Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Người thầy dạy sử, Người thầy viết sử

Ths Trần Trung Hiếu | Thứ Năm, 17/01/2019 10:09 GMT +7
(Vanhien.vn) Trân trọng giới thiệu bài  tham luận của Ths Trần Trung Hiếu "Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Người thầy dạy chữ, Người thầy viết sử" do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tạp chí Văn hiến Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 21/12/2018 nhân kỷ niệm  74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1994 - 22/12/2018) và 5 năm ngày mất của Đại tướng.  
Cho đến tháng 10 năm 2018, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giã từ chúng ta tròn 5 năm. Suốt hơn hai phần ba thế kỷ qua, Ông luôn được coi là một trong những tài năng quân sự lỗi lạc. Với chiến thắng Điện Biên phủ lẫy lừng, với tầm nhìn chiến lược, trí tuệ sắc sảo, tên ông đã được ghi danh trong các từ điển quân sự, trong bách khoa toàn thư của nhiều nước trên thế giới với những dòng trang trọng, làm nên vinh dự cho dân tộc Việt Nam.
 
Trong lịch sự quân sự thế giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một hiện tượng đặc biêt. Vị Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam là vị tướng người châu Á được các sử gia và các nhà bình luận quân sự phương Tây nhắc đến nhiều nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Ông là một trong những người hiếm hoi góp phần thay đổi dòng chảy của lịch sử Việt Nam.
 
Nhắc đến tên của ông, giới sử học Việt Nam từ dân sự đến quân sự, từ trong nước ra ngoài nước đều biết về ông không chỉ là 1 vị tướng trận mạc tài ba. Trước khi trở thành vị Tổng Tư lệnh quân đội, ông là một giáo viên Sử xuất sắc, một nhà viết Sử quân sự uyên thâm. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là 1 tác gia kiệt xuất với những công trình hoàn chỉnh tổng kết lịch sử, tổng kết chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.
 
1. Người thầy dạy Sử nổi tiếng.
1.1.Tình yêu lịch sử từ thuở ấu thơ.
 
Sinh ra và lớn lên tại làng An Xá đất Quảng, một vùng đồng bằng nhỏ hẹp nhất Việt Nam, có những cánh đồng lúa nước kẹp giữa một bên là những cồn cát trắng xóa mênh mông chạy dọc bờ biển, và bên kia là những mỏm núi xanh trơ trụi trong dãy Hoành Sơn uốn lượn giữa những cánh rừng rậm. Đây là vùng quê khi vào hè sẽ đón khắc nghiệt của khí hậu với nhiều trận gió Lào khô rát từ lục địa Nam Á nóng bỏng thổi ra biển.
 
Cụ bà thân sinh cậu Giáp, những hôm không bận việc đồng áng thì cặm cụi bên khung cửu để mưu sinh. Cụ ông là một nông dân có học thức, tự cày cấy ruộng nhà, và truyền lại cho cậu bé Giáp chữ nghĩa, vốn tri thức và tình yêu quê hương đất nước trên một miền quê mà mỗi tấc đất đều mang một chứng tích lịch sử. Phía Bắc của tỉnh là động Phong Nha hoang sơ nhưng thu hút nhiều khách hành hương đến cầu nguyện trước một bàn thờ còn sót lại của người Chăm. Trên bờ biển, dãy Hoành sơn hùng vĩ án ngữ biển, nơi đây nữ sỹ Bà Huyện Thanh Quan của thế kỷ XVIII từng ca ngợi vào một buổi chiều tà: “ Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”. Cậu bé Giáp tuy ở tuổi ấu thơ cũng đã hiểu rằng, nữ thi sỹ khi nói đến con quốc quốc là nói đến non sông đất nước vì tiếng con chim quốc quốc theo âm Hán -Việt đồng âm với tiếng “quốc”, nghĩa là đất nước, quê hương.
 
Cách làng An Xá một quãng ngắn vẫn còn sót lại di tích của thành lũy xưa gắn liền với vai trò của cụ  Đào Duy Từ- nhà quân sự kiêm thầy giáo dạy chữ Nho. Ông là tác giả cuốn “Hổ trướng khu cơ” ( Bí quyết phép dùng binh), một cuốn sách giáo khoa dạy nghệ thuật quân sự cho các tướng lĩnh thời bấy giờ.
 
