủ Độ. Nhưng không dừng ở đó;mà ông Nguyễn Minh Tường lại còn  gán ghép,”sáng tạo” phù phép hồi sinh cho nhân vật thiên thần Trang Nghị Đại Vương được thờ ở đình làng Xuân La là bố đẻ của Thái sư Trần Thủ Độ, Trần An Quốc và Trần An Hạ. 


Phải chăng ông PGS -TS Nguyễn Minh Tường chưa đọc bản thần tích "Đức ông Trang Nhị Đại Vương sự tích" ở đình làng Xuân La? Nhưng nếu ông Tường đã đọc  rồi thì không rõ vì lý do gì mà một người nổi tiếng giỏi chữ Hán, giỏi sử nhất nhì ở Viện Sử học như ông lại cố tình gán ghép cho vị thiên thần Trang nghị Đại Vương   trở thành nhân thần và sinh ra Trần Thủ Độ được?


Thật khó có thể  biện minh và giải thích khi bản thần tích ở Đình làng Xuân La ghi rất rõ "Vị thần hoàng Trang Nghị Đại Vương (tức Lôi Oanh thần Sấm) được vua Đường Ý Tông - Trung Quốc phong cho theo lời tấu của viên quan tiết lộ sứ Cao Biền; - Vì “thần “có công âm phù giúp  đánh tan quân Nam Chiếu. 


Vậy đây là nhân thần hay thiên thần? Kể cả nếu là nhân thần thì vị thần này có từ thời nhà Đường đô hộ nước ta; tính đến cuối thời Lý đầu thời Trần cũng đã 400 - 500 năm rồi? Vậy làm sao lại đẻ ra được Trần Thủ Độ. Hay ông thần này có phép đầu thai chăng? Giải thích sao đây về việc nếu là người có công với làng Phương La, dựng bến Trấn, mở chợ buôn bán, dạy dân trồng dâu nuôi tằm, đóng thuyền, tổ chức buôn bán v.v… và sinh ra vị thái sư Trần Thủ Độ thì tại sao lại không được tôn thờ là Thành hoàng làng Ứng Mão? Thực tế Lục vị thần hoàng làng Ứng Mão chỉ là các vị thiên thần chứ đâu phải là nhân thần. Trong bài tham luận "Lục vị thần" được thờ ở Phương La qua di tích và sắc phong) "Phạm Văn Kính - VSH, sđd trang 225), đã đặt ra câu hỏi hóm hỉnh nhưng chất chứa sự nghi ngờ: "… Vậy mà cụ Trần Hoằng Nghị còn có phần mộ, đền thờ đền nhà ông và hậu duệ kéo dài mãi tới ngày nay, còn 6 vị thần thì không hiểu tại sao lại vô danh tính mà chỉ được xưng hô với những danh từ phiến chỉ: Ông thần Sấm (Lôi Công); Quan Trời (Thiên Quan); Quân Trời (Thiên Quân) v.v… Về điều nghi vấn này ở địa phương cũng có nhiều người đương đồng quan điểm với chúng tôi. Đúng sai, hư thực thế nào xin chờ nghiên cứu thêm". 


Ngay cả văn bia "Truy tự Bi Ký" hiện để tại đình Phương La cũng không thấy ghi tên Trần Hoằng Nghị. Như chúng ta đều biết "Truy Tự Bi Ký" là loại văn bia ghi công đức những người có công với làng, với nước; nên dân làng khắc vào bia để ghi việc truy thờ truyền lại cho hậu thế. 


Vậy xin hỏi: nếu làng Ứng Mão có từ thời Lý Trần thì trước đây làng này có tên là gì? Nếu là quê hương của một người có công với dân làng, với đất nước; và lại là hoàng thân quốc thích của nhà Trần như Trần Hoằng Nghị (nếu có nhân vật này) thì sao địa danh Hương La lại không phải là nơi đi lại, dừng chân của các vị vua cuối  triều Lý-đầu triều Trần và không được  ghi lại như các địa danh: Lưu Xá, Đại Mang, Mang Nhân, Phù Ngự, Thái Đường ở Hương Tinh Cương - Đa Cương - Phủ Long Hưng thời Trần. 


