Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và văn hoá quân sự "Bóc múi bưởi", thực tế đã có một trận Điện Biên Phủ vào năm 1975

Phan Trần Việt Dũng | Thứ Hai, 14/01/2019 16:19 GMT +7
(Vanhien.vn) Trân trọng giới thiệu bài  tham luận của Phạm Trần Việt Dũng "Đại tướng Võ Nguyên Giáp và văn hoá quân sự "Bóc múi bưởi", thực tế đã có một trận Điện Biên Phủ vào năm 1975" tại Hội thảo "Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn hoá dân tộc" do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tạp chí Văn hiến Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 21/12/2018 nhân kỷ niệm  74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1994 - 22/12/2018) và 5 năm ngày mất của Đại tướng. 
 
 
“Nếu không có chiến tranh, tôi đã là một thầy giáo”. Câu nói ngày ấy của tướng Giáp cũng như lời bài hát “Dù rằng đời ta thích hoa hồng/Kẻ thù buộc ta ôm cây súng” của nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền vậy. Câu nói, câu hát như gói gọn tất cả về nhân bản và đặc sắc của tướng Giáp. Đại tướng vốn không được đào tạo chính quy về quân sự. Nhưng lại sở hữu những triết lý quân sự của một thiên tài nhạy bén trong chiến trận. 
 
1. Từ trận Điện Biên Phủ năm 1954
 
Điều đầu tiên khi bàn về quân sự, chắc chắn không thể không nói về địa hình, địa thế của vùng đất chiến trận. Tại sao Điện Biên Phủ - một thung lũng ở vùng thượng du phía Tây Bắc, lại được lựa chọn cho trận đánh cuối cùng này? Điện Biên Phủ, chứ không phải Hà Nội, Hải Phòng, hay Bắc Ninh? Ở đây, ta cần lưu ý về vị trí địa lý của Điện Biên Phủ. Sát ngay biên giới Việt Lào, có chung biên giới với Trung Quốc. Điện Biên Phủ nằm cách biên giới các nước Miến Điện, Thái Lan cũng chỉ từ 150 đến 300km. Đây là một vị trí được gọi là “nút cổ chai” của vùng Tây Bắc, một “bàn xoay” tại biên giới. Cánh đồng Mường Thanh là cánh đồng rộng lớn bậc nhất, vào cuối thế kỷ 18, nhà bác học Lê Quý Đôn đã miêu tả khá tỉ mỉ về cánh đồng trù phú này trong tài liệu sử học của mình: "…thế núi vòng quanh, ruộng đất bằng phẳng, công việc làm ruộng bằng nửa các châu khác mà số hoa lợi thu hoạch gấp đôi...". Ở giữa lòng chảo Điện Biên Phủ là con sông Nậm Rốn, và nhìn tổng thể thì Điện Biên Phủ cũng thuộc hệ thống sông Đà và Sông Mã đi ngang. Đã nhắc đến sông, thì phải có núi, Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn có núi bao bọc trùng điệp xung quanh giống một bức tường thành. Ở giữa là cánh đồng Mường Thanh dài 25km và rộng từ 5-6km. Có núi bao bọc, có sông cuộn quanh, có một lòng chảo rộng lớn, và một sân bay đã được xây từng từ năm 1939. Có thể nói, đúng như Navarre nhận xét thì “Một địa bàn lý tưởng để xây dựng một căn cứ không quân, lục quân hiện đại lớn vào bậc nhất Đông Dương".  Tuy nhiên, bên cạnh địa thế, thì Điện Biên Phủ còn đóng một vai trò đắc địa nữa, khi đây còn là điểm để bảo vệ những cánh đồng hoa anh túc của Pháp, là vị trí “bóng tối” của nhiều sĩ quan Pháp kiếm tiền ở Đông Dương. Điện Biên Phủ đã được lựa chọn chính bởi lý do từ kinh tế đến quân sự như thế. Tuy nhiên, bên cạnh điểm vượt trội ở trên, không thể không thấy được điểm hạn chế trong việc xây dựng cứ điểm “con nhím” này ở lòng chảo Điện Biên, đó là nằm “dưới thấp”, và đây chính là một điều tối kỵ trong binh pháp. Nếu như đối thủ lấy được vị trí trên cao, và “xẻ nách” đưa pháo vào lấy các đồi cao xung quanh và đánh xuống thì cứ điểm này không thể chống nổi. Vậy tại sao một vị tướng giỏi như Navarre lại vẫn tin rằng đó là “pháo đài bất khả xâm phạm”? Xuất thân từ một tay trùm về tình báo Pháp, Navarre được miêu tả như một con người tinh tế, cứng rắn, và sâu sắc khó đoán. Tạo dựng sự nghiệp bằng những hoạt động tình báo, Navarre cũng tin vào các báo cáo của mình: Việt Minh không đủ sức đưa được pháo lên các triền núi này. Điều kiện cực kỳ khó khăn của đường núi Tây Bắc, nên việc sử dụng sức lao động thủ để đưa pháo vào trận địa và vận chuyển cơ giới qua vùng Tây Bắc hiểm trở, là điều bất khả thi. Hoặc có vận chuyển được thì cũng không đưa được số pháo cần thiết để đánh bại cứ điểm này. Ngoài ra, Navarre có một điểm tựa trong quá khứ là “Tập đoàn cứ điểm Nà Sản”. Trước đó, đội quân Việt Minh đã thất bại trong việc chinh phục cứ điểm này. Do đó, không lý do gì Việt Minh có khả năng đánh bại được cứ điểm Điện Biên Phủ với quy mô gấp 20 lần Nà Sản. Nhưng Navarre đã không thể biết rằng, đối thủ của ông ta là một thiên tài quân sự. Người sau này sẽ được ghi nhận về nghệ thuật quân sự Chiến tranh nhân dân. Và nói như Tướng Peter Mac Donald, nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh, đánh giá: “Từ năm 1944-1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại. Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”.
 