25 năm trước khi cậu Giáp cất tiếng khóc chào đời, vùng đất Quảng Bình từng là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Cần Vương hưởng ứng lời kêu gọi chống Pháp của vua Hàm Nghi. Năm 1923, cậu Giáp tạm biệt cha mẹ già vào Huế để vào học Trường Quốc học. Giáp đặc biệt say mê các môn Lịch sử, Địa Lý và Vật Lý. Anh chỉ rời sách vở khi bận đến dự những cuộc thảo luận sôi nổi về các vấn đề liên quan đến lịch sử nước nhà như “cứu nước”, “canh tân đất nước”, “đánh giặc ngoại xâm”...Lúc bấy giờ, người ta đã xì xào, bàn tán về một con người có sức hấp dẫn lạ kỳ mang tên Nguyễn Ái Quốc- một cựu học sinh trường Quốc học Huế, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Người ta đã đưa cho Giáp một bản và anh đã say sưa đọc.
 
Sang năm 1924, 1925, 1926, phong trào yêu nước chống Pháp của nhiều tầng lớp nhân sỹ, trí thức liên tục diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi trên cả nước. Từ tiếng bom của Phạm Hồng Thái ngày 24.6.1924 ở Quảng Châu ( Trung Quốc) đến hành động bắt giữ, xét xử nhà yêu nước Phan Bội Châu ( năm 1925), đến đám tang của Phan Chu Trinh (3.1926)...
 
Như vậy, ngay từ thuở ấu thơ, trạc tuổi 14, 15, cuộc đời anh đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử kèm những nguồn tri thức lịch sử từ các thế hệ trí thức yêu quê hương, đất nước dẫn đến những tác động sâu sắc, tạo nên những bước ngoặt có tính chất quyết định cả cuộc đời anh sau này. Và anh đã “thai nghén” tình yêu môn Sử, hiểu lịch sử từ những nhân vật lịch sử của quê hương, đất nước.
 
1.2.Trở thành giáo viên Sử nổi tiếng ở trường Thăng Long.
 
Năm 1934, sau khi đỗ Tú tài triết học, Giáp ghi tên vào học trường luật. Vừa đi học đại học, chàng sinh viên Võ Nguyên Giáp vừa xin làm giáo viên Trường tư thục Thăng Long để kiếm sống.
 
Tháng 9-1935, Trường tư thục Thăng Long (mới) khai giảng năm học đầu tiên. Nhìn vào danh sách các giáo sư, người ta đã có thể thấy được đây là tổ chức của những trí thức tiến bộ có tinh thần yêu nước: Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, Phan Thanh, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Lân, Bùi Kỷ, Phạm Huy Thông, Ngô Xuân Diệu, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Cao Luyện, Trịnh Văn Bính, Nguyễn Dương, Vũ Đình Liên… Thế nên học sinh các tỉnh cũng đua nhau tìm đến, ngay năm đầu lên tới 2.000, một thắng lợi mà những người thành lập trường chưa nghĩ tới. “Học trò trường tư vừa hư vừa dốt”, quan niệm xã hội thường cho là chỉ những học trò kém không vào được trường công nên mới phải học ở đây. Vậy mà Trường Thăng Long đã nổi lên như một điểm sáng trong khối tư thục. Điều ấy làm cho các ông Tây bỏ vốn ra lập trường tư - như Bailet mở trường Gia Long - tức tối, “máy” mật thám theo dõi, kiếm cớ sai phạm để tìm cách đóng cửa. Chúng cho bọn chỉ điểm trà trộn vào lớp học sinh lớn tuổi xem nội dung giảng của các thầy ra sao. Nhưng các thầy giáo Thăng Long đã chủ động khôn khéo, kín đáo. Vậy mà chẳng năm nào không có chuyện mời một số thầy lên “hỏi thăm sức khỏe” và lúc ra về được lời căn dặn cảnh cáo nhẹ: “Mong thầy lưu ý cho, thầy đã đi quá nhiều điểm nhà nước Pháp quy định trong chương trình giảng dạy”. 
 
