Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn hoá quân sự

Thạc sỹ Lê Vũ Huy | Thứ Bảy, 23/02/2019 11:00 GMT +7
(Vanhien.vn) Trân trọng giới thiệu bài  tham luận của Thạc sỹ Lê Vũ Huy "Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn hoá quân sự" do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tạp chí Văn hiến Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 21/12/2018 nhân kỷ niệm  74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1994 - 22/12/2018) và 5 năm ngày mất của Đại tướng.
 
Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang bàn kế hoạch tác chiến từng trận đánh. Ảnh : Tư liệu - TTXVN
 
Trong lịch sử, ông cha ta đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về việc phát huy vai trò của văn hóa trong giữ nước, chống ngoại xâm. Lý Thường Kiệt với bài thơ thần trên sông Như Nguyệt, Trần Hưng Đạo với Hịch tướng sĩ, Nguyễn Trãi với Đại cáo Bình Ngô. Dưới góc độ văn hóa, có thể nhận thấy sức mạnh bên trong, nền tảng tinh thần của dân tộc mà tiêu biểu là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập tự chủ, tinh thần chống ngoại xâm... được khơi dậy và phát huy cao độ, tạo thành sức mạnh chiến thắng kẻ thù.
 
Trong những nhà quân sự được thế giới vinh danh lỗi lạc nhất của tất cả các thời đại, Việt Nam có tên hai vị tướng kiệt xuất là Hưng Đạo đại Vương Trần Quốc Tuấn (thế kỷ XIII) và Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp (thế kỷ XX). Để được tôn vinh thiên tài quân sự thế giới của mọi thời đại, quả thật không dễ. Thế nhưng, với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, không chỉ được đánh giá và đồng thuận rất cao của những nhà nghiên cứu về quân sự, kể cả với những người bình chọn “khó tính” nhất, Ông còn nhận được sự ngưỡng mộ, kính trọng của nhiều Nguyên thủ quốc gia, chính khách, học giả, nhà sử học, nhà báo, nhà văn… có tên tuổi và của đông đảo nhân dân thế giới.
 
Là một nhà trí thức lớn yêu nước, sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng cao đẹp, được Đảng Công sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giáo dục, dìu dắt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không ngừng tự học, tu dưỡng vươn cao ngang tầm nhiệm vụ, Đại tướng trở thành một trong những nhà lãnh đạo đất nước, vị Đại tướng của nhân dân, Nhà văn hóa lớn của Việt Nam, tài - đức tròn vẹn, văn - võ song toàn; nhạy bén, sáng tạo về thực tiễn; minh mẫn về chính trị; dũng cảm, trí tuệ về quân sự; sắc sảo về hành chính; uyên thâm về sử học, văn hóa nghệ thuật; tinh thông về khoa học công nghệ, giáo dục, gương mẫu về đạo đức...
 
Dưới ánh sáng đường lối kháng chiến của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đằng sau những thắng lợi mang tính thời đại của nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một động lực. Những chiến tích vĩ đại mà Ông đã góp phần cống hiến xuất sắc, ít người sánh kịp, nâng Ông lên tầm một vị tướng của huyền thoại, để lại một dấu son hết sức rực rỡ trong lịch sử quân sự thế giới.
 
Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một trường hợp khá đặc biệt, thật hiếm có của cả Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX. Không chỉ lừng danh là một vị tướng thiên tài của tất cả các thời đại, ông còn được nhân dân thế giới biết đến và quý trọng là một vị tướng tài - đức, văn - võ song toàn, một trong những gương mặt sáng ngời của nền văn hóa Việt Nam.
 
Trong tác phẩm “Võ Nguyên Giáp - Con người và huyền thoại” - 1962, nhà báo, nhà sử học Bernard Fall ( ) đã đánh giá rất xác đáng: “Trong một tương lai có thể thấy trước, phương Tây chưa thể đào tạo được một vị tướng nào sánh kịp Võ Nguyên Giáp”.
 
