Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Y tế:

 

COVID-19: Những điều Việt Nam đã làm để khống chế dịch

Nhật Nguyên | Thứ Ba, 04/08/2020 15:40 GMT +7

 

 

Việt Nam đã trải qua hai đợt bùng phát dịch COVID-19 trong cộng đồng và hầu như đã kiểm soát rất tốt. Lần này, dịch bùng phát với một mức độ nguy hiểm hơn, phức tạp hơn. Tuy nhiên, chính phủ đã có kinh nghiệm và các giải pháp ứng phó kịp thời, người dân có thể an tâm hợp sức cùng chống dịch.

Những đợt sóng dịch bệnh

Đợt bùng phát dịch đầu tiên bắt đầu từ ngày 23/01 với tổng cộng 16 ca nhiễm, mầm bệnh chủ yếu liên quan tới những người đến hoặc trở về từ tâm dịch Vũ Hán. Đợt thứ hai bùng phát từ ngày 06/03, với bệnh nhân số 17 đã chấm dứt chuỗi liên tiếp 22 ngày không có ca nhiễm mới. Đợt thứ ba bùng phát mới đây vào ngày 25/07 khi Bộ Y Tế công bố ca bệnh số 416 tại Đà Nẵng, chấm dứt chuỗi 99 ngày liên tiếp không có ca nhiễm trong cộng đồng.

Trong hai đợt bùng phát dịch lần trước Việt Nam đã làm rất tốt việc kiểm soát và khống chế dịch. Nhiều chuyên gia y tế hàng đầu thế giới đã đánh giá cao cách làm của Việt Nam và đề nghị các nước khác cần nghiêm túc, nghiên cứu, học hỏi cách chống dịch của Việt Nam để hạn chế những tổn thất do dịch COVID-19 gây ra. Như vậy cách chống dịch của Việt Nam đã đạt hiệu quả và được thế giới ghi nhận.

Điều này không phải là huyễn hoặc hay “tự sướng”, vì chỉ cần nhìn vào thực tế là một nước láng giềng có quan hệ giao thương lớn với Trung Quốc (nơi khởi phát dịch bệnh), mà tới nay Việt Nam mới chỉ có số ca lây nhiễm viết bằng 3 con số. Có nghĩa là Việt Nam đã làm đúng, đã kiểm soát chặt chẽ và hạn chế được sự lây lan cũng như những ảnh hưởng mà Virus Corona chủng mới gây ra.

Cần phải nhớ rằng, nguyên tắc quan trọng nhất để chống dịch chính là hạn chế sự lây lan trong cộng đồng. Kiểm soát tốt các yếu tố dịch tễ không để lây lan, tập trung điều trị cho những người nhiễm bệnh. Đây cũng chính là 2 giải phát song song để dập dịch mà Việt Nam vẫn đang tiếp tục thực hiện.

Chiến thuật “đánh chặn” ngay từ đầu

Để không lây lan trong cộng đồng thì hệ thống y tế phải nhanh chóng phát hiện ra các ca bệnh đầu tiên (dương tính virus hoặc nghi ngờ nhiễm bệnh) để cách ly và điều trị thì dịch bệnh sẽ khó lòng mà bùng phát. Tuy nhiên để có thể phát hiện ra các ca dương tính sớm nhất thì cần phải có chiến lược rõ ràng, cụ thể. Trong đó, phân tách hai yếu tố mang mầm bệnh là trong nước và ngoài nước để có hướng giải quyết chi tiết là tiền đề cho các bước tiếp theo.

Thứ nhất, đối với trong nước thì hệ thống y tế từ trung ương đến cơ sở đã nắm tình hình từ những ngày đầu tiên, bất cứ ai có lịch sử dịch tễ hoặc có các dấu hiệu của bệnh sẽ được đưa đi cách ly. Nhưng mấu chốt của vấn đề lại nằm ở việc xác định được lịch sử của người bệnh, xem họ đã đi những đâu, vào giờ nào và gặp những ai. Người tiếp xúc trực tiếp với người bệnh (F0) là F1, người tiếp xúc với F1 là F2, người tiếp xúc với F2 là F3… những người này đều được cách ly 14 ngày hoặc có thể hơn.

Việc cách ly các trường hợp tiếp xúc gần sẽ dễ dàng hơn trong việc kiểm soát và khống chế dịch bệnh ngay từ đầu. Chỉ cần những người bệnh hoặc người tiếp xúc hợp tác và kê khai đúng sự thật thì dịch bệnh khó có cơ hội phát tán trên diện rộng. Đây là điều mà đa số các nước trên thế giới xem nhẹ không thực hiện, đến khi dịch bùng phát lên tới hàng ngàn người thì “thời điểm vàng” để kiểm soát đã qua lâu.

Về cả lý thuyết và thực tiễn cách đánh chặn ngay từ đầu như vậy được xem là cách làm có tầm nhìn xa và chắc chắn. Trong hai đợt bùng phát trước đây, các trường hợp nhiễm bệnh hầu như đã được lường trước mặc dù có một vài sự cố từ bệnh nhân N. hay trường hợp bệnh viện Bạch Mai đã vô tình để Virus lan ra ngoài cộng đồng. Tuy nhiên, đội ngũ chống dịch đã nhanh chóng khoanh vùng và cách ly những người có liên quan nên dịch bệnh sớm được kiểm soát.