Như đã nói ở phần trên của tham luận, phương án kéo pháo lên là có rồi, cách tấn công bằng việc bao vây lấy cứ điểm từ trên núi cao cũng đã có rồi. Vấn đề ở chỗ sẽ tấn công như thế nào, và tấn công ra làm sao? Với lực lượng lên tới 55.000 người của Việt Minh, tức là gấp 3,5 lần quân Pháp tại thời kỳ cao điểm lên tới khoảng 16.000 người. Thượng tướng Vi Quốc Thanh, trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đã quyết định dùng chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”. Sử dụng chiến thuật biển người, ào lên mặt trận, tấn công dồn dập, quyết san bằng cứ điểm. Những gì mà tướng Vi Quốc Thanh lựa chọn là theo đúng Bình Pháp Tôn tử mà người Trung Quốc ưa chuộng, đó là: “Phương pháp dùng binh, có binh lực gấp 10 lần địch thì bao vây, gấp 5 lần địch thì tiến công, gấp hai lần địch thì chia cắt, binh lực ngang nhau thì phải biết đánh, binh lực ít hơn thì phải biết lánh, binh lực yếu hơn thì phải biết tránh cho xa”. Có thể tưởng tượng chiến thuật này giống như chiến thuật phá đồn mà người Trung Quốc từng dùng trong các trận chiến của họ, với từng lớp từng lớp người ào lên thành. Thực tế Vi Quốc Thanh dự kiến chúng ta sẽ mất 5 đến 8 vạn quân “trải thảm”. Võ Nguyên Giáp không chấp nhận điều này. Trước khi là một tướng lĩnh quân sự, ông là một giáo viên dạy sử, ông mang một cái lòng nhân cơ bản của một người Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp không muốn đồng bào chết quá nhiều trong trận đánh này. Sau này Tướng Lê Trọng Tấn từng bảo “Nếu không có sự thay đổi của tướng Giáp, chúng tôi đã không có mặt ở chiến tranh chống Mỹ.” Tướng Giáp rất yêu thương quân sỹ. Có một chuyện ở cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong rừng Trường Sơn, những người lính nghe được một tin đồn là tướng Giáp đã bị bom Mỹ giết. Thế là, cả binh đoàn bật khóc. Những người chỉ huy nghe tin, vội đến để trấn an tinh thần binh sĩ, rằng đó chỉ là tin đồn nhảm. Chuyện sau này được kể lại với tướng Giáp theo cách của một câu chuyện cười. Nhưng tướng Giáp lại không cười. Ông rưng rưng, và hỏi lại “Anh em phản ứng như thế thật à?” Câu nói chân phương ấy đã toát lên cái tính cách đã làm nên con người của tướng Giáp từ những ngày đầu: rất thương yêu binh sĩ. Tình yêu ấy là động lực lớn nhất cho ông thực hiện quyết định khó khăn nhất đời mình. Chuyển từ “Đánh nhanh thắng nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc”. Ngày phương án đó được đưa ra, pháo đã kéo lên trận địa, và nên nhớ rằng khi kéo pháo xuống lại còn khó hơn vạn lần kéo lên. Có những câu chuyện bi hùng và đau thương được sinh ra trong những lần đưa pháo xuống. Đồng chí Mận, pháo thủ đại đội 801 bị pháo đè lên đùi, anh em kéo ra để cứu mà mãi không kéo được. Anh bảo “Chân tôi đằng nào cũng hỏng, đề nghị cứ cho pháo chạy qua để đưa kịp pháo vào trận địa.” Câu nói ấy khiến nhiều anh em trào nước mắt. Việc kéo được pháo lên trận địa cũng là một chiến thắng trước Navarre. Thiếu tướng Phạm Ngọc Mậu, người chỉ huy của chiến dịch kéo pháo lên núi đã kể rất nhiều câu chuyện bi thương và anh hùng trong những ngày đó. Bởi vì lên bao vây một cứ điểm, nên phải bí mật, do đó phải kéo pháo bằng sức người, chứ ko phải bằng cơ giới gây tiếng động. Vậy là cứ hơn trăm người lại vây lấy 1 khẩu pháo, dùng sức người nhích dần từng khẩu pháo, ngụy trang cả người lẫn pháo bằng lá rừng. “Chiến tranh nhân dân” thể hiện ở việc tập hợp được trí tuệ toàn dân qua những bí quyết đi rừng của người dân. Bộ đội ta đã biết sử dụng kinh nghiệm dân gian trong việc kéo gỗ, đi rừng để dùng cho việc kéo pháo. Những người lính đưa ra các kinh nghiệm như dây kéo pháo phải bện bằng dây mùng, kéo thì kéo qua vai như kéo gỗ chứ đừng dùng tay để đỡ mệt mà không bị phỏng tay, đồng thời nên đẽo thêm lưỡi cày trượt bên dưới càng pháo để cho đỡ mệt mà khỏi nguy hiểm (Cụm từ “Pháo đi guốc” được sinh ra từ đây). Navarre không bao giờ ngờ được những vấn đề “trí tuệ toàn dân” này.
 
