Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn hoá biển đảo và văn hoá quân sự biển đảo Việt Nam

PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn - Viện phó Viện Văn học | Thứ Ba, 05/03/2019 06:56 GMT +7
(Vanhien.vn) Trân trọng giới thiệu bài  tham luận của  PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn - Viện phó Viện Văn học"Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn hoá biển đảo và văn hoá quân sự biển đảo Việt Nam"  do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tạp chí Văn hiến Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 21/12/2018 nhân kỷ niệm  74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1994 - 22/12/2018) và 5 năm ngày mất của Đại tướng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kiểm tra vùng biển, đảo Hạ Long cùng Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát dịp Tết Nguyên đán năm 1970. Ảnh: Tư liệu
 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2013) là một nhà chỉ huy quân sự và chính trị gia xuất sắc của đất nước thời hiện đại. Các nhà quân sự và học giới đã khẳng định Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa quân sự Việt Nam hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đương nhiên trong đó có văn hóa biển đảo và văn hóa quân sự biển đảo.
 
Trong một số năm gần đây, vấn đề khái niệm “Văn hóa quân sự”, cụ thể hơn là “Văn hóa quân sự Việt Nam” ngày được quan tâm nghiên cứu, thảo luận sâu rộng hơn . Liên quan đến việc xác định khái niệm “Văn hóa quân sự”, nhà ngôn ngữ học Phạm Văn Tình đánh giá cao đóng góp của Dương Xuân Đống trong công trình Văn hóa quân sự Việt Nam - Văn hóa giữ nước  cả về nội hàm khái niệm cũng như sự tương hợp với các triển khai nội dung và cấu trúc các chương mục: “Mỗi khái niệm hình thành đều xuất phát từ thực tế và mang nội hàm cụ thể. Dương Xuân Đống cho rằng: "Văn hóa quân sự không phải là một bộ môn khoa học về lịch sử quân sự, mà là bộ môn khoa học về phương pháp hành động quân sự, cũng gọi là văn hóa học quân sự". Cũng theo ông, nó bao gồm 3 thành tố chính: "Một là, mối quan hệ giữa con người với đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm trong tương quan lực lượng luôn phải "lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh"; hai là, từ đó xác định ra phương pháp hành động thích hợp và hiệu quả bằng "chiến tranh nhân dân"; ba là, phương pháp đó bị uốn cong và bẻ gãy qua thế giới quan và nhân sinh quan của người Việt. Bởi vậy, nó có một sắc thái riêng, rất độc đáo, không hề giống bất cứ dân tộc nào trên thế giới, trong quá trình đấu tranh vũ trang lâu dài và chiến thắng hầu như gần hết mọi đạo quân xâm lược để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc” …
 
Trong giới hạn cụ thể, nội dung và phạm vi văn hóa quân sự biển đảo được hiểu như một chi lưu của văn hóa quân sự Việt Nam có lên quan, tương hợp và giao thoa với văn hóa biển đảo nói chung. Trên thực tế, khái niệm “biển đảo” thường bao gồm cả biển khơi, hải đảo và duyên hải. Việt Nam có vùng biển đảo rộng dài nên đã hình thành cả một tuyến văn hóa duyên hải và biển đảo (gọi chung là vùng văn hóa biển đảo) tiếp nối liên tục từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Nói riêng bờ biển có trên 3.260km trải dài từ Bắc tới Nam, đứng thứ 27 trong số 157 đảo quốc và quốc gia ven biển trên thế giới. Vùng văn hóa biển đảo có nhiều nét đặc thù, có thể được đặt trong nhiều hệ qui chiếu và tương quan khác nhau trong tổng thể bảng màu văn hóa Việt Nam. Thứ nhất, so với các vùng văn hóa đồng bằng và miền núi, tuyến văn hóa biển đảo có vùng biên giới NƯỚC, không gian trải dài ở phía Đông và Nam, mở rộng ở Biển Đông – Thái Bình Dương; thứ hai, theo nhóm nghiên cứu Trần Quốc Vượng, văn hóa biển đảo được lồng ghép, đan xen, phối kết trong tương quan ba vùng đồng bằng: châu thổ Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ; thứ ba, có thể nương theo sự định danh bảy vùng du lịch mà xác định có tới năm tiểu vùng văn hóa biển đảo (Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc - Bắc Trung Bộ - Duyên hải Nam Trung Bộ - Đông Nam Bộ - Tây Nam Bộ), bên cạnh hai vùng văn hóa miền núi (phía Bắc và Tây Nguyên)… Điều này tạo nên sự đa dạng các vùng văn hóa cũng như chính kết quả học thuật bước đầu trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa - văn học biển đảo Việt Nam Nhà sử học Trần Quốc Vượng đã khái quát đặc tính điều kiện tự nhiên của Việt Nam: “Một đặc điểm nổi bật của tự nhiên Việt Nam là tính chất bán đảo: nước Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, lại chiếm trọn phần đông của bán đảo ấy nên tính chất bán đảo càng nổi trội” …
 