Trong hồi ký, thầy Hoàng Minh Giám đã viết: “Với phương pháp giảng dạy, các thầy luôn luôn chú trọng khơi gợi ý thức tự giác học tập trong học sinh, thức tỉnh động cơ yêu nước, ghét thù trong các tâm hồn trẻ. Trường đã vận động một đội ngũ giáo viên và học sinh rất đông đảo tham gia “Hội Truyền bá quốc ngữ”; cuộc vận động đó có tác động rất tốt đến tư tưởng học sinh, mở đường cho anh chị em biết cách thể hiện tình yêu nước thương nòi. Đề cao nhân văn tiến bộ, nhà trường chủ trương trong quản lý giáo dục, phải tôn trọng nhân phẩm của học sinh. Đối lại, các anh, các chị học sinh thường rất lễ phép, yêu kính các thầy”.
 
Thầy Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Tôi dạy sử, tôi tập trung vào những sự kiện tiêu biểu như phong trào Cần Vương, hay những tấm gương đầy khí phách như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu… Ngoài những giờ dạy trên lớp, tôi còn tổ chức cho học sinh đi “dã ngoại”, đến Cửa Bắc, đứng trước quả đạn pháo của tàu chiến Pháp bắn vào thành, đến Ô Cầu Giấy, chỗ Hăng ri Rivie, Gácniê tử trận. Ngay tại hiện trường, tôi đã giảng giải cho học sinh diễn biến của trận đánh và gieo vào lòng các em lòng căm thù giặc, ý chí quyết tâm cứu nước”.
 
Năm 1937, Hiệu trưởng Nguyễn Bá Húc ốm nặng, thầy Hoàng Minh Giám lên thay đã làm thay đổi cả về chất và lượng của Thăng Long học hiệu. Thầy Hoàng Minh Giám quê xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, là con cụ Bảng Hoàng Tăng Bí, người đã sáng lập Đông Kinh nghĩa thục cùng với cụ cử Lương Văn Can. Tiếp thu tinh thần “nghĩa thục” của cha, thầy tỏ rõ quyết tâm cùng đông đảo đồng nghiệp có tinh thần yêu nước, chống lại chính sách ngu dân của chính quyền bảo hộ. Thăng Long là trường tư thục đầu tiên ở nước ta hằng năm tổ chức thi chọn học sinh giỏi và trò nào khó khăn được miễn giảm một phần hoặc toàn phần học phí.
 
Trường sống trong một thời kỳ lịch sử sôi động của đất nước: Phong trào Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái, Xô Viết Nghệ Tĩnh, mặt trận Bình dân, mặt trận Phản đế, Nam Kỳ khởi nghĩa rồi tới Mặt trận Việt Minh nối tiếp dấy lên cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, trong lúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai làm đảo lộn cả năm châu, bốn biển. Nhiều thầy trò đã tham gia các hoạt động yêu nước như tổ chức đi bán các báo công khai của Đảng như Le Travail, Rassemblement, En Avant, Hà Thành thời báo, Thời Thế, Tin Tức, Đời Nay… cũng như vận động quyên góp ủng hộ báo.
 
Đầu năm 1937, học sinh Thăng Long đã là lực lượng chủ yếu trong cuộc đón tiếp Gôđa, biểu dương lực lượng trước toàn quyền Brêviê. Nhiều người là giáo viên Hội Truyền bá quốc ngữ xóa nạn mù chữ cho nhân dân lao động. Trong cuộc mít tinh khổng lồ kỷ niệm ngày 1-5 năm 1938 ở khu Đấu Xảo, học sinh Thăng Long đã tham gia mít tinh, bố trí bảo vệ góp phần vào thắng lợi này. Cuối năm 1938, học sinh Thăng Long đã tổ chức thành công Tuần lễ chợ phiên, ủng hộ Trung Quốc chống xâm lược Nhật. Trong đám tang thầy giáo - chiến sĩ Phan Thanh, hầu hết học sinh Thăng Long và các thầy đã có mặt đông đảo đưa tiễn một cán bộ xuất sắc của Mặt trận Dân chủ, một nhà giáo uy tín của trường. Tới ngày Tổng khởi nghĩa thì cả thầy và trò nhiều người đã là chiến sĩ cách mạng, chiến sĩ cộng sản đi đầu trong phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, làm chủ đất nước.
 
