Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với đồng bào các dân tộc Cao Bằng (1941 - 1945)

Đinh Ngọc Viện - Triệu Thu Trang (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cao Bằng). | Thứ Bảy, 19/01/2019 10:45 GMT +7

(Vanhien.vn) Trân trọng giới thiệu bài  tham luận của Đinh Ngọc Viện - Triệu Thu Trang (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cao Bằng) "Đại tướng Võ Nguyên Giáp với đồng bào các dân tộc Cao Bằng (1941 - 1945)" do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tạp chí Văn hiến Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 21/12/2018 nhân kỷ niệm  74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1994 - 22/12/2018) và 5 năm ngày mất của Đại tướng.  

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng).

Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, những hoạt động của Đại tướng gắn liền với nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có Cao Bằng, đặc biệt là lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.


 Ngay từ trước khi về nước, Võ Nguyên Giáp đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao cùng các cộng sự mở một lớp huấn luyện cán bộ. Đó là, vào đầu tháng giêng năm 1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang chuẩn bị mọi điều kiện để về nước, được biết lúc đó hơn 40 cán bộ, đảng viên người Cao Bằng đang hoạt động ở Tĩnh Tây, Người đã cử các đồng chí Trịnh Đông Hải (tức Vũ Anh), Dương Hoài Nam (tức Võ Nguyên Giáp) và Cao Hồng Lĩnh nắm tình hình và bắt liên lạc với số cán bộ Cao Bằng. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhận thấy đây là những “hạt giống” cho phong trào cách mạng, Người quyết định mở lớp bồi dưỡng rồi đưa toàn bộ số cán bộ này về nước hoạt động. Người nói: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó đưa anh em về nước và mở rộng phong trào Cao Bằng và tổ chức đường dây liên lạc về nước”. Thực hiện chủ trương đó, trước khi về nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã dừng chân tại hai làng Nặm Quang và Ngàm Tảy (Tĩnh Tây, Trung Quốc) mở lớp huấn luyện, đào tạo cấp tốc cho hơn 40 cán bộ Cao Bằng. Nội dung huấn luyện gồm: Tình hình thế giới và trong nước, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, chương trình Điều lệ Việt Minh, cách thức tổ chức Hội cứu quốc trong mặt trận Việt Minh, các bước công tác cụ thể điều tra tuyên truyền tổ chức huấn luyện và đấu tranh. Bồi dưỡng, giúp cán bộ nắm được tình hình nhiệm vụ cách mạng, phương pháp hoạt động, cách thức gây dựng phong trào trong giai đoạn mới. 


Đây là lớp bồi dưỡng cán bộ đầu tiên cho phong trào cách mạng Cao Bằng được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo bồi dưỡng. “Các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, biên soạn chương trình và trực tiếp giảng dạy”. Chương trình gồm ba mục lớn. 


- Tình hình thế giới và trong nước. 
- Tổ chức các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh. 
- Cách điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và đấu tranh cách mạng.

  
Các bài giảng đều được Bác duyệt rất kỹ, sau một bài lại rút kinh nghiệm ngay cho bài sau. Buổi nào Bác cũng dự, nghe giảng với học viên hoặc nghe thảo luận rồi Bác hỏi học viên có hiểu không để cải tiến phương pháp dạy và học cho thiết thực. Qua đó Bác hiểu rõ được trình độ tiếp thu của mỗi người.


Đặc biệt Bác rất chú ý quan tâm rèn luyện cho cán bộ có đức độ và tác phong công tác tốt. Căn cứ vào tình hình học tập, sinh hoạt của học viên, ngày nào Bác cũng nhắc nhở, căn dặn học viên kỹ lưỡng nghiêm khắc giữ đúng năm điều nên làm và năm điều nên tránh, tìm hiểu và tôn trọng phong tục tập quán địa phương.
Năm điều nên làm đó là:


- Giúp dân những công việc thiết thực hành ngày.
- Tìm hiểu phong tục tập quán, nghiêm túc chấp hành điều kiêng.
- Học tiếng địa phương, dạy hát, dạy chữ, gây cảm tình tốt với dân.
- Từng nơi, từng lúc mà tuyên truyền cách mạng cho thích hợp.
- Làm cho dân thấy mình là người đứng đắn, chăm lo công việc, trong kỷ luật  do đó dân càng tin và giúp ta.