Có thể khẳng định, công lao và cống hiến xuất sắc, nổi bật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với cách mạng Việt Nam thể hiện trên lĩnh vực văn hóa quân sự, trở thành một trong những danh tướng tài năng nhất của thế kỷ XX. Là người có tài tổ chức, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng bước xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12 năm 1944 thành một quân đội với hơn một triệu người năm 1975. Đồng thời, Võ Nguyên Giáp còn là nhà chiến lược quân sự thiên tài, đã hoạch định chiến lược, chiến thuật và nghệ thuật quân sự, đường lối chiến tranh nhân dân độc đáo Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Điều này được thể hiện trên một số nội dung sau: 
 
1. Chuyên gia về đường lối chiến tranh nhân dân
 
Nhận thức chung về đấu tranh vũ trang đều cho rằng chiến tranh là kế tục của chính trị theo một thủ đoạn khác, hoặc nói cách khác: chiến tranh là chính trị đổ máu. Vì vậy, đường lối chiến tranh chịu sự chi phối trực tiếp và phục vụ mục đích chính trị. Đường lối chiến tranh đúng đắn hay sai lầm là nhân tố tiên quyết thành bại của cuộc chiến. Từ đó, chiến lược, chiến dịch, chiến thuật luôn gắn chặt với đường lối quân sự, đáp ứng yêu cầu, mục đích chính trị trước mắt và lâu dài.
 
Xexi B.Curi, một chuyên gia nghiên cứu lịch sử quân sự hiện đại có tên tuổi của Mỹ, đã viết nhiều tác phẩm về chiến tranh Việt Nam được dư luận thế giới chú ý. Trong cuốn sách “Võ Nguyên Giáp, một thiên tài quân sự”, xuất bản ở Mỹ năm 1997, được dịch ra tiếng Pháp năm 2003, ấn hành ở Pari và cũng được dịch ra tiếng Trung Quốc xuất bản ở Bắc Kinh, Xexi B.Curi đã trích lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Chiến lược chiến tranh của chúng tôi không phải chỉ liên quan đến những công việc thuần túy quân sự, chiến tranh phải là một chiến lược tổng thể kết hợp nhiều yếu tố khác nhau. Mục đích chính trị là căn bản. Quân đội không phải chỉ có nhiệm vụ chiến đấu, mà phải tuyên truyền, giáo dục dân chúng. Như vậy, mọi người đều là lính. Tất cả mỗi làng, mỗi quận (huyện) là một pháo đài và cả nước chúng tôi là một chiến trường rộng lớn. Chúng tôi tập trung lực lượng ở vùng này hay vùng khác tùy thuộc vào điều kiện chính trị chiếm ưu thế từng thời kỳ trong từng giai đoạn. Điều này là một nguyên tắc chiến lược rất quan trọng để tiến hành chiến tranh toàn dân…”.
 
Như chúng ta đã biết, đường lối chiến tranh của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã nêu rõ nhiều luận điểm rất cơ bản như: Phải tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện; trường kỳ kháng chiến với tự lực cánh sinh là chính, viện trợ bên ngoài là quan trọng; xây dựng lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân: dân quân du kích, bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực, lấy bộ đội chủ lực làm nòng cốt, tiến hành chiến tranh du kích kết hợp chiến tranh chính quy với quy mô thích hợp trong từng giai đoạn, toàn dân đánh giặc với nhiều hình thức linh hoạt, lấy yếu địch mạnh, lấy nhỏ đánh lớn, lấy chất lượng tinh thắng số lượng đông, tập trung và phân tán lực lượng linh hoạt, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, giữ nghiêm kỷ luật và tuyệt đối bí mật, đánh chắc thắng; giành thắng lợi từng phần tiến lên giành thắng lợi toàn bộ…
 