Nhìn lại danh sách các thầy kế tiếp từ năm 1935 đến 1945 ta còn thấy có Phan Mỹ, Khuất Duy Các, Nguyễn Văn Lưu, Vũ Bội Liêu, Phạm Hữu Ninh, Hoàng Như Tiếp, Nguyễn Xiển, Lê Thị Xuyến, Phan Anh… không ít người sau cách mạng giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền Dân chủ cộng hòa.
 
Tiếp nhận tư tưởng tiến bộ của các thầy, nhiều học sinh Thăng Long trở thành cán bộ cách mạng. Có thể kể: Trần Quang Huy, Ngô Duy Cảo, Nguyễn Thành Lê, Lê Quang Đạo, Hồ Lịch, Nguyễn Thọ Chân, Hồ Trúc, Đặng Xuân Kỳ, Đào Thiện Thi, Phan Kế An, Trọng Loan, Vũ Tú Nam, Đào Duy Kỳ, Lý Chính Thắng, Trần Hải Kế, Nguyễn Mai Hiến, Lê Tụy Phương, Nguyễn Hồng Lĩnh, Nguyễn Khoa Diệu Hồng, Trần Lâm, Võ Thuần Nho, Trần Sâm, Minh Tranh, Lê Trung Toản…
 
Trong thời gian 5 năm giảng dạy môn Lịch sử tại trường Thăng Long, thầy Võ Nguyên Giáp dạy cả lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới.Nhiều tướng lĩnh cao cấp của quân đội ta vốn là cựu học sinh trường tư thục Thăng Long thuở ấy như Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Trung tướng Lê Quang Đạo, Trung tướng Phạm Hồng Cư...đến nay còn vẫn viết hồi ký in trong sách kỷ yếu về nhà trường, thường nhắc đến những bài dạy lịch sử và đầy nhiệt huyết của thầy Giáp giảng về cuộc Đại cách mạng Pháp 1789, ý nghĩa của ba chữ “Tự do- Bình đẳng- Bác ái”, lý lẽ của 17 điều trong bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Phá năm 1791, nhất là cuộc chiến tranh của Napoleong, được giải thích và phân tích trên cả những sơ đồ vẽ các trận Austerlitz và Borodino.
 
Ông Bùi Diễm, từng là Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ giai đoạn 1967-1972, là một học trò đã học lịch sử với thầy Võ Nguyên Giáp ở trường tư thục Thăng Long đã bày tỏ cảm xúc và sự trân trọng trong hồi ức về thầy Giáp rằng : “trong tất cả các nhân vật đáng nhớ, đặc biệt có một người mà tôi khó quên, đó là ông Võ Nguyên Giáp- người dạy tôi về môn Sử...Ông như người bị quyến rũ bởi cách mạng và đấu tranh. Phần chương trình của lớp đã được ấn định là giai đoạn cuối thế kỷ XVIII cho đến cuối thế kỷ XIX trong lịch sử Pháp, nhưng ông Giáp nhất định chỉ giảng về hai thời kỳ là cuộc Đại cách mạng Pháp 1789 và những trận đánh thời Napoleon”.
 
“Những gì về ông Giáp hồi ấy thật là đặc biệt. Vì vậy mà lúc này, hơn nửa thế kỷ sau tôi vẫn còn nhớ rõ rệt. Ông nói về đời sống xa hoa của Hoàng hậu Marie Antoinette. Qua trình bày của ông, người ta cảm thấy rõ ông không phải là giáo sư sử học nhưng là một người thầy say mê cách mạng. Phần giảng dạy của ông về Napoleon thì lại càng ly kỳ hơn nữa. Ông đi lại trước bảng đen với một cái thước gỗ để chỉ rõ các chiến địa, trình bày tường tận chiến thuật và chiến lược  của Napoleon bằng cách mô tả từng trận một. Hình như ông đã in tất cả vào trong đầu và sử đã biến thành một phần của con người ông. Vì vậy, trong từng giờ dạy Sử của ông, học sinh thường im lặng như tờ”.
 