Năm điều nên tránh là:


- Tránh việc gì làm thiệt hại đến dân, làm bẩn, làm hỏng nhà cưa ruộng vườn của dân.
- Tránh năn nỉ hoặc mượn thứ gì cho kỳ được.
- Tránh sai lời hứa.
- Tránh vi phạm phong tục tập quán, tín ngưỡng của dân.
- Tránh lộ bí mật.


Thực hiện tốt và đầy đủ những điều Bác dạy, lớp cán bộ ngày đó thực sự đã góp phần gây dựng các cơ sở cách mạng ở nhiều địa phương, được nhân dân tin yêu.


Giữa năm 1941, sau một năm hoạt động tại nước ngoài (Trung Quốc), Võ Nguyên Giáp được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho về nước vì “phong trào trong nước đang cần sự có mặt của chú”, cộng sự với Người để lãnh đạo phong trào cách mạng. Đại tướng bồi hồi xúc động nhớ lại những cảm nghĩ không quên trong tâm khảm, khi đặt bước chân đầu tiên vào đất Cao Bằng: “Thấm thoát đã một năm trời xa Tổ quốc, đặt chân lên mảnh đất quê hương, lòng chẳng khỏi bồi hồi. Mỗi bước đi trong người ấm áp hơn lên. Chỉ vừa đi mấy bước chân mà trước đó thì thấy như còn ở rất xa, lúc này lại thấy như đã ở gần nhà”. Về nước được một thời gian thì Võ Nguyên Giáp được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ. 


Để góp phần tuyên truyền cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định ra ra một tờ báo để động viên, cổ vũ phong trào và “giao cho ông Giáp chăm lo giúp việc này”. Tên tờ báo hướng theo mục tiên chính trị của Đảng, của Mặt trận Việt Minh, tên báo là Việt Nam độc lập. gọi tắt là Việt Lập “Vì khuôn khổ tờ báo nhỏ, chữ theo chỉ thị của Bác lại phải viết to để đồng bào đọc dễ dàng, nên bài viết phải rất ngắn”, Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Tôi ở Tĩnh Tây về, Bác phân công viết một bài về phong trào phụ nữ cho báo Việt lập, Bác nói: Chú viết đúng một trăm chữ, viết hơn thì không có chỗ đăng đâu,… Về sau có dịp đi công tác tại các địa phương, tôi mới thấy hết tác dụng rất to lớn của tờ báo, đồng bào ở khắp nơi đều rất hoan nghênh báo Việt Lập”.


 Sau một thời gian làm việc với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Pác Bó, Võ Nguyên Giáp được Người giao nhiệm vụ về châu Hòa An để mở các lớp huấn luyện. Võ Nguyên Giáp cải trang thành một người dân địa phương với bộ quần áo chàm, chiếc mũ nồi dạ và một chiếc túi dết bằng vải chàm đeo sau lưng, trong giống một thầy giáo người dân tộc vùng cao, đến với đồng bào các dân tộc. Trong túi, ngoài những tài liệu của lớp huấn luyện tại biên giới, lúc này đã được in thành  tập với tên là Con đường giải phóng, còn có tập Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dịch, để làm tài liệu huấn luyện, tuyên truyền.


Lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên do Võ Nguyên Giáp tổ chức được mở tại một hang đá thuộc vùng căn cứ Lam Sơn (nay thuộc xã Hồng Việt, huyện Hòa An). “Các đồng chí ở địa phương đã chọn một hang đá rộng rãi, quang đãng làm địa điểm lớp học. Chừng mười đồng chí nam, nữ được lựa chọn đi học… Nội dung huấn luyện gồm có: Tình hình thế giới, tình hình trong nước, tại sao phải đánh Tây, đuổi Nhật, rồi đến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, cách tổ chức hội cứu quốc, các đội tự vệ, năm bước công tác bí mật; lại học cả cách khai hội, cách phát biểu ý kiến”, tức được đào tạo từ những nấc bước rất “vỡ lòng” để làm cách mạng; Tiếp theo, anh chị em tiếp tục được tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng… Sau một thời gian hoạt động tại vùng núi Lam Sơn, Võ Nguyên Giáp lại được giao nhiệm vụ về vùng đồng Hòa An để mở các lớp huấn luyện cán bộ, “Tôi chuyển sang một tổng khác thuộc vùng cánh đồng của châu Hòa An. Phong trào vùng này rất mạnh. Nơi tôi công tác và những tổng ở chung quanh đều là tổng “hoàn toàn”. Lớp học học mở ngay tại giữa làng” và ở gần Nước Hai là châu lỵ của Hòa An, không xa tỉnh lỵ bao nhiêu, nhưng Võ Nguyên Giáp và các cộng sự của ông đã tổ chức liên tiếp mấy lớp không gặp trở ngại gì. Sau những lớp huấn luyện cán bộ đó, đội ngũ cán bộ cách mạng được trang bị những kiến thức cơ bản, những kinh nghiệm tuyên truyền, vận động quần chúng và nhiều vấn đề khác, những hoạt động đó ngày càng tiếp sức cho phong trào cách mạng ở các địa phương, vì vậy phong trào ở các địa phương trong châu Hòa An ngày càng phát triểm mạnh. Các cơ sở ngày càng vững chắc. Đó là một trong những điều kiện để đầu năm 1942, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuyển từ Pác Bó (Hà Quảng) xuống căn cứ Lam Sơn, châu Hòa An. Sau khi nghe Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình phong trào cách mạng tại Hòa An. “Bác nhận xét làm tốt, và chỉ thị cho tôi chuyển sang châu Nguyên Bình”. 