Vào những năm 60 - 70 của thế kỷ trước, phòng bảo tồn, bảo tàng của Ty Văn hóa TT tỉnh Thái Bình đã 2 lần tổ chức kiểm kê các di tích lịch sử văn hóa làng Phương La - xã Thái Phương để đưa vào danh mục đăng ký bảo vệ di tích; nhưng dẫu có tìm đến "toét mắt" cũng không hề có ghi chép gì về nhân vật Trần Hoằng Nghị và đền thờ của ông ta ở làng Mẹo (Phương La). Trong bài trả lời bài "Trần triều Hoằng Nghị Đại Vương và những tồn nghi"? của ông Đặng Hùng" - (Đăng trên tạp chí xưa và nay số 273 tháng 12/2006); Ông PGS - TS Nguyễn Minh Tường viết: "Theo chúng tôi với thái độ khoa học và thận trọng chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu xem Hoằng Nghị Đại Vương có thực là cha đẻ của Thái sư Trần Thủ Độ không? Nhưng trước khi có những tư liệu mới, đủ sức thuyết phục, chúng ta đành tạm chấp nhận nguồn tư liệu điền dã tại quê hương Hoằng Nghị Đại Vương, cụ là cha đẻ Trần Thủ Độ; Thái độ thận trọng khoa học không đồng nghĩa với thái độ "Bất khả tri" nghi ngờ tất cả, phủ nhận tất cả".


Tôi cho rằng đây là sự ngụy biện sảo ngôn, lập lờ của ông Nguyễn Minh Tường. Chúng ta không nghi ngờ tất cả nhưng nếu các tài liệu bằng chứng đưa ra vẫn ở dạng tồn nghi thì ghi là tồn nghi, nếu không có thì khẳng định không có; chứ không thể nói như  ông Nguyễn Minh Tường là "… tạm chấp nhận nguồn tư liệu điền dã tại quê hương của Hoằng Nghị Đại Vương" được. Bởi các tư liệu của cụ Dương Quảng Châu và nhóm ông Tường đưa ra để biện minh cho việc có nhân vật Trần Hoằng Nghị là hoàn toàn thiếu căn cứ khoa học và luôn mâu thuẫn về các nguồn tư liệu như đã dẫn ở trên. Hơn nữa theo sự hiểu biết của cá nhân tôi thì trong nghiên cứu khoa học nhất là bộ môn khoa học lịch sử làm gì có phương pháp nghiên cứu theo kiểu "Tạm chấp nhận" như ông Nguyễn Minh Tường đã nêu ra. 


Qua việc tìm hiểu và phân tích các nguồn tài liệu từ thực tế điền dã tại các xã trong huyện Hưng Hà và tỉnh Thái Bình đến việc tìm hiểu các bài viết của cụ Dương Quảng Châu trong các cuộc hội thảo cùng việc nghiên cứu các tham luận trong hội thảo khoa học tháng 01/2007 tại Hà Nội, tôi khẳng định rằng không hề có nhân vật Trần Hoằng Nghị  vào cuối thời nhà LÝ sống ở  làng Mẹo(phương La ngày nay)- và càng không thể nói Hoằng Nghị Đại Vương là thân phụ của Thái sư Trần Thủ Độ được.


III. Có hay không miếu Cây Đa (đền Nhà Ông) ? Lập đền thờ tổ họ Trần - Việt Nam ở làng Mẹo là đúng hay sai? 


Ông Nguyễn Minh Tường trong bài tham luận của mình tại hội thảo tháng 1/2007 ở Hà Nội; đã viết: "Miếu thờ cụ Trần Hoằng Nghị trước đây khoảng 40 năm còn khá to, gọi là đền nhà ông… Cụ Trần Hoằng Nghị đã từng được tôn làm phúc thần của làng Ứng Mão (Phương La). Trần Hoằng Nghị được tôn vinh làm "Thần Làng - Tổ họ". Cụ cũng chính là một trong những số người đầu tiên về nơi đây khai canh lập ấp vào những thập niên của thế kỷ 12. Nhưng điều đặc biệt là cụ được thờ tại đền nhà Ông, chứ không phải ở đình làng như thường thấy ở những nơi khác…". 