Một người khác, ông Trần Văn Hà- cựu học sinh trường Bưởi,  không được trực tiếp học Sử với thầy Giáp, nhưng nghe tiếng Thầy giảng hấp dẫn, có sức lôi cuốn đặc biệt nên đã mượn vở của bạn mình để học. Ông kể rằng “anh bạn cùng gác trọ học trường tư thục Thăng Long cứ luôn khoe với tôi “Thầy Võ Nguyên Giáp giảng về lịch sử cách mạng Pháp thật tuyệt vời. Tôi mượn xem, quả là hay thật ! Bài học mà như chuyện kể, rất lôi cuốn về đánh chiếm ngục Baxti, ý nghĩa của 3 chữ “Tự do- Bình đẳng- Bác ái”, những lý lẽ của 17 điều trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền...Tự nhiên được khơi dậy trong lòng người đọc lòng yêu dân, yêu nước, chống áp bức cường quyền, chống bất bình đẳng, tự do. Rồi như có một sức mạnh  vô hình đẩy mình phải làm một cái gì đó.
 
Cấu trúc bài dạy của thầy lại rất logic. Văn phong tiếng Pháp của thầy rất trong sáng, giản dị nên học sinh đọc là nhớ ngay.Thế là tôi đã học thầy Võ Nguyên Giáp mà không gặp Thầy. Thông qua trọn 2 giáo trình của Thầy do anh bạn quý mến cứ chuyển đến cho tôi hàng tuần là “Lịch sử cách mạng Pháp” và “Địa lý thế giới”. Tôi thi đậu Tú tài phần thứ nhất, vấn đáp trôi chảy và được xếp hạng khá.
 
Về phương pháp, thầy Võ Nguyên Giáp là một người dạy học có phương pháp rất nhuần nhuyễn và sáng tạo. “Đứng trước lớp, ông nhìn vào học trò và dõng dạc nói. Sự hấp dẫn của bài giảng bắt đầu từ việc nêu vấn đề và hường người học tập trung vào sự kiện, từ sự kiện rút ra bản chất và bài học lịch sử. Người luôn coi trọng tính khách quan của sự kiện lịch sử, đề cao phân tích nhân vật lịch sử để học sinh hiểu lịch sử, biết được thời đại mà họ đang sống”.
 
Với giọng sang sảng và say sưa, gần gũi và thân thiện với học trò, thầy Giáp đã đi vào ký ức của nhiều thế hệ học trò với tất cả hình ảnh đẹp về một người thầy đáng kính về nhân cách, uyên bác về kiến thức và giỏi về năng lực sư phạm. Bởi trên tất cả, đó là sự gắn bó của ông về nghề dạy học, lòng yêu Sử, quý trò.
 
Năm 1990, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời phỏng vấn nhà báo kiêm sử gia người Mỹ Stanley Karnow- póng viên báo New York Time, tác giả của cuốn sách “ Vietnam – a hystory”, ông đã nói : “Xin nhớ, tôi là vị tướng chiến đấu vì hòa bình. Nếu không trở thành người lính, có lẽ tôi vẫn là một thầy giáo, có thể triết hoặc lịch sử”.
 
2. Người viết sử uyên thâm.
2.1.Thời kỳ là một vị trướng Tổng Tư lệnh.
 
Trong quá trình lãnh đạo 2 cuộc kháng chiến trường chinh chống 2 kẻ thù thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có công rất lớn, góp phần xứng đáng vào việc hình thành một học thuyết quân sự độc đáo của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh – đường lối chiến tranh nhân dân. Học thuyết đó vừa kế thừa, phát triển bài học kinh nghiệm lịch sử chống ngoại xâm của cha ông ta : lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo; lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều. Trong mọi hoàn cảnh và tình huống khác nhau, Đại tướng luôn biết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, đặc biệt là “thế trận lòng dân”. Trong vai trò là một vị Tổng Tư lệnh quân đội mang cốt cách và tâm huyết của một nhà giáo dục, Đại tướng nhận định Việt Nam là một đất nước đất không rộng, người không đông, kinh tế còn nghèo nhưng không phải vì khát khao hòa bình mà giành chiến thắng bằng mọi giá. Đại tướng luôn đau với từng vết thương của mỗi người lính, tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh. Trong mỗi trận đánh, ông luôn tìm ra cách đánh vừa độc đáo, vừa sáng tạo, vừa đảm bảo thắng lợi cao nhất nhưng luôn hạn chế đến mức thấp nhất thương vong cho tướng sỹ của mình.
 