“Đánh chắc tiến chắc” được xem là kế hoạch thiên tài, nhưng đó chỉ là khẩu hiệu. Bản chất của nó chính là văn hóa quân sự “Bóc múi bưởi.” Hãy tưởng tượng Điện Biện Phủ như một quả bưởi. Tướng Vi Quốc Thanh muốn dùng cả một nắm đấm để bóc bưởi. Bưởi nát nhưng tay cũng nhoe nhoét, và ăn vào cũng chẳng được. Còn tướng Võ Nguyên Giáp bóc bưởi từ từ, ông bóc từ vỏ, sau đó tách ra từng múi, từng múi, cho đến khi quả bưởi đó chẳng còn gì. Pháo được kéo ra khỏi trận địa, rồi sau đó, bao vây dần dần, mỗi ngày tấn công một ít. Chiến dịch trong tay tướng Giáp được phân ra 3 đợt, kéo dài 55 ngày đêm từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954. Ban đầu là tấn công đồi Him Lam, đến Độc Lập, cho sơn pháo bắn thẳng xuống cứ điểm, cao pháo bảo vệ cho sơn pháo trước các máy bay ném bom. Sau khi bóc được lớp vỏ thứ nhất, thì bóc tiếp lớp vỏ thứ hai bằng những cuộc tấn công khống chế cánh đồng Mường Thanh khiến cứ điểm thu hẹp lại. Cùng với đó tiếp tục những trận pháo tấn công vào đồi A1, đồi C1 và đồi D1. Bây giờ, khoảng cách giữa ta và địch đã siết chặt lắm rồi. Bộ đội ta tiếp tục đi vào trong lòng quả bưởi để tách ra từng múi, những tiếng đào hầm đêm ngày như tiếng chuông nguyện hồn quân Pháp. Cả một hệ thống giao thông hào dần dần siết chặt, tiếp cận các vị trí đầu não của Pháp. Trong đó, chiến thắng quan trọng nhất là cô lập được sân bay Điện Biên Phủ, khiến mọi tiếp tế không quân của Pháp và Mỹ hầu như bị rã đám. Cuối cùng là đợt 3, bắt đầu từ ngày 1 tháng 5, khi quân đội nhân dân Việt Nam dùng toàn lực tấn công vào cứ điểm A1, tướng de Castries bị bắt sống. Đấy chính là toàn cảnh của chiến lược “đánh chắc, tiến chắc”.
 