Tình hình Nguyên Bình có khác hơn. Hòa An là một châu có phong trào cách mạng từ lâu, Nguyên Bình trước đó chỉ có mỏ thiếc Tĩnh Túc có phong trào khá mạnh trong công nhân, các nơi trong Nguyên Bình thì gần đây mới bất đầu xây dựng một số cơ sở. Võ Nguyên Giáp đến Gia Bằng (nay thuộc xã Minh Tâm, Nguyên Bình) ở lại nhà đồng chí Xích Thắng (sau này là Chính trị viên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân) một thời gian, sau đó mở các lớp huấn luyện cán bộ cũng trong một hang núi, sau mỗi lớp huấn luyện bế mạc, Võ Nguyên Giáp đều hướng dẫn, giúp các đồng chí trong Châu ủy xây dựng kế hoạch phát triển và củng cố phong trào. Theo chương trình kế hoạch được đề ra từ căn cứ, cũng là nhiệm vụ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao trực tiếp, đó là mở lớp tại vùng đồng bào Mông, Dao. Lớp học là một cái lán nhỏ. Các học viên nhìn Võ Nguyên Giáp vẻ mặt mừng rỡ, các chị thì mặc váy trắng, áo hoa, đầu vấn khăn tròn, mặc đẹp như những người đi hội, nhưng klhi nói chuyện mới biết không đồng chí nào nói được tiếng Kinh, cả thầy và học viên rất vui chào hỏi nhau, nhưng nói chuyện thì không bên nào hiểu, nhất là khi giảng bài. Khả năng “phiên dịch” của những cán bộ đang cộng sự cũng chưa đáp ứng yêu cầu giải nghĩa hết nội dung bài giảng, rất nhiều lần Võ Nguyên Giáp phải thể hiện hết tài họa sĩ của mình để diễn đạt bằng hình vẽ, giúp cho học viên hiểu được bài giảng dễ dàng hơn. Với kết quả mở rộng được các cơ sở vững chắc ở Gia Bằng - Kỳ Chỉ và vùng xung quanh, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo Võ Nguyên Giáp tiến dần xuống phía nam, bắt đầu từ tổng Kim Mã (nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình), để tiếp tục truyên truyền, vận động và mở các lớp huấn luyện cán bộ, nhằm xây dựng cơ sở vững chắc, trở thành bàn đạp phát triển xuống phía Bắc Kạn để sẵn sàng thực hiện chủ trương Nam tiến. Từ thực tế tiếp xúc với đồng bào Mông, Dao, Võ Nguyên Giáp tự đặt cho mình một yêu cầu là phải nhanh chóng học tiếng các dân tộc đang sinh sống tại địa phương, học tiếng nói của bà con để mang ánh sáng của cách mạng đến với họ. Với năng lực của mình, sau một thời gian thâm nhập, học hỏi, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, lúc thì cơm cháo, lúc thì ăn mèn mén với đồng bào… Võ Nguyên Gíap đã có “vốn” về tiếng của các dân tộc địa phương. Do dùng được tiếng địa phương để giải nghĩa, nên các lớp huấn luyện rút ngắn được thời gian, diện cán bộ được dự các lớp huấn luyện được mở rộng hơn… từ đó nguồn cán bộ cho các cơ sở ngày càng được nâng lên cả chất lượng và số lượng. Đó là những điều kiện để củng cố, mở rộng và đưa phong trào phát triển đi lên một cách vững chắc. 