Xin hỏi: Nếu miếu (đền nhà Ông) tại làng Phương La có thờ một vị có công với làng với nước như Trần Hoằng Nghị thì tại sao ông ta lại không được dân làng tôn làm Thành hoàng? Tài liệu nào nói Trần Hoằng Nghị là phúc thần của làng Ứng Mão? Nếu là Phúc thần thì là người có công đức với làng; Vậy sao trong văn bia  "Truy tự Bi Ký" không thấy ghi tên ông ta để người đời sau phụng thờ ? Ngay cả việc phòng bảo tồn, bảo tàng của ty Văn hóa Thái Bình về làng Phương La kiểm kê di tích (1961 - 1962), (1977 - 1978), đều không thấy có di tích nào mang tên đền thờ nhà Ông hay đền thờ Trần Hoằng Nghị hoặc đền thờ tổ họ Trần Việt Nam ở làng Ứng Mão (Phương La)? Chẳng lẽ đoàn cán bộ của phòng bảo tồn, bảo tàng ty văn hóa bỏ sót chăng? 


Khi về làng Mẹo (Phương La), tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã tiếp xúc với các cụ già trong làng và những người thuộc chi họ Trần Văn (họ nhà ông Trần Văn Sen) ở làng Mẹo; được cụ Trần Quang (Văn) Đãng 85 tuổi (trưởng ngành 4) cùng chi Trần Văn nhà ông Trần Văn Sen (ông Sen ở ngành 3); cụ Đãng và cụ Trần Văn Mão (72 tuổi), sống ở cánh Bến thôn Phương La  cho biết: Hiện cả xã Thái Phương có 18 - 19 chi họ Trần (trước đây chỉ có 12 chi) nay do các ngành tách ra thành lập các chi mới nên số lượng các chi họ Trần trong xã mới tăng lên. Các cụ cho biết: Các chi họ Trần ở làng Phương La nói riêng, xã Thái Phương nói chung (đều không cùng huyết thống mà chỉ cùng tính danh họ Trần.); Khi ban liên lạc họ Trần Việt Nam ra đời thì các chi họ Trần ở làng Phương La nói riêng ở xã Thái Phương nói chung cùng tham gia ban liên lạc họ Trần Việt Nam của xã. Nhưng thủy tổ của chi họ Trần nào thì chi đó cúng chứ không cúng ông tổ của chi họ Trần Văn của nhà ông Trần Văn Sen.