Đặc tính bán đảo và vị trí biển đảo Việt Nam – Biển Đông được cụ thể hóa và nhấn mạnh về vị thế chiến lược: “Việt Nam giáp với Biển Đông ở ba phía: Đông, Nam và Tây Nam… Biển Đông là một trong những khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương, châu Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của khoảng 300 triệu người” … Có thể dẫn giải thêm rằng đặc tính bán đảo cần được nhấn mạnh ở mối liên hệ cơ hữu đất liền - biển đảo, tức là biển đảo bao giờ cũng được đặt trong tương quan và sự chi phối của chủ thể con người trong đất liền, gần cận và trực tiếp nhất là các vùng duyên hải - biển đảo, không thể có chuyện cơ giới tách biệt khối biển đảo khỏi mối liên hệ với đất liền - duyên hải. Việt Nam có vùng biên giới biển đảo rộng dài nên trong suốt nửa đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều tác phẩm du ký, ghi chép, điều tra về các vùng duyên hải và biển đảo từ Quảng Ninh đến Kiên Giang (gồm 5 vùng: Quảng Ninh – Hà Tĩnh, Quảng Bình – Bình Định, Phú Yên – Bắc Bình Thuận, Nam Bình Thuận – Bạc Liêu, Cà Mau – Kiên Giang). Trên cơ sở kết quả sưu tập tư liệu văn bản sẽ tiến hành nghiên cứu theo hệ thống chuyên đề, chủ đề, nội dung các tác phẩm du ký liên quan đến các vùng biển đảo Việt Nam (chủ yếu là các sáng tác văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, ghi chép, hồi ức về các chuyến đi, các điểm du lịch, các điểm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và nhiều phương diện của an ninh, quốc phòng, kinh tế, hoạt động du lịch, xã hội học, dân tộc học khác nữa). Trên thực tế, khái niệm “vùng biển đảo” thường bao gồm cả biển khơi, hải đảo và duyên hải” …
 
Một sự khái lược về vấn đề biển đảo và văn hóa biển đảo nói trên để thấy được tầm quan trọng của các vùng biển đảo mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặc biệt quan tâm. Xin dẫn biên niên qua các nguồn thông tin chính sử về mối quan hệ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với biển đảo và sự quan tâm tới lực lượng hải quân Việt Nam.
 
- Ngày 8/3/1949, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam ra Nghị định số 604/QĐ, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp kí, thành lập Ban Nghiên cứu thủy quân thuộc Bộ Tổng tham mưu, tiến tới thành lập lực lượng hải quân…
 
- Ngày 24/8/1955, thành lập hai thủy đội Sông Lô và Bạch Đằng tại Trường Huấn luyện bờ biển, bên bờ sông Cấm (Hải Phòng). Đại tướng Võ Nguyên Giáp tham dự và chỉ thị: “Các đồng chí là những người được lựa chọn trong toàn quân về để xây dựng binh chủng mới của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hai thủy đội này là những viên gạch đầu tiên,  là tiền thân của lực lượng tàu chiến đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam sau này… Bờ biển nước ta dài và rộng, trên bờ có đông dân cư, có các trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng, dưới biển có nhiều tài nguyên quí giá. Kẻ địch còn đang lén lút phá hoại. Các đồng chí từ con em của nhân dân mà ra, nên phải ra sức phát huy truyền thống của quân đội nhân dân anh hùng, hãy dũng cảm khắc phục khó khăn để làm tròn nhiệm vụ bảo vệ bờ biển của Tổ quốc, bảo vệ công cuộc lao động hòa bình của nhân dân ta”…
 
 - Ngày 23/6/1961, Đường Hồ Chí Minh trên biển, tên gọi tuyến đường vận tải quân sự do Hải quân nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam thực hiện bí mật trên biển Đông chính thức thành lập.
 