Navarre nghỉ hưu năm 1956. Trong năm đó ông ta cho xuất bản cuốn “Agonie de l'Indochine”, một tác phẩm phân tích nguyên nhân thất bại của Pháp tại Đông Dương. Qua đó ta sẽ thấy được văn hóa quân sự sáng suốt của tướng Giáp qua lăng kính của kẻ thù. Trong hồi ký của mình, Navarre viết: "Nếu tướng Giáp tiến công vào khoảng 25 tháng 1 như ý đồ ban đầu thì chắc chắn ông ta sẽ thất bại. Nhưng không may cho chúng ta, ông ta đã nhận ra điều đó và đây là một trong những lý do khiến ông ta tạm ngưng tiến công."
 
2. Đến trận Điện Biên Phủ năm 1975
 
Năm 1973, hiệp định Paris được ký kết để chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Qua đó, Mỹ sẽ rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Tổng thống miền Nam Việt Nam là Nguyễn Văn Thiệu rất tức giận, bởi ông biết rằng cố vấn Lê Đức Thọ đã thắng ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger trong cuộc thương lượng này, khi lấy về được 4 chữ “ngừng bắn tại chỗ”. Bởi thời điểm đó, quân đội miền Bắc lúc đó đã nằm yên tại miền Nam. Nguyễn Văn Thiệu vừa lo lắng vừa tức giận, vì điều đó có nghĩa Mỹ đã bỏ rơi miền Nam và gián tiếp cho phép quân đội miền Bắc được ở lại miền Nam. Để động viên đồng minh, tổng thống Mỹ Richard Nixon hứa nếu có bất kỳ sự tấn công nào từ phía Bắc Việt, thì B52 lập tức được điều động. Nhưng rồi, giống như số phận đã chết, vụ bê bối Watergate đã khiến Nixon từ chức. Gerald Ford lên thay và đảm bảo “những cam kết với Nam Việt Nam vẫn được đảm bảo”. Nhưng rất ít người tin điều này, bởi Đảng Dân Chủ đã thắng thêm 40 ghế. Những ngày nóng bỏng đó, một vị tướng tình báo đã lặng lẽ theo dõi những diễn biến trên, và đều đặn gửi báo cáo ra Hà Nội. “Điệp viên hoàn hảo” Phạm Xuân Ẩn chính là người đó. Ông tướng Givral” (biệt danh của Phạm Xuân Ẩn) không chỉ là một nhà tình báo thông tin, mà còn là một nhà tình báo phân tích chiến lược. Mang trong mình một bộ óc sắc sảo và đôi mắt cú vọ, bằng các mối quan hệ và sự thông minh của mình. Phạm Xuân Ẩn không chỉ báo cáo thông tin một cách bình thường, ông còn thực hiện việc phân tích nó, tổng hợp xâu chuỗi logic các sự kiện và cho ra kết luận cuối cùng để Bộ chính trị miền Bắc quyết định sách lược. Nếu người khác thấy Mỹ thực hiện một hành động, thì sẽ báo cáo “Mỹ hành động”. Nhưng Phạm Xuân Ẩn sẽ phân tích hành động đó và viết “Mỹ dự định”. Đó là điều cần lưu ý về sự xuất sắc của tướng Ẩn. Thời điểm Đảng Cộng Hòa mất đa số ghế ở Hạ Viện và Thượng Viên. Một báo cáo được gửi về trung ương cục