Cụ Trần Quang (Văn) Đãng, cụ Trần Văn Mão cho biết ;Trước đây chợ làng Phương La họp ở gần cầu Tiên (cầu Đá) - có lối đi sang làng Đống Gạo - Đồng Trang … xã Hồng An; sau đó chuyển chợ về gần cửa chùa Linh Ứng, được một thời gian chuyển về khu xóm méo; cách đây khoảng 40 năm thì chuyển về vị trí sát đường liên xã, gần gốc cây đa như ngày nay-(ngày trước ở  đây có nghĩa trang của làng, sau này nghĩa trang được di dời đi nơi khác).  Từ lâu rồi, ở sát gốc đa cạnh con  đường liên xã của làng Phương La; chi họ Trần Văn nhà cụ Đãng  có một ngôi miếu nhỏ thờ cúng tổ tiên của mình..Tương truyền khi từ nơi khác về đất Ứng Mão,Cụ Tổ làm nghề chài lưới và sống ở gần một gò đất cao gần khu vực gốc cây đa ngày nay. (Cũng  theo cụ Đãng thì cụ tổ chi từ nơi khác về đây sinh sống, không rõ ở địa phương nào về); Truyền đến nay được 8 - 9 đời và hiện có 5 ngành; nhưng ngành trưởng không có con trai nên hiện chỉ còn 4 ngành. Khi cụ tổ mất thì sau này con cháu xây một ngôi miếu (đền nhỏ). Nói là đền nhưng thực ra chỉ khoảng 5 - 6m2 chủ yếu làm cung thờ cụ tổ chi ở giữa là to, rộng; Ngôi đền này là của riêng chi họ Trần Văn nhà chúng tôi (lời cụ Đãng); chứ không phải của họ Trần của cả làng Mẹo hay của xã Thái Phương. Năm 1963 tôi đi thanh niên xung phong trở về quê, có tham gia làm thư ký của chi họ. Năm 1968 do ngôi đền bị dột nát nên các cụ trong họ bàn nhau và dỡ đền để xây dựng lại. Nhưng khi dỡ hết phần mái, phần tường để chuẩn bị đào móng xây lại thì chính quyền xã không cho xây dựng tiếp, tôi được giao cho dỡ hậu cung, khi dỡ đến mặt nền do dùng xà ben đâm mạnh nên thấy thụt xuống dưới nền đền và phát hiện thấy có lỗ hổng ở bên trong; nhưng không nhìn thấy có gì ở trong đó. Chỉ biết đó là một hố vuông rộng 1m, dài 1,5m (từ mặt nền xuống khoảng hơn 1m)  - chỉ nhìn thấy hố có hình tượng như cái bàn thờ nhưng bên trong không có mộ mành gì cả. Lúc đó ông Đỗ Văn Hiệp cán bộ văn hóa xã đến xem nhưng không thấy gì ở đáy hố và cũng không xác định có mộ ở đó. Cá nhân tôi (cụ Đãng) cũng cho rằng không có mộ chôn ở dưới nền đền. Sau này chi họ xây dựng  một  ngôi đền nhỏ để thờ tổ tiên tại đất nhà ông Trần Văn Khiển (thân sinh ra ông Trần Văn Sen) đến khoảng năm 1980 -1985 thì dựng lại  ngôi miếu nhỏ ở khu vực ngôi đền trước đây đã bị phá sát gốc đa.  Diện tích bên trong của ngôi miếu khoảng trên 1m2 có tường bao rộng khoảng 5m (khu đất của ngôi đền trước đây khoảng 34m2, đất không được vuông vắn, phía trước cong hình ván nguyệt, đằng sau sát đường liên xã, miếu quay hướng đông.


Cụ Đãng cho biết ngày nay ông Trần Văn Sen cho xây dựng ngôi đền to lớn, khu đất xây dựng đền thuộc cánh diệc mạ của làng trước đây, nói là đền thờ tổ họ Trần Việt Nam, nhưng chúng tôi thấy không đúng. Vì tổ tiên chúng tôi về đất làng Mẹo (Ứng Mão - Phương La) đến nay mới được 8 - 9 đời ) và cũng không biết cụ tổ từ đâu về, cụ tên là gì? thì cũng không rõ; Vậy làm sao dám nhận mình là con cháu của cụ Trần Thủ Độ được.? dứt khoát cụ tổ chúng tôi không phải là vị thiên thần Trang Nghị Đại Vương hiện được thờ ở làng Xuân La và cũng không phải là Hoằng Nghị Đại Vương như một số người trong chi họ và nhóm nghiên cứu của ông Dương Quảng Châu - Phạm Hóa trước đây; rồi sau này là ông PSG - TS Nguyễn Minh Tường và một số cộng sự của ông ta đã bịa đặt hư cấu xây dựng lên. Chúng tôi không có văn bản giả phả, sắc phong, văn bia, tư liệu khảo cổ học nào để khẳng định dưới ngôi miếu (đền) ở gốc đa trước đây  là ngôi mộ tổ và cũng không thể khẳng định chi họ Trần Văn  ở làng Ứng Mão xưa (Phương La ngày nay) là con cháu hậu duệ của Thái sư Trần Thủ Độ như một số người vẫn lầm tưởng và ngộ nhận.