Không chỉ kiên định và quán triệt sâu sắc, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã tiến hành đường lối chiến tranh nhân dân một cách hết sức sáng tạo, sinh động và đầy hiệu quả. Ông coi trọng trước hết việc xây dựng các lực lượng vũ trang phải có các tổ chức Đảng lãnh đạo thật vững mạnh, trong sạch, đảng viên tiên phong, gương mẫu. Quân đội có bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu cao cường, tinh thông kỹ chiến thuật quân sự, khả năng tác chiến đạt hiệu suất cao. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ có lòng yêu nước nồng nàn, trung thành vô hạn với lý tưởng cách mạng cao đẹp, kiên trung bất khuất trước kẻ thù, lạc quan, tin tưởng sắt đá vào thắng lợi, nội bộ dân chủ, kỷ luật, yêu thương gắn bó với nhau như anh em một nhà, yêu thương, giúp đỡ đoàn kết quân dân như cá với nước. Tinh thần “vì nhân dân quên mình” luôn được truyền đạt và thấm sâu đến từng chiến sĩ. Nhờ đó, quân đội không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, còn làm tốt công tác dân vận, tăng gia sản xuất cải thiện đời sống vật chất, hoạt động văn hóa văn nghệ sôi động, lành mạnh.
 
Đại tướng kết hợp rất chặt chẽ, khéo léo đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, ngoại giao, tư tưởng, văn hóa; quốc phòng với kinh tế, an ninh… đạt kết quả toàn diện trên cả hai lĩnh vực kháng chiến và kiến quốc.
 
Ở tuyến trước, quân và dân Việt Nam luôn tấn công địch mạnh mẽ với phương châm “hai chân, ba mũi (hai chân quân sự - chính trị song song, ba mũi giáp công đấu tranh vũ trang - đấu tranh chính trị của quần chúng - công tác binh địch vận), liên tục tấn công địch ở khắp ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, đô thị; tiêu diệt địch ở trước mặt và đánh mạnh vào cả cơ quan đầu não, căn cứ trọng yếu nằm sâu tận hang ổ, sào huyệt cuối cùng của chúng.
 
Còn ở tuyến sau, các căn cứ địa cách mạng, các cơ sở hậu phương quân đội luôn được xây dựng, củng cố vững chắc, làm chỗ dựa tin cậy và chi viện đắc lực cho tiền tuyến đánh thắng kẻ thù.
 
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là vị chỉ huy tối cao Hồ Chí Minh, cùng với quân và dân anh hùng của mình Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã điều hành cuộc chiến tranh toàn dân thần kỳ của dân tộc Việt Nam đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự. Đường lối chiến lược kháng chiến trường kỳ, toàn dân toàn diện đã đánh bại và làm phá sản hoàn toàn đường lối chiến lược tốc chiến tốc thắng và các chiến lược khác của những tên đế quốc hùng mạnh nhất thế kỷ XX. Đây là sự kiện có một không hai của lịch sử quân sự thế giới.
 
Pitơ Mắcđônan, người Anh, một nhà quân sự và là nhà nghiên cứu, đã sang Việt Nam và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp chuyện. Trong cuốn sách “Võ Nguyên Giáp - Một sự đánh giá” của Pitơ Mắcđônan xuất bản năm 1992 bằng tiếng Anh (Bản dịch từ tiếng Pháp là: Giáp - Hai cuộc chiến tranh Đông Dương), đã có những đánh giá: “Võ Nguyên Giáp là vị tướng duy nhất trong lịch sử hiện đại tiến hành cuộc chiến tranh chống kẻ thù từ thế vô cùng yếu, thiếu trang bị, thiếu nguồn tài chính, mặc dù thời kỳ đầu trong tay chưa có quân, nhưng vẫn liên tiếp đánh bại tàn quân của đế quốc Nhật, quân đội Pháp (đế quốc thực dân số 2) và Mỹ (một trong hai siêu cường thế giới) mặc dù Mỹ đã ném vào cuộc chiến tranh những nguồn sức người, sức của và kỹ thuật to lớn trong một thời gian dài”. “Ông đã chuẩn bị một cuộc chiến tranh lâu dài, đã chiến đấu phòng ngự cho đến khi đạt được thế cân bằng nhiều mặt và điều chỉnh cách giải quyết của mình theo nhu cầu để rồi đánh thắng các đội quân lớn của địch”. “Trên lĩnh vực phép biện chứng, Võ Nguyên Giáp đã tỏ ra xuất chúng trong suốt cả cuộc chiến tranh Đông Dương. Nếu không ở tầm cỡ làm chủ được cách suy nghĩ biện chứng thì Võ Nguyên Giáp không thể thắng nổi trận Điện Biên Phủ”. “Ông trở thành một trong những vị tướng tài năng nhất của thế kỷ XX và chuyên gia vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân”. “Ông là một động lực đằng sau mọi thắng lợi. Thành tích của Ông là có một không hai và kết quả Ông thu được là phi thường. Đó chính là thiên tài quân sự” …
 