do Phạm Xuân Ẩn ký tên: “Mỹ sẽ không còn quay lại miền Nam Việt Nam nữa”. Bộ chính trị - vốn trước giờ đã mặc định X6 (mật danh của Phạm Xuân Ẩn) là người xuất sắc nhất mà họ có tại miền Nam, cũng rất dè dặt trước 11 chữ đó. Miền Bắc quyết định thử nghiệm nhận định của Phạm Xuân Ẩn. Cách Sài Gòn 120km là tỉnh Phước Long. Trần Văn Trà – vị tướng mang gươm báu về Nam nhận quyết định tấn công Phước Long. Ngày 13 tháng 12 năm 1974, Phước Long thất thủ. Miền Bắc ăn mừng trong sự chờ đợi hồi hộp. Bởi lẽ việc Sài Gòn không cứu được Phước Long, còn Phước Long thất thủ quá dễ dàng đã chứng minh quân đội Sài Gòn đã suy yếu rất nghiêm trọng sau năm 1973. Nhưng quan trọng là Mỹ có can thiệp hay không? Sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ tại Okinawa được báo động. Miền Bắc Việt Nam chờ đợi. Nhưng không có hành động nào xảy ra. Và Đại tướng Võ Nguyên Giáp biết Phạm Xuân Ẩn đã đúng. Ông quyết định mở chiến dịch tổng tấn công mùa xuân 1975. 
 
Cũng như Điện Biên Phủ, phương án đã có, nhưng tấn công như thế nào, đó mới là điều để bàn. Bởi lẽ trước đó, các cuộc tấn công vào các năm 1968 và 1972 đều mang đến những kết cục không như ý muốn. Tướng Giáp đã tiến hành một trận “Điện Biên Phủ” của năm 1975 trên một hình thái khác, nhưng vẫn thực hiện rất đúng văn hóa quân sự của ông, đó là “Bóc múi bưởi.” Đại tướng đưa ra chiến lược: để giải phóng Sài Gòn, cần tấn công Tây Nguyên, để lấy được Tây Nguyên, thì phát súng đầu tiên phải là ở Buôn Ma Thuột. Chúng ta sẽ thấy sự tương đồng với Điện Biên Phủ 1954 ở đây: trên bản đồ địa hình Việt Nam, khu vực Sài Gòn và Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở dưới thấp, vùng trũng, các điểm ngập mặn. Cũng như cứ điểm Điện Biên Phủ nằm trong lòng chảo của cánh đồng Mường Thanh. Trong khi Tây Nguyên là vị trí đồi núi ở trên cao. Cũng núi, cũng đồi, cũng nằm trên cao. Tây Nguyên lại giống như những dải núi xung quanh Điện Biên Phủ mà tướng Giáp đã kéo pháo lên năm nào. Mùa xuân 1975 có thể coi là một chiến lược Điện Biên Phủ mới ở quy mô cao hơn rất nhiều lần. Khi tướng Giáp đề ra sách lược này, ông cũng xác định là bóc múi bưởi từ từ với kế hoạch giải phóng miền Nam vào … năm 1976. “Đánh chắc, tiến chắc” chính là ở chỗ đó. Nắm được Buôn Ma Thuột, ta sẽ có được Tây Nguyên. Có được Tây Nguyên là nắm được yết hầu của miền Nam Việt Nam. Từ Tây Nguyên, đánh ập xuống Huế và Đà Nẵng rất dễ. Và từ Tây Nguyên hoàn toàn có thể từ trên đưa quân xuống Sài Gòn, bao vây rất nhanh. 
 