Đại tướng nhắc nhở cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ vận tải đường biển: “”Đường biển là đường duy nhất có thể chi viện cho đồng bằng sông Cửu Long. Vậy ta phải giữ cho được bí mật về con đường này. Phải kiểm tra thật kỹ, nắm chắc từng chuyến đi vào Khu 5. Không có một sai sót nhỏ đáng tiếc khiến kẻ địch nghi ngờ, ngăn chặn ta chi viện bằng đường biển cho các chiến trường Nam Bộ và Khu 5”…
 
- Tháng 11/1964, sau khi chuyến chở hàng từ miền Bắc vào bến Lộ Giao (Bình Định) bị địch phát hiện, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kịp thời chỉ thị: “Không sử dụng bến Lộ Giao nữa, phải theo dõi chặt chẽ tình hình địch ở quanh khu vực vào, xem chúng có phát hiện ra ý đồ của ta không. Các đồng chí cần tìm bến mới ở Phú Yên, nơi đang cần vũ khí”… 
 
- Ngày 9//7/1966, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra quyết định thành lập Trung đoàn 171 tàu tuần tiễu săn ngầm thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân và thành lập Trung đoàn 172 tàu phóng lôi làm nhiệm vụ đánh tàu địch…
 
- Tháng 2/1965, sau khi việc vận chuyển tàu chở hàng vào Vũng Rô bị địch phát hiện, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp ra chỉ thị: “Phải ngừng ngay việc vận chuyển bằng đường biển vào miền Nam. Cần tổ chức rút kinh nghiệm sâu sắc về việc này từ cơ quan cấp trên đến đơn vị cơ sở để tiếp tục làm tốt hơn”…
 
- Tháng 8/1970, tham dự lễ kỉ niệm 15 năm thành lập Quân chủng Hải quân và kỉ niệm 6 năm đánh thắng trận đầu của Quân chủng (7-5-1964), Đại tướng Võ Nguyễn Giáp nhấn mạnh: “Trải qua 15 năm xây dựng và chiến đấu, hải quân ta đã có những tiến bộ lớn, cùng với toàn quân và toàn dân lập được nhiều thành tích và chiến công xuất sắc. những chiến công và thành tích đó càng tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp 'chiến đấu anh dũng, mưu trí sáng tạo, khắc phục khó khăn, quyết chiến quyết thắng' của Hải quân nhân dân Việt Nam”…
 
- Tháng 10-1970, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gặp gỡ biểu dương, khen ngợi thành tích của cán bộ, thủy thủ tàu 121…
 
- Tháng 7-1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho xuất bản sách chuyên đề Chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển…
 
- Tháng 3-1975, ngay sau khi chiến thắng Buôn Ma Thuột, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp cùng với Quân ủy Trung ương kiến nghị Bộ Chính trị: “Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ”…
 
- Ngày 2-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ thị: “Ngoài nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh cho quân khu V và Bộ Tư lệnh Hải quân, tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa" và nhấn mạnh: "Vùng này có thể có tàu chiến của Hạm đội 7 và hải quân các nước khác hoạt động. Hải quân ngụy cũng được trang bị các loại tàu lớn. Do đó, nghệ thuật tác chiến phải kiên quyết, táo bạo, đồng thời phải hết sức mưu trí, sáng tạo, bất ngờ", đồng thời chỉ đạo cụ thể: "Các đơn vị có nhiệm vụ sẵn sàng, có thời cơ là đánh được ngay, bảo đảm chắc thắng. Đánh phải đúng lúc. Nếu có hiện tượng chúng rút, phải tranh thủ đánh chiếm ngay. Nếu tình hình chung địch bị nguy khốn, nhất là ở Sài Gòn, Bộ sẽ thông báo để kịp thời đánh chiếm. Nếu quân nước ngoài đã chiếm đảo thì ta kiên quyết chiếm lại. Nếu có khó khăn thì xin chỉ thị của Bộ” , v.v… 
 
    Đến đây chúng tôi tập trung giới thiệu phân tích bài nói và cũng là tư tưởng quân sự và văn hóa quân sự biển đảo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với nhan đề Chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển … Công trình đúc kết sâu sắc về nghệ thuật chiến tranh sông biển và văn hóa quân sự sông biển của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gồm ba phần: 1) Những bước phát triển thắng lwoji của chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển; 2) Hải quân là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển; 3) Ra sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt, góp phần đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược… Trước hết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh đặc điểm và tầm quan trọng của cơ sở Địa – tự nhiên, Địa – quân sự, Địa – văn hóa sông biển Việt Nam:
“Nước Việt Nam ta có bờ biển rất dài. Đối với một nước đất không gộng lắm như nước ta thì chiều dài của bờ biển cùng với hệ thống sông ngòi khá phát triển là một đặc điểm khác với nhiều nước.
 