Tư duy lịch sử cùng phẩm chất của một nhà giáo dạy Sử đã tác động đến nhận thức chính trị và quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông cho rằng, luôn phải tôn trọng lịch sử, phải nhìn nhận đúng sự thật, xem xét mọi sự việc trên quan điểm lịch sử với sự vận động biện chứng của nó. Đại tướng khẳng định : bên cạnh chí khí của các bậc tiền bối, những bài học về cách đánh thắng giặc ngoại xâm của người đi trước đã đem lại những tri thức rất bổ ích cho những cuộc chiến đấu ở thế kỷ XX.
 
2.2.Một nhà khoa học quân sự sau chiến tranh.
 
Sau khi giã từ các chức vụ trong quân đội và chính quyền, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở về đời thường giành rất nhiều thời gian, tâm lực và trí lực để tham gia nhiều công tác tổng kết chiến tranh, chủ biên cả một đề tài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Rời hơn 30 năm binh nghiệp đầy gian khó và thử thách suốt 2 cuộc kháng chiến trường chinh, ông vẫn không 1 ngày ngơi nghỉ khi tuổi đã cao, sức yếu nhưng vẫn rất minh mẫn, hối hả làm những công việc mà Ông cho là quan trọng nhất với Ông : Nhớ lại để mọi người cùng suy nghĩ. Ông đã “gỡ” cuốn băng ký ức  để giãi bày những hồi ức của mình về các sự kiện lịch sử, giai đoạn, thời kỳ lịch sử, các nhân vật lịch sử để đọng lại trong bộ nhớ của mình vào dòng chảy lịch sử của dân tộc, để đọng lại trong bộ nhớ của các thế hệ mai sau những tiềm thức lịch sử.
 
Là một giáo viên Sử phổ thông, khi nghiên cứu và giảng dạy về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, để hiểu hơn về Ông, tôi đã đọc một số cuốn hồi ức của Ông như : “Những chặng đường lịch sử” ( Nxb Chính trị quốc gia, 1994), “Chiến đấu trong vòng vây” (Nxb Quân đội nhân dân, 1995), “Đường tới Điện Biên phủ” ( Nxb Quân đội nhân dân, 1999), “Điện Biên phủ, điểm hẹn lịch sử” (Nxb Quân đội nhân dân, 2000), “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng” ( Nxb Chính trị quốc gia, 2000)...
 
Cởi bỏ quân phục, quân hàm của một quân nhân, với thường phục bình dị thì Ông giống một nhà giáo để gắn với lịch sử và sử học như là một “cái nghiệp”, là một duyên mà Ông đã kết, cái nợ mà Ông sẽ trả. Từ một thầy giáo dạy Sử trường tư thục Thăng Long nổi tiếng ở Hà Nội, Ông tham gia cách mạng, xông vào trận mạc rồi trở thành một vị tướng đánh giặc. Hết chiến tranh, ông lại trở về với công việc viết sử. Khác với nhiều sử gia, “Ông xứng đáng là người đã viết sử theo cả 2 nghĩa : làm nên lịch sử và chép lại lịch sử. Như vậy, Ông còn phải làm cái công việc : soi bóng mình trong lịch sử”.
 
Với phẩm chất của một nhà sử học cùng với vai trò là những chứng nhân của lịch sử, trong các tác phẩm hồi ký của mình, Ông đã giành nhiều thời gian, số lượng ký tự,lưu lượng bài viết về Hồ Chủ tịch, về những người đồng chí, đồng đội từ các cán bộ lãnh đạo cao cấp đến những chiến sỹ, đồng bào mà ông đã từng gặp trên đường đời cách mạng của mình.
 
Theo Ông, một sự nghiệp lớn chỉ có thể thành công nếu tất cả mọi người ở các cương vị, cấp bậc đều làm tròn phần việc của mình. Bởi vậy, Ông dặn, trong khi viết không nên quên bất cứ điều gì dù  là nhỏ, bất kỳ ai đã từng đóng góp vào sự nghiệp chung, nhất là những người hy sinh vì nghĩa lớn.
 