Mọi thứ đúng như dự tính, ngày 11 tháng 3 năm 1975, quân đội nhân dân Việt Nam đánh chiếm được Buôn Ma Thuột. Ngày 14 tháng 3 năm 1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Quân đoàn II của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa triệt thoái khỏi Tây Nguyên. “Binh bại như núi lở”, quân giải phóng nắm được Tây Nguyên, tướng Giáp hạ lệnh cho cánh tay phải của mình là tướng Lê Trọng Tấn phải giải phóng Huế và Đà Nẵng chỉ trong 3 ngày. Tướng Tấn “Xin cho 5 ngày”, tướng Giáp đáp “3 ngày là 3 ngày, không có 5 ngày”. Tướng Tấn đành chịu “3 ngày”. Và 3 ngày sau, ông giải phóng Huế - Đà Nẵng. Một sự kết hợp hoàn hảo giữa tướng chiến lược số 1 trong chiến tranh Việt Nam và tướng đánh trận thuộc diện hàng đầu trong lịch sử dân tộc. Khi có được Tây Nguyên, có được Huế - Đà Nẵng, tướng Giáp tiến hành bước tiếp theo của văn hóa quân sự “bóc múi bưởi” là đưa quân xuống Sài Gòn, như ngày xưa những làn đạn pháo cuối cùng là dành cho đồi A1. Đồng thời, đại tướng đã ra một bức điện lịch sử, làm nức lòng cả chiến trường, một bức điện thể hiện tài năng nhìn xa trông rộng khi phát hiện Việt Nam Cộng Hòa giờ như những con cờ domino đổ sụp. Đó còn là một lời động viên, xốc dậy tinh thần vào thời điểm quan trọng bậc nhất. Chúng mang ý nghĩa rất lớn, giống như một liều doping truyền sức mạnh lên quân sĩ. Bức điện có nội dung “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!". Ổ, phải chăng ở đây ta lại nhận ra, đây chính là “Đánh nhanh thắng nhanh”. 
 
30/04/1975, đất nước Việt Nam liền một mối có phần đống góp bằng thiên tài quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
 
3. Lời kết
 
Là giáo viên dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội. Lịch sử đã cho Võ Nguyên Giáp một tinh thần yêu nước theo chân các bậc tiền nhân. Đại tướng cho rằng, sự gặp nhau giữa quân sự và sử học là phải tôn trọng lịch sử, dù cho là sự thật cay đắng, đau xót, phải xem xét sự vận động biện chứng của nó. Học sinh của ông mô tả rằng: ông có thể vẽ lên bảng đen sơ đồ từng trận đánh của Napoléon, ông sôi nổi kể về Công xã Paris, về cái chết của những nhà Cách mạng như Danton và Robespierre, "ông không chỉ là nhà sử học đơn thuần, ông còn là một trạng sư say mê, luôn bênh vực tính chính nghĩa của lịch sử". Không ai đào tạo tướng Giáp, ngài là đại tướng của nhân dân, của lịch sử, và của tình yêu dân tộc. Và nếu Điện Biên Phủ được ví như những Chi Lăng, Đống Đa, Bạch Đằng thì Võ Nguyên Giáp cũng như những Lê Lợi, Quang Trung, Trần Hưng Đạo. Chúng ta đôi khi không hiểu những gì vừa đi qua của dân tộc Việt Nam những ngày tháng 10 năm 2013, ngày đại tướng nằm xuống. Những phù phiếm của báo chí, của mạng xã hội hôm nay dù cưỡng cầu vẫn không thay đổi được điều đó. Khi nước Pháp đứng im tưởng niệm cho đại tướng. Rằng đôi khi ta phải giật mình nhìn lại, hóa ra một chứng nhân lịch sử của dân tộc đã rời đi. Những gì còn lại chỉ là tro bụi của lịch sử, cùng một trong những cái tên vọng mãi ngàn năm.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}