Bờ biển nước ta địa hình phức tạp. Có nơi là vùng quần đảo hiểm trở, với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ như ở vịnh Hạ Long và Bái Tử Logn; có nơi là những baxci cát dài bằng phẳng ven theo mép nước như vùng duyên hải đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ; có nơi thì núi ra tới biển, tạo thành những vịnh kín đáo như Đà Nẵng, Cam Ranh” …
 
Như vậy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chú trọng đến cả nơi biển đảo xa và gần, mối liên hệ chặt chẽ giữa vùng biển đảo và duyên hải và nhấn mạnh: “Trên biển thì có vùng ven biển, vùng biển gần, vùng quần đảo, vùng biển xa. Trong điều kiện của hải quân ta hiện nay, trang bị kỹ thuật còn hạn chế, việc đánh địch ở ven biển, ở biển gần và ở các quần đảo cần được hết sức coi trọng. Đồng thời, với sự lớn mạnh của quân đội, của hải quân, ta có thể mở rộng phạm vi đánh địch ra xa hơn nữa” (tr.25)… Có thể nhận ra định hướng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một thế trận liên hoàn, nhiều vòng nhiều lớp của các vùng biển đảo, sông biển và duyên hải. Đây là nhận thức có ý nghĩa minh triết trong chiến lược xây dựng lực lượng hải quân nhân dân Việt Nam từ ngày thành lập cho đến ngày nay.
 
Một điều đặc biệt quan trọng khác về văn hóa quân sự biển đảo được trình bày trong chuyên đề của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vấn đề con người, chủ thể của sông biển và cũng là chủ thể của mọi cuộc chiến tranh. Có thể nói ngay cả ở đây nữa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kế thừa và phát triển xuất sắc tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi (1380-1442): Phúc chu thủy tín dân do thủy,/ Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên – Quan hải (Lật thuyền mới rõ dân như nước,/ Cậy hiểm không xoay mệnh ở trời – Đóng cửa biên)…
 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Lực lượng nhân dân ven biển, ven sông đã tỏ rõ kharnawng to lớn trong hoạt động chiến đáu trên chiến trường sông biển. Những toán biệt kích của địch từ đường biển xâm nhập để phá hoại miền Bắc nước ta, phầ lớn đều do dân quân du kích ven biển, ven sông tiêu diệt. Việc tuần tiễu trên biển gần và ở vùng ven biển cũng dựa vào lực lượng dân đánh cá. Trong việc chống lại thủy lôi, bom từ trường của địch, dân quân ven biển, ven sông là lực lượng tại chỗ quan sát hoạt động của địch, đánh dấu địa điểm, giải quyết nhanh chóng. Dân quân ven biển ở một số địa phương đã có những đơn vị pháo binh bắn chìm, bắn cháy tàu địch. Những điều đó càng chứng tỏ khả năng tiến lên của nhân dân ven biển, ven sông trong nhiệm vụ bảo vệ vùng biển vafsoong ngòi của ta” (tr.30)… Có thể nói đây là tư tưởng chỉ đạo của quan điểm quân đội “từ nhân dân mà ra”, gắn kết giữa lực lượng hải quân với nhân dân, đặt nhân tố con người lên trên hết, trước hết. Có thể nói niềm tin vào chiến sĩ hải quân và nhân dân các vùng biển đảo thể hiện nhãn quan chính trị và thực tế sâu rộng, đầy tính nhân văn, căn tinh văn hóa quân sự biển đảo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
 