2. Tư duy xây dựng lực lượng quân sự
 
Được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao trọng trách Tổng Tư lệnh kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiểu rõ hơn ai hết vai trò của tổ chức thực hiện có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm đảm bảo đường lối đúng đắn, sáng suốt của Đảng thành công. Ông đặc biệt quan tâm nghiên cứu, xây dựng, phát triển các lực lượng quân sự thích ứng với tình thế từng thời kỳ của chiến tranh.
 
Bắt đầu từ con số 0, Đại tướng đã có và có tất cả những đơn vị chiến đấu giỏi, những đơn vị phục vụ chiến đấu tinh thông nghiệp vụ, đáp ứng được nhu cầu của các giai đoạn chiến tranh trong hoàn cảnh đất nước nghèo nàn, lạc hậu khốn khó trăm bề.
 
Trước hết, Đại tướng cùng với Quân ủy Trung ương hội tụ được đội ngũ đông đảo cán bộ các cấp, các ngành có đầy đủ khả năng độc lập, tự chủ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên những địa bàn chiến đấu ở cách xa trung tâm chỉ huy, cực kỳ gian khổ khó khăn, trải rộng trên khắp các mặt trận, chiến trường ba nước Đông Dương.
 
Bộ đội chủ lực đã có những trung đoàn, sư đoàn, quân đoàn, binh đoàn trở thành những “Quả đấm thép”, những đơn vị anh hùng có năng lực và hiệu suất chiến đấu rất cao.
 
Bộ đội đặc công đặc biệt tinh nhuệ, từng giáng cho địch những đòn sấm sét kinh hoàng được xây dựng thành một binh chủng chính quy là một điều lạ thường và hiếm thấy trong quân đội các nước trên thế giới.
 
Dân quân du kích, tự vệ chiến đấu, bộ đội địa phương phát triển lớn mạnh vượt bậc, có khả năng bắn rơi máy bay, bắn chìm tàu chiến, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực các đơn vị chính quy của địch
.
Ngành tình báo quân sự và tình báo chiến lược Việt Nam cực kỳ mưu trí, tài giỏi.
 
Các chiến sĩ ngành quân y, văn công, phóng viên ra tận tuyến lửa, trận địa phục vụ chiến đấu. Các “Anh nuôi” với cái bếp mang tên người anh hùng Hoàng Cầm, đưa cơm nước đến tận chiến hào. Lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, các chiến sĩ bộ binh… mang vác nặng hành quân bộ hàng trăm, hàng ngàn cây số ra mặt trận, vượt qua biết bao sông suối, núi rừng, đói rét, bệnh tật, đạn bom mà lòng vẫn vui phơi phới, tràn đầy niềm tin tất thắng.
 