Với khả năng trí tuệ của mình, đã đem lại kết quả thật không ngờ, trong suốt thời gian làm công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc và tham gia sinh hoạt với các đoàn thể Nông dân, Phụ nữ, Thanh niên… vốn tiếng Tày, Nùng, Mông, Dao không chỉ giúp Võ Nguyên Giáp trong những buổi lên lớp chính trị, mà còn tạo điều kiện cho ông dịch và chuyển thành văn vần những tài liệu phổ thông của Mặt trận Việt Minh, góp phần vào công tác giáo dục chính trị cho đồng bào các dân tộc. Khắp các địa phương, các xóm, làng, các lũng có đồng bào mà Võ Nguyên Giáp đặt chân đến, ông đều hiểu sâu sắc phong tục tập quán và những nét đẹp về văn hóa truyền thống của bà con, thông cảm với đời sống của bà con, gắn bó mật thiết với đồng bào. Chính vì vậy mà nó đã thôi thúc ông luôn hành động và làm mọi việc vì bà con đồng bào các dân tộc, nó như động lực tiếp thêm sức mạnh cho Võ Nguyên Giáp. 


Thời kỳ đó, để Chương trình, Điều lệ của Mặt trận Việt Minh dễ dàng thấm sâu vào quần chúng, đầu năm 1942, tài liệu này đã được soạn lại dưới thể loại văn vần, dài tới 120 câu, gọi là Việt Minh ngũ tự kinh, vừa dễ hiểu vừa dễ tiếp thu, nhưng đồng bào lúc đó có mấy người biết tiếng phổ thông, nên cũng là trở ngại cho việc tuyên truyền. Vì đã gắn bó với đồng bào, hiểu biết được tiếng nói và tâm tư nguyện vọng của đồng bào, nên Võ Nguyên Giáp cùng các cộng sự của mình xác định: phải bằng mọi cách để dịch tập Việt Minh ngũ tự kinh ra tiếng các dân tộc địa phương. Với việc Võ Nguyên Giáp dịch Việt Minh ngũ tự kinh ra tiếng Tày - Nùng và tiếng dân tộc Dao và cùng đồng chí Bình Dương dịch ra tiếng dân tộc Mông, đã làm cho tài liệu này trở thành những bài hát mang tính quần chúng, rất phổ biến của các hội viên của các đoàn thể cứu quốc và quần chúng nhân dân khắp các địa phương, Việt Minh Ngũ tự kinh có tác dụng rất thiết thực, vì nó dễ hiểu, dễ tiếp thu đối với đồng bào, do đó số hội viên Việt Minh tăng lên nhanh chóng. Trong kỳ Đại hội lần thứ I (tháng 5/1942), Đảng bộ Cao Bằng quyết định lấy Việt Minh ngũ tự kinh làm tài liệu tuyên truyền chính trong quần chúng và các lớp học văn hóa. Thời kỳ đó ở Cao Bằng, không ai không thuộc Việt Minh Ngũ tự kinh, và cho đến hiện nay rất nhiều cụ vẫn còn thường nhắc lại trường ca cách mạng bằng tiếng của dân tộc mình. 


 Cao Bằng là nơi Đảng đề ra chủ trương đi từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa và đã đi tiên phong thực hiện thắng lợi tư tưởng chỉ đạo đó. Nhưng có một vai trò cực kỳ quan trọng để cho tư tưởng đó vượt ra ngoài phạm vi căn cứ địa, lan tỏa ra khắp toàn quốc, chính là từ căn cứ địa Cao Bằng, các tuyến đường chiến lược Nam tiến đã được thực hiện.


Để giúp Liên tỉnh ủy Cao – Bắc – Lạng, Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã cử các đồng chí Phạm Văn Đồng, Vũ Anh và Võ Nguyên Giáp làm "cố vấn" công tác. Giữa năm 1942, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và quyết định của Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, công tác Nam tiến được đặt ra một cách khẩn trương. Tháng 3/1942, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng đến tổng Kim Mã (nay thuộc xã Tam Kim) ở phía Nam huyện Nguyên Bình để tổ chức Ban xung phong Nam tiến nhằm cấp tốc tổ chức con đường quần chúng từ Cao Bằng qua Ngân Sơn, Chợ Rã đi về miền xuôi. 