Tiếp theo, khi các ca bệnh lây nhiễm trong cộng đồng tăng cao chính phủ đã thực hiện đưa ra lệnh giãn cách xã hội, “ai ở đâu cứ yên ở đó”, trừ trường hợp cần thiết thì mới ra ngoài. Như vậy kể cả nếu có mất kiểm soát, một gia đình có người bị nhiễm thì cũng chỉ trong gia đình đó, hoặc giả như họ có sang nhà nhau chơi thì cũng chỉ một làng hoặc thôn bị mắc, chứ không nhiều được. Hoặc nếu tệ nhất có quá nhiều người bị không kiểm soát được thì sau 14 ngày giãn cách, xã hội gần như đóng băng thì ai bị ai không sẽ rõ như ban ngày và không di chuyển thì dịch bệnh không thể lây làn.

Tuy nhiên vẫn có một số sơ hở trong biện pháp này như một số người chống đối, một số người gian lận trong khai báo và không ít người vẫn phải ra ngoài mua nhu yếu phẩm cần thiết, công nhân vẫn phải đi làm… vẫn tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm chéo. Song trên thực tế, Việt Nam đã thực hiện việc giãn cách xã hội sớm, các trường hợp nhiễm bệnh rất ít nên kẽ hở này không có điều kiện để “phát huy” tác hại.

Thứ hai, đối với nước ngoài đội ngũ y tế kiểm tra rất kỹ lịch sử dịch tễ và tình trạng sức khỏe khi nhập cảnh, đồng thời yêu cầu cách ly 14 ngày. Thời gian cách ly sẽ xác minh được người mới nhập cảnh có mang theo mầm bệnh hay không để có hướng đi tiếp theo. Người nào nhiễm bệnh thì điều trị, người nào không nhiễm bệnh thì hòa nhập vào cộng đồng cũng sẽ tạo ra sự yên tâm và tự tin cho cả bản thân và những người mình tiếp xức.

Dẫu vậy, ở đây vẫn nảy sinh kẽ hở khi xuất hiện các trường hợp nhập cảnh trái phép, trốn cách ly. Rất may số lượng này ít, tỉ lệ mang mầm bệnh thấp nên Việt Nam vẫn nằm ở ngưỡng an toàn. Qua đây mới thấy, dù cả nước đồng lòng chống dịch nhưng chỉ cần một người mang mầm bệnh nhập cảnh trái phép, tự do đi lại khắp Việt Nam thì bao công sức cũng sẽ “toang” ngay lập tức. Vì vậy, cần phải lên án việc nhập cảnh trái phép hơn bao giờ hết.

Thành quả của “lối đá phòng thủ”

Việt Nam đã lựa chọn “lối đá phòng thủ, đánh chặn ngay từ đầu” nên dễ kiểm soát dịch bệnh, khác với nhiều nước trên thế giời để dịch bùng rồi mới xét nghiệm xem ai nhiễm bệnh thì mới đưa đi cách ly và điều trị. Giả như có xét nghiệm, phát hiện được hết tất cả các ca bệnh và đưa đi cách ly nhưng nếu bỏ qua những người tiếp xúc gồm F1, F2, F3… thì những người này vẫn tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm nên việc chống dịch không biết khi nào mới kết thúc.

Dẫu vậy, phương pháp của chúng ta cũng không tránh khỏi một vài nhược điểm như người dân bị hạn chế đi lại, nên kinh tế bị thiệt hại từ sớm, nhiều ngành dịch vụ bị đóng băng, không ít công ty, cơ sở kinh doanh tạm dừng hoặc giải thể. Không giống như đa số nước khác, dù dịch bệnh bùng phát, người dân vẫn đi lại, ăn uống, vui chơi, giải trí, du lịch như thường nên nền kinh tế ít bị ảnh hưởng, nhất là ngành dịch vụ vẫn phát triển như bình thường. Tuy vậy, khi dịch bùng phát cực mạnh ngoài tầm kiểm soát thì họ cũng phải giãn cách xã hội như Việt Nam, đương nhiên khi đó nền kinh tế sẽ chịu nhiều thiệt hại hơn, lâu phục hồi hơn; trong khi đó ngành y tế cũng phải “oằn lưng gồng gánh” chữa trị cho lượng bệnh nhân khổng lồ.

Việt Nam “đánh chặn” dịch bệnh ngay từ đầu, hy sinh cái nhỏ để giữ đại cục, chấp nhận chịu thiệt hại về kinh tế để chủ động kiểm soát dịch. Khi dịch bệnh lắng xuống xã hội sẽ chuyển sang trạng thái mới vừa phòng chống dịch bệnh, vừa khôi phục và phát triển sản xuất. Những thành quả của phương pháp phòng chống dịch ngay từ đầu với chiến thuật “đánh chặn”, Việt Nam đang được xem là quốc gia kiểu mẫu trong việc chống dịch và phát triển kinh tế. Vì vậy người dân có cơ sở để hoàn toàn tin tưởng và đồng lòng với Chính phủ để chung tay chống dịch lần này.

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}