Trên một phương diện khác, bên cạnh các nội dung chuyên môn xây dựng lực lượng hải quân vững mạnh, chính qui, hiện đại (xây dựng tổ chức Đảng, hợp đồng bình chủng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ cán bộ, công tác nghiên cứu, tổng kết và nhà trường…), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ quốc phòng và xây dựng kinh tế, chiến đấu và sản xuất. Ngay giữa thời chiến nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn khuyến khích và nhấn mạnh: “Phải kết hợp tốt nhiệm vụ sản xuất với nhiệm vụ chiến đấu, nâng cao kỹ thuật sản xuất đồng thời rèn luyện kỹ thuật quân sự; như vậy, thời bình là lực lượng sản xuất giỏi, thời chiến là lực lượng chiến đấu mạnh” (tr.30); “Cơ sở vật chất kỹ thuật của hải quân gắn liền với tieefmlwjc kinh tế và quốc phòng. Tiềm lực kinh tế và quốc phòng mạnh thì quân đội mạnh, hải quân mạnh. Vì vậy, kết hợp kinh tế với quốc phòng trong xây dựng hải quân là một vấn đề rất quan trọng; có giải quyết tốt vấn đề đó thì mới tạo được điều kiện thuận lợi để xây dựng hải quân” (tr.32); “Thực hiện tốt việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, tích cực tham gia xây dựng kinh tế” (tr.38)… Có thể coi đây là cốt lõi triết lý văn hóa quân sự biển đảo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bởi ông đã nhìn ra mối quan hệ biện chứng giữa tiềm lực hải quân và kinh tế, chiều sâu bền vững giá trị văn hóa của sự kết hợp sản xuất và chiến đấu, tinh thần “ngụ hải binh ư ngư nghiệp”. Bởi chỉ có sự kết hợp binh – ngư này mới tạo nên sức mạnh tổng hợp cho các vùng duyên hải và biển đảo, tạo nên khả năng độc lập tự cường, sức mạnh bền vững cho một chiến lược lâu dài.
 
Lời kết mở
 
Nói riêng trên phạm vi lực lượng hải quân gắn với biến đảo, sông biển và các vùng duyên hải, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cảm nhận, đo lường và xác định đầy đủ chiều sâu văn hóa quân sự biển đảo. Trên tinh thần chung, đó là văn hóa quân sự biển đảo vì con người, được xác lập trên bản lĩnh, sức mạnh của chiến sĩ hải quân và nhân dân các vùng biển đảo, sông biển và duyên hải; sự gắn kết quân dân và nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng gắn kết với chiến lược kinh tế biển bền vững. Cần nhấn mạnh thêm, đặc tính văn hóa quân sự biển đảo nói riêng trong chuyên đề Chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển giữa những ngày chiến tranh ác liệt cũng như toàn bộ giá trị tinh thần văn hóa quân sự biển đảo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có một vị trí quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa quân sự Việt Nam và thực sự còn có ý nghĩa soi sáng cho nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay và mai sau.
-----------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Anh [2011], Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Hải quân Việt Nam. Nguồn: https://www.vietnamplus.vn › Đời sống › Phong cách, 24/08/2011 13:30 GMT+7
2. Bộ Thông tin và truyền thông [2015], 100 câu hỏi – đáp về biển, đảo Việt Nam. Nxb. Thông tin và truyền thông, H…
3. Dương Xuân Đống [2014], Về mấy vấn đề lý luận của văn hóa quân sự. Văn hóa Nghệ thuật, số 393, tháng 3…
4. Dương Xuân Đống [2017], Văn hóa quân sự Việt Nam - Văn hóa giữ nước. Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, H…
5. Lê Quý Đức [2014], Một số vấn đề về lý luận văn hóa quân sự. Văn hóa Nghệ thuật, số 360, tháng 6…
6. Võ Nguyên Giáp (1972], Chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển. Nxb. Quân đội nhân dân, H., 40 trang.
7. Lê Văn Quang - Văn Đức Thanh [2002], Văn hóa quân sự Việt Nam. Nxb. Quân đội nhân dân, H...
8. Nguyễn Hữu Sơn [2014], Vai trò chủ thể tác giả trong du ký về các vùng biển đảo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu Văn học, số 8.
9. Văn Đức Thanh (Tổng chủ biên) [2014], Văn hóa quân sự Việt Nam, truyền thống và hiện đại. Nxb. Chính trị Quốc gia, H…
10. Phạm Văn Tình [2017], “Tập đại thành” về văn hóa quân sự Việt Nam. Nguồn: www.qdnd.vn ›  Văn học - Nghệ thuật, 06/08/2017 20:37.
11. Trần Quốc Vượng [2003], Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm. Nxb. Văn học, H...
 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}