Để phong trào xung phong Nam tiến bảo đảm thắng lợi, Võ Nguyên Giáp và Lê Thiết Hùng vừa chỉ đạo các đội xung phong Nam tiến, vừa tranh thủ mở những lớp huấn luyện cấp tốc cho các đội viên về phương hướng, nhiệm vụ mở đường Nam tiến. “Hai ông đặc biệt chú ý phổ biến kinh nghiệm đã tích lũy trong thời gian ở Hòa An và Nguyên Bình”. Nhiều thanh niên ưu tú của Cao Bằng đã tình nguyện xung phong đi Nam tiến, tập hợp thành từng đội do Ban xung phong Nam tiến phụ trách. Chỉ trong một thời gian ngắn, Ban xung phong Nam tiến đã tổ chức được 19 đội xung phong tuyên truyền Nam tiến… Bằng những phương thức hoạt động thích hợp: phát triển theo lối "nhảy dù", củng cố theo "vết dầu loang", dựa vào những phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào dân tộc như đường dây họ hàng, kết bạn đồng canh, đồng niên để bắt mối tuyên truyền gây cơ sở; hoặc tổ chức "cắt máu ăn thề" kết nghĩa anh em, đồng chí… nguyện trung thành với cách mạng.


Tại xã Thượng Ân, được sự chỉ đạo trực tiếp của Võ Nguyên Giáp, chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Ngân Sơn đã được thành lập. Cũng tại đây, chỉ trong vòng 4 tháng (từ tháng 5 - 9/1943), Võ Nguyên Giáp đã tổ chức được nhiều lớp huấn luyện, bổ sung nhiều cán bộ cho các đội công tác Nam tiến. Cuối tháng 11/1943, Võ Nguyên Giáp cùng Ban xung phong Nam tiến đã bắt liên lạc được với đội quân Bắc tiến. Lúc này, các đội xung phong Nam tiến đã xây dựng và phát triển được các hội cứu quốc, các đội tự vệ ở các châu Ngân Sơn, Chợ Rã (nay là Ba Bể và Pác Nặm), Bạch Thông, Chợ Đồn của huyện Bắc Kạn. Trên tuyến đường đó, nhiều địa danh được gọi tên cứu quốc: Núi Phja Bjóoc được đặt tên "Núi Cứu quốc", xã Nghĩa Tá (Chợ Đồn) nơi hai mũi Nam tiến và Bắc tiến gặp nhau được đặt tên là xã Thắng Lợi để ghi nhớ thắng lợi của phong trào Nam tiến.


Như vậy sau gần một năm hoạt động, với 19 đội xung phong Nam tiến, con đường quần chúng cách mạng theo hướng Nam tiến trên địa bàn Việt Bắc mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vạch ra, từ Cao Bằng đã nối liền với khu căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai. Sau đó từ cơ sở cách mạng ở Chợ Chu (Thái Nguyên) đã thiết lập được đường dây liên lạc với Trung ương Đảng ở miền xuôi; phong trào cách mạng ở Việt Bắc được gắn liền với phong trào cả nước. “Hai khu căn cứ Cao Bằng và Bắc Sơn - Vũ Nhai được mở rộng, dựa vào nhau tạo thành thế liên hoàn chiến đấu, tiến có thể đánh, lui có thể giữ”. “Sự hình thành hai khu căn cứ có những con đường quần chúng cách mạng nối liền nhau, đã mở ra triển vọng lớn, tạo điều kiện cho việc ra đời khu giải phóng sau này”. Tại lễ tổng kết, liên hoan mừng thắng lợi Tổng bộ Việt Minh và Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng tặng các đội Nam tiến lá cờ “Xung phong thắng lợi”.


Sau khi hoàn thành sứ mệnh khai thông con đường Nam tiến, Võ Nguyên Giáp quay lại Cao Bằng cùng với Lê Thiết Hùng, Lê Quảng Ba, Bằng Giang, Đặng Văn Cáp, Hoàng Sâm... tiếp tục mở các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ quân sự địa phương. 