Ông thường nhắc các sử gia khi viết lịch sử chiến tranh thì phải nói lên được thất bại của đối phương, nhưng quan trọng hơn là phải nói về người chiến thắng và phân tích xem vì sao họ chiến thắng. Bài học lịch sử không chỉ là niềm tự hào chung mà phải là những bài học cụ thể, bởi vì như Lê Nin đã nói rằng “Cái đã đưa chúng ta đến thắng lợi trong chiến tranh sẽ đưa chúng ta đến thắng lợi trong hòa bình”.
 
2.3 . Khao khát chấn hưng giáo dục nước nhà.
 
Trong giai đoạn cuối đời, tuy tuổi đã cao, sức không còn khỏe nhưng trí tuệ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn cực kỳ minh mẫn và vẫn thường xuyên quantâm, dõi theo nền giáo dục nước nhà trong công cuộc đổi mới đất nước. Ông không hề ngần ngại phát biểu quan điểm thẳng thắn của mình trước yêu cầu chấn hưng nền giáo dục nước nhà. Trong bài viết “Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục đào tạo của nước nhà” (đăng trên báo “Sài Gòn giải phóng” ngày 10.9.2007), Đại tướng khẳng định : “ Nền giáo dục của chúng ta về cơ bản vẫn dựa trên mô hình cũ. Để đưa đất nước phát triển nhanh với chất lượng cao và bền vững, tiến kịp thời đại trong kỷ nguyên thông tin và tri thức, chúng ta phải tiến hành một cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để, có tính cách mạng nền giáo dục – đào tạo của nước nhà”.
 
Ông cho rằng, một nền giáo dục chúng ta cần xây dựng “đó phải là một nền giáo dục mở, hướng tới đối tượng là trung tâm người học, có trách nhiệm tạo điều kiện và môi trường cho mọi cá nhân người học được trang bị một nền học vấn vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa hiện đại về tri thức, khoa học và công nghệ”. “Nền giáo dục của kỷ nguyên thông tin là một nền giáo dục cho mọi người, tạo điều kiện để mọi người được học, giúp cho mọi người biết cách học, biết cách tự học, học tập liên tục, học suốt đời; là một nền giáo dục mở và liên thông, có khả năng hội nhập với nền giáo dục thế giới”. Đại tướng đã chỉ ra những vấn đề cơ bản và cấp bách cần thực hiện ngay, đó là :
 
1.Phải tổ chức lại và kiện toàn Hội đồng Giáo dục quốc gia cho ngang tầm nhiệm vụ. Hội đồng phải tập hợp được các nhà giáo dục và khoa học tâm huyết, những chuyên gia giỏi, am hiểu tình hình giáo dục trong nước và thế giới, có uy tín. Hội đồng làm nhiệm vụ tư vấn cho Trung ương, Quốc hội và Chính phủ trong việc hoạch định chính sách và chiến lượcphát triển giáo dục, đào tạo ở tầm vĩ mô.
 
2.Tổ chức nghiên cứu, rà soát hệ  thống chương trình giáo dục và sách giáo khoa. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, ổn định chương trình và thay đổi cách tổ chức biên soạn chương trình, sách giáo khoa một cách dân chủ, công khai, tránh độc quyền.
 
3. Nghiên cứu tổ chức hệ thống giáo dục quốc dân cho hợp lý, chấm dứt tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu cả thầy lẫn thợ ”, đảm bảo chất lượng đào tạo, phân luồng hợp lý sau phổ thông, phát triển hệ thống trường dạy nghề.
 
4. Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý có chất lượng, vừa có tâm, vừa có tầm, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
 
5. Cần tăng thích đáng đầu tư và quan trọng hơn, cần quản lý và sử dụng có hiệu quả ngân sách đầu tư cho giáo dục – đào tạo. Mức đầu tư phải tạo cho giáo dục- đào tạo đi trước, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
 
Những tư tưởng cốt lõi của Đại tướng trong bài viết quan trọng này đã thực sự nhắm trúng những “điểm huyệt” của ngành giáo dục- đào tạo hiện nay. Với tư duy nhạy bén, tầm nhìn thực tiễn và sáng suốt, ông đã chỉ ra con đường và biện pháp giải quyết những vấn đề bất cập của  giáo dục- đào tạo, chấn hưng giáo dục nước nhà. Điều đáng để chúng ta phải suy nghĩ là, bài báo này của ông ra đời trước Nghị quyết 29 của BCH Trung ương về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục-đào tạo” đúng 6 năm và tư tưởng của ông đã được TƯ Đảng khẳng định lại trong Nghị quyết này đã nói lên trí tuệ và tâm huyết của một vịtướng, 1 nhà giáo đã cống hiến tròn đời mình cho dân tộc.
 
KẾT LUẬN
 
Trong cuộc đời của tôi có may mắn được 2 lần gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và trong 2 cơ duyên hiếm đó, may mắn được 1 lần chụp chung với Đại tướng 1 tấm ảnh mà tôi vẫn lưu giữ đến bây giờ. Lần thứ nhất khi tôi đang là cậu học sinh lớp 10 của Trường THPT Nghi Lộc 1 và lần thứ 2- khi tôi đang là sinh viên khoa Lịch sử- Trường Đại học sư phạm Vinh.Đây chính là căn nguyên tôi đam mê Sử từ thuở học sinh , là lý do chính cho tôi lựa chọn học Sử, dạy Sử và trọn đời vì Sử.
 
Khi dạy Sử và nghiên cứu lịch sử, tìm hiểu về cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp càng là cơ hội giúp ích tôi trong việc giảng dạy môn Lịch sử được tốt hơn. Trong bối cảnh ngành giáo dục và đào tạo hiện nay đang đổi mới căn bản và toàn diện, thì việc đổi mới cách dạy sử và viết sử như thế nào cho bộ môn khoa học này trở nên hấp dẫn hơn, khách quan hơn là nhiệm vụ cần thiết của mỗi giáo viên dạy Sử.
 
Từ việc nghiên cứu cách dạy Sử, viết Sử của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quan điểm của tôi cho rằng có 3 điều cốt lõi cho 1 giáo viên Sử: Thứ nhất, dạy Sử ( học Sử) để làm gì ? ( Mục đich dạy, học). Thứ hai, dạy( học) cái gì ( nội dung, kiến thức). Thứ ba, dạy (học)như thế nào ( kỹ năng, phương phương pháp dạy, học). Năm 2018, tròn 5 năm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người Chủ tịch danh dự Hội khoa học lịch sử Việt Nam, một người thầy dạy Sử đáng kính đã giã từ chúng ta. Thời gian lịch sử càng lùi xa, nhưng cống hiến lớn lao của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với lịch sử dân tộc với vị trí, vai trò là Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, với giới lịch sử quân sự  nói riêng là vô cùng to lớn.
 
Con người là chủ thể làm nên lịch sử, nhưng chính lịch sử lại góp phần tạo ra những cá nhân anh hùng. Với cốt cách, tư duy, tầm nhìn chiến lược và những tâm huyết đối với sự nghiệp trồng người của đất nước thì chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được câu nói nổi tiếng của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp : “ Nếu không có chiến tranh, tôi sẽ là thầy giáo, một thầy giáo dạy Sử...”
--------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1.Cecil B. Currey, Võ Nguyên Giáp- Chiến thắng bằng mọi giá, Nxb Thế giới mới,H.2013.
2.Trần Trọng Trung, Võ Nguyên Giáp – Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, Nxb Thế giới,H. 2010.
3. Võ Nguyên Giáp, Điện Biên phủ - Điểm hẹn lịch sử, Nxb QDND, H.2000.
4. Phạm Hồng Cư, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ, Nxb. Thanh niên, 2004.
5. Dương Trung Quốc,  Cất cánh từ Điện Biên phủ,.Tạp chí  Xưa và Nay-1999, số 63, Tr.6-6)
6. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay (2010), Đại tướng Tưlệnh Võ Nguyên Giáp với Sử học Việt Nam, Nxb CTQG Hà Nội.
7. Võ Nguyên Giáp (1986), Mấy vấn đề về khoa học và giáo dục, Nxb Sự thật, Hà Nội.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}