  Năm 2013, một số cán bộ của ban quản lí di tích  tỉnh Thái Bình  -  đã giúp ông Trần Hương Sen lập hồ sơ di tích để đề nghị công nhận miếu cây đa (đền nhà ông) là di tích lịch sử cấp tỉnh .Để  tránh dư luận trong và ngoài tỉnh phản đối vì không có nhân vật Trần Hoằng Nghị nên phải chăng  người ta  đã  không gọi là miếu nhà ông hay đền nhà ông mà đặt tên là “Đền Thờ Tổ Họ Trần Việt Nam". Ngoài việc thờ các vị tiên tổ họ Trần và các vua Trần thì  ở trong  đền  còn đặt ngai để thờ các vị thân vương và quý tộc nhà Trần. (Trong các vị thân vương và quý tộc thời Trần có thân phụ Trần Thủ Độ (mà người ta bịa đặt ra) -  là Hoằng Nghị Đại Vương; và An Hạ Vương (Trần An Hạ?) …


  Cho đến nay miếu cây đa – miếu (đền) nhà ông – đền thờ tổ họ Trần Việt Nam vẫn chưa được công nhận là di tích lịch sử -văn hóa của tỉnh Thái Bình . 


  Hiện nay ở Thái Bình có đền Trần thuộc xã Tiến Đức – là nơi thờ tổ tiên nhà Trần và các vị vua,  hoàng thân quốc thích nhà Trần. Lê Quý Đôn trong sách “Kiến Văn Tiểu Lục” đã ghi: "Xã Thái Đường, huyện Ngự Thiên (phủ Long Hưng) có bốn cái lăng:” Thái tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông  nhà Trần, lại có lăng  của  bốn  hoàng hậu…”- (Lê Quý Đôn, sđd - tr210). Như  vậy đã rõ đền Trần - Thái Bình ở làng Tam Đường xã Tiến Đức mới chính là Đền thờ Tổ nhà Trần trên đất Hưng Hà, Thái Bình. Vậy thì không thể có thêm 1 đền thờ tổ vương Triều Trần  nào khác nữa ở trên đất (Long Hưng) Hưng Hà được; Bởi chẳng lẽ chỉ ở 1 địa phương Hưng Hà lại có 2 đền thờ tổ  các vua  Trần ư??? Đây là 1 điều phi lý.


  Không dừng lại ở những sai lầm đó ông Nguyễn Minh Tường khi được giao làm trưởng ban biên tập sách: "Lịch Sử Việt Nam Phổ Thông Tập 3 “đã đưa nhân vật mà ông tạo dựng ra là Trần Hoằng Nghị vào trong chính sử và biến ông ta trở thành thân phụ của Thái Sư Trần Thủ Độ. Đây quả là 1 điều bôi nhọ danh nhân lịch sử Trần Thủ Độ và bôi nhọ lịch sử dân tộc không thể chấp nhận được. Ngày 24/9/2018, cục xuất bản, in và phát hành của bộ VH đã ra công văn số 802 – CXB – PH – QLXB yêu cầu Viện sử học Việt Nam ngừng phát hành toàn bộ 9 tập sách lịch sử phổ thông đã in trong đó có sách “Lịch Sử Việt Nam Phổ Thông Tập 3".


  Phải chăng thân phụ, thân mẫu của Thái Sư Trần Thủ Độ vẫn là 1 thách thức, 1 ẩn số đối với các nhà khoa học nghiên cứu lịch sử dân tộc;  nhưng tôi tin chắc rằng dẫu là ai chăng nữa thì thân phụ thái sư Trần Thủ Độ chắc chắn không  phải là vị thiên thần Trang Nghị Đại Vương (Lôi Oanh Thần Sấm) - như ông PGS - TS Nguyễn Minh Tường và một số người đã thêu dệt bịa đặt  biến THIÊN THẦN THÀNH NHÂN THẦN và sau 400-500 năm mới  sinh  ra Trần Thủ Độ được…                                                     

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}