Do phong trào cách mạng ngày càng phát triển vững chắc, mạnh mẽ, các khu an toàn, các xã, tổng “hoàn toàn” xuất hiện ở nhiều địa phương trong tỉnh, dẫn đến việc hình thành các khu an toàn của cách mạng. Đồng thời, đến tháng 11/ 1943 chủ trương Nam tiến được thực hiện thành công. Cùng với việc thực hiện chủ trương Nam tiến, Đông tiến, Tây tiến, Tỉnh quyết định đẩy mạnh tuyên truyền, vận động để tiến tới thành lập khu căn cứ an toàn - gọi là khu Việt Minh - tại vùng đồng bào Mông, Dao; vì chính con đường mà các đội Nam tiến đã đánh thông hầu hết đều đi qua vùng đồng bào Mông, Dao. Thực tiễn sự phát triển của phong trào cách mạng cho thấy: Mặc dù từ đầu năm 1942 đến cuối năm 1943, tuy bị địch khủng bố ác liệt, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự phát triển của phong trào Nam tiến, phong trào cách mạng ở các vùng nói chung và vùng đồng bào Mông, Dao nói riêng vẫn phát triển lên một bước mới, một lực lượng quần chúng đông đảo là đồng bào Mông, Dao đã tích cực tham gia Mặt trận Việt Minh. Đó là chỗ dựa vững chắc và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng phạm vi hoạt động, góp phần đánh thông và củng cố con đường Nam tiến, để đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng trong vùng đồng bào, tháng 9/1943, tỉnh Cao Bằng đã thành lập khu Thiện Thuật do đồng chí Kim Đao (dân tộc Mông) làm Chủ nhiệm. Khu Thiện Thuật gồm các dân tộc Mông, Dao ở các châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình. Các khu Việt Minh dân tộc Dao Tiền ở tổng Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng và tổng Trần Hưng Đạo, Đội Cung của các huyện Nguyên Bình, Bảo Lạc, Ngân Sơn (Bắc Kạn) thành lập ra khu Việt Minh Quang Trung vào tháng 11/1943, do đồng chí Lý Văn Thượng (dân tộc Dao) làm chủ nhiệm. Đồng thời tại hai khu cũng đã thành lập chi bộ Đảng để lãnh đạo phong trào cách mạng ở vùng dân tộc. 


 Đến giữa năm 1944, phong trào cách mạng ngày càng lan rộng, các tổ chức Việt Minh phát triển mạnh mẽ, lên tới đỉnh điểm. Tháng 10/1944, Võ Nguyên Giáp cùng với Vũ Anh lên xã “đỏ” Nà Sác (Hà Quảng) gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh mới trở về từ Trung Quốc để báo cáo tình hình. Võ Nguyên Giáp đã được Người giao trọng trách “tập hợp những cán bộ, chiến sỹ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động". Người hỏi: “Việc này chú Văn phụ trách, chú Văn có thể làm được không? Tôi đáp: Dạ, có thể được" . Với câu trả lời ngắn gọn đó, Võ Nguyên Giáp - một cựu giáo viên dạy sử  - giờ bắt đầu cuộc đời binh nghiệp của mình, với tư cách là người chỉ huy quân sự đầu tiên của nước Việt Nam. Sau khi “giao cho chú Văn phụ trách” đêm hôm đó: Cụ Hồ đã căn dặn Võ Nguyên Giáp những điều ngắn gọn, “vỡ lòng” nhưng cơ bản nhất về đường lối quân sự cách mạng Việt Nam”... Ngay hôm sau, Võ Nguyên Giáp cùng Lê Quảng Ba bàn kế hoạch triển khai việc thành lập Đội quân giải phóng.


Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, với sự chuẩn bị khẩn trương, chặt chẽ chu đáo về mọi mặt của Võ Nguyên Giáp và Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Cao Bằng, 5 giờ chiều ngày 22/12/1944, lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được cử hành trọng thể trong khu rừng Trần Hưng Ðạo nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, với 34 chiến sĩ. Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, ba hôm sau, Đội đã đánh chiếm diệt gọn đồn Phai Khắt (ngày 25/12/1944) và đồn Nà Ngần (ngày 26/12/1944). Hai chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần tuy quy mô không lớn nhưng có ý nghĩa rất to lớn, mở đầu cho truyền thống “trăm trận trăm thắng” của quân đội ta. 


Như vậy là, suốt gần 5 năm lăn lộn với phong trào cách mạng ở Cao Bằng, Võ Nguyên Giáp hầu như có mặt ở tất cả những điểm nóng tại núi rừng Cao - Bắc - Lạng. Những hoạt động đó và rất nhiều hoạt động, nhiều sự kiện khác mà Võ Nguyên Giáp thực hiện ở Cao Bằng giai đoạn 1941 - 1945, để góp phần xây dựng căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp và sáng suốt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đã thể hiện rõ khả năng, năng lực toàn diện của mình và thực hiện đúng đắn, sáng tạo, phù hợp ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ít người. Thực sự thời kỳ này Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thể hiện rõ:


Văn lo vận nước văn thành võ


Nên đã góp phần huy động được cao nhất năng lực và sức mạnh tinh thần, truyền thống yêu nước của các dân tộc. Vì vậy đã trở thành sức mạnh "dời non lấp biển" cho cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.  


Những năm tháng hoạt động tại Cao Bằng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có mối quan hệ tốt đẹp, sâu nặng với bà con nơi đây và chính Đại tướng đã được bà con mọi nơi đùm bọc và che chở như người thân trong gia đình. Và thẳm sâu trong tim mình, Đại tướng luôn dành một tình cảm đặc biệt đối với vùng đất Cao Bằng nghĩa tình, kiên trung, bất khuất. 


Ngày 04/8/1942, quân địch truy lùng tìm bắt nhưng đồng chí Võ Nguyên Giáp vẫn kiên quyết ở lại bám trụ để lãnh đạo phong trào cách mạng phát triển. Những năm tháng sống và chiến đấu ở Cao Bằng, Dương Hoài Nam - Võ Nguyên Giáp - Anh Văn đến đâu cũng được dân quý, dân thương, hết lòng giúp đỡ và bảo vệ. Những ngày Võ Nguyên Giáp cùng Lê Thiết Hùng trên đường Nam tiến bị Tây đuổi, chạy lên núi cao với đồng bào Mông, sau đó ốm nặng, Bác Hồ đã cử Đặng Văn Cáp đi tìm và đón về Lam Sơn dưỡng bệnh, nhưng Võ Nuyên Giáp đã xin ở lại. Ông nói với đồng bào: "Đoàn thể cử tôi đến đây làm cách mạng cùng đồng bào nếu có chết, xin được chết cùng đồng bào". Ông coi những người dân ông cùng sống là pố, mế (bố, mẹ), pỉ, noọng (anh, em) đậm tình ruột thịt. Và đó cũng là lý do, đến đâu ông cũng nhanh chóng học được tiếng dân tộc ở vùng ấy - vốn tiếng dân tộc của ông đủ để ông dịch Việt Minh Ngũ tự kinh sang các thứ tiếng Tày – Nùng, Mông, Dao. Mỗi lần đi công tác, tuyên truyền, vận động bà con, đồng chí đều nói bằng tiếng Tày, tiếng Mông, Dao rất thân thiện, gần gũi nên được bà con vô cùng quý mến. Và sau này mỗi lần lên Cao Bằng gặp bà con các dân tộc ông cũng hay chào hỏi bằng tiếng dân tộc. 


Từ sau ngày miền Nam giải phóng năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở lại thăm Cao Bằng nhiều lần (lần cuối là năm 1994). Lần nào lên Cao Bằng, Đại tướng cũng lên thăm Pác Bó, lên hang Cốc Bó, lên lán Khuổi Nặm… và đặc biệt là vào thăm khu rừng Trần Hưng Đạo, nơi khai sinh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhiều lần trở lại thăm  Cao Bằng, thăm quê hương thứ hai, đó là ân tình của Đại tướng dành cho Cao Bằng. Hằng năm, những đoàn đến mừng thọ, đến thăm Đại tướng, thì cuộc gặp của Đại tướng với đoàn đại biểu Cao Bằng bao giờ cũng là một trong những cuộc gặp xúc động, diễn ra lâu nhất. 


 Lần nào trở lại thăm Cao Bằng với Đại tướng cũng nhiều kỷ niệm bởi vì “Tôi lên thăm Cao Bằng cũng như là về quê hương thứ hai, cũng như về nhà, bởi vì trong nhiều năm sống và làm việc, chiến đấu bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Cao Bằng, tình cảm của tôi đối với Cao Bằng cũng như là tình cảm của tôi đối với bản thân quê hương của tôi hay là quê hương Nghệ Tĩnh” (Bài phát biểu của đại tướng VõNguyên Giáp tại hội thảo khoa học - thực tiễn: Bác Hồ với Cao Bằng - tháng 12/1994). "Tôi thầm nghĩ, những nơi mình từng sống và chiến đấu trên đất nước Việt Nam đều có những kỷ niệm, nhưng có lẽ với tôi Cao Bằng luôn là kỷ niệm đẹp, vì đó là tuổi thanh niên, tuổi xuân, tuổi trẻ chỉ có một lần trong đời, không bao giờ trở lại". Trong bài phát biểu trên, Đại tướng đã ôn lại nhiều kỷ niệm không bao giờ quên: "Tôi nghĩ rằng: uống nước nhớ nguồn phải đi đến tận nguồn. Cho nên tôi có đi lên hang Cốc Bó và đi xuống tận hang và trong những giờ phút đó, ngồi lại trên cái giường bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn còn nhớ. Nhiều đêm đông lạnh lẽo cũng trên cái giường này tôi đã nằm nói chuyện với Bác" và "Tôi nhớ mãi một đêm thức khuya nói chuyện trao đổi kinh nghiệm với Bác, ngủ được một giấc Bác chợt tỉnh giấc dậy rồi nói một câu mà tôi nhớ mãi: Làm cách mạng phải "dĩ công, vi thượng"-  phải đặt việc công lên trên tất cả. Bác có tài chỉ nói chừng ấy nhưng đi vào lòng người và tôi cứ nhớ mãi". 


Đại tướng từng khẳng định: "Không có Pác Bó, không có chiến thắng Điện Biên Phủ, không có chiến thắng 30/4/1975. Pác Bó không chỉ là của riêng Cao Bằng mà là của cả nước. Cả nước phải giúp đỡ Cao Bằng đi lên". Đây không phải là điều Đại tướng nói một lần! Lần nào Đại tướng cũng mong mỏi: "Tôi chỉ chúc một câu: Cao Bằng đã là một ngôi sao sáng trong cách mạng giải phóng dân tộc, thì mong rằng đồng bào Cao Bằng vận dụng cái tinh thần và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tính năng động, sáng tạo của quân dân các dân tộc, kể cả ở nơi rẻo cao, để làm sao trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, Cao Bằng cũng trở thành một trong những "đao đí rủng lai "(tiếng Tày nghĩa là ngôi sao rất sáng)". (Bài phát biểu hội thảo Bác Hồ với Cao Bằng - 1994).


Những lần Đại tướng về thăm Cao Bằng hoặc Đoàn đại biểu của tỉnh đến thăm Đại tướng, cán bộ, đảng viên, nhân dân các dân tộc Cao Bằng lại được đón nhận những lời chỉ bảo ân cần. Lần nào cũng vậy, Đại tướng không giấu nổi xúc động, bởi khi ấy dường như bao ký ức của những năm tháng hoạt động cách mạng gian khổ, bí mật nhưng đầy hào hùng nơi cội nguồn cách mạng như tràn về vẹn đầy trong tâm trí Đại tướng. Đại tướng luôn dành cho Đảng bộ, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Cao Bằng những tình cảm đặc biệt. Mỗi lần được gặp Đại tướng, trở về, mỗi người đều tự nhận thấy trên từng cương vị công tác phải toàn tâm, toàn ý, cống hiến sức lực, trí tuệ của mình hơn nữa để góp phần cùng với Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh quyết tâm thực hiện lời căn dặn cũng như như ý nguyện của Đại tướng, xây dựng quê hương Cao Bằng ngày càng giàu đẹp, xứng đáng là “Ngôi sao cách mạng Việt Bắc”. 


Nay Đại tướng đã về với thế giới người hiền. Sự nghiệp, công lao và những phẩm chất cao đẹp của Đại tướng mãi mãi trường tồn cùng thời gian và sống mãi trong trái tim đồng bào các dân tộc Cao Bằng. Hình ảnh của Đại tướng như “Cây đại thụ lẫm liệt” cùng những nghĩa tình sâu nặng của Đại tướng dành cho nhân dân các dân tộc Cao Bằng mãi mãi in đậm, sống mãi với thời gian. 

------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Trọng Trung: Võ Nguyên Giáp – Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh. Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2010.
2. Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012.
3. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2003.
4. Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cao Bằng, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2010.
5. Kỷ yếu Hội thảo khoa học – thực tiễn: Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng” (12.1994)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}