Từ yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu và ý kiến trao đổi của một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cấp dưới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người đã đề xuất và trực tiếp chỉ đạo, tổ chức mở sớm Đường Trường Sơn, một con đường mòn về sau tiến lên đường cơ giới hóa và mang tên huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh”. Đồng thời, còn phát triển thêm tuyến chi viện trên biển. Tác dụng của những con đường này vô cùng to lớn đối với công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
 
Phương Tây hết sức khâm phục Việt Nam với mạng lưới thông tin liên lạc và giao thông vận tải quá thô sơ không hơn thế kỷ XVIII, đảm bảo hậu cần chiến tranh bằng gồng gánh, xe đạp thồ, mang vác trên vai người không dưới 50kg, một nền hậu cần thời trung cổ đã đánh bại nền hậu cần hiện đại khổng lồ của quân đội Mỹ. Sự vận dụng độc đáo, sáng tạo đó chính là bắt nguồn từ thiên tài quân sự.
 
Tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến thắng có ý nghĩa quốc tế của Quân đội nhân dân Việt Nam - Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Thị Hồng Hạnh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Mục tiêu Điện Biên Phủ đầu tiên chưa xuất hiện. Tên Điện Biên Phủ hầu như chưa xuất hiện trong “Kế hoạch Nava”, cũng như trong kế hoạch Đông Xuân 1953 - 1954 của phía Việt Nam. Vì sao lại chọn Điện Biên Phủ làm trận quyết chiến chiến lược? Qua đây khẳng định quyết tâm và sự chỉ đạo rất linh hoạt và nhạy bén của Đảng và qua đó thấy được sự quyết đoán, táo bạo, chính xác, kịp thời của vị Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp trong quá trình chỉ đạo thực hiện chiến dịch Điện Biên Phủ”.
 
Trong cuốn sách “Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp” của Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (tên nguyên văn cuốn sách là La bataille de Dien Bien Phu, xuất bản ở Pari năm 1963), tác giả Jules Roy đã nhận xét khá tinh tế và thú vị rằng: “Không phải viện trợ bên ngoài đã đánh bại tướng Navarre, mà chính là những chiếc xe đạp Peugeot thồ 200, 300kg hàng ngày và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm nilon. Cái đã đánh bại Tướng Navarre không phải là phương tiện, mà là sự thông minh và ý chí của đối phương”.
 
3. Nghệ thuật quân sự
 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất cẩn trọng trong so sánh tương quan lực lượng đôi bên, không bao giờ đánh giá thấp đối phương nhưng cũng không bao giờ đề cao hoặc gờm ngại lực lượng và sức mạnh của địch. Bằng nhiều phương thức khác nhau, Ông theo dõi sát, nắm rất chắc tình hình cả lâu dài và trước mắt ở chiến trường và tại chính quốc, phân tích sâu kỹ một cách hết sức khách quan, khoa học, nhờ đó, đã “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, hạn chế chỗ mạnh tạm thời, khoét sâu mâu thuẫn, nhược điểm của đối phương ngày càng lớn. Công tác tuyên truyền đối nội, đối ngoại luôn tập trung làm rõ 3 chỗ yếu cơ bản của địch không thể nào khắc phục nổi:
 
+ Tính chất các cuộc chiến tranh của Pháp, Mỹ ở Đông Dương là chiến tranh xâm lược, phi chính nghĩa. Quân đội đế quốc cực kỳ dã man, tàn bạo.
 
+ Kẻ thù xâm lược không có những điều kiện tối quan trọng được xem là thuộc tính của chiến tranh: “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, mà lòng dân thuộc về ai thì kẻ đó sẽ thắng.
 
+ Phương thức tác chiến tập trung quy mô lớn và hiện đại, đánh nhanh thắng nhanh của đội quân xâm lược Pháp, Mỹ là hoàn toàn không thích hợp ở chiến trường Việt Nam, mà quân và dân ở đây lại tiến hành chiến tranh quy mô nhỏ, sử dụng rộng rãi chiến tranh du kích, đánh lâu dài, toàn dân là chiến sĩ.
 
Chính những chỗ yếu cơ bản này không thể nào khắc phục được, đã làm cho nội bộ giới cầm quyền và chỉ huy của đối phương luôn mâu thuẫn, lục đục, lực lượng quân sự trên chiến trường ngày càng tổn thất, suy kiệt, tinh thần sĩ quan, binh lính ngày càng hoang mang, tuyệt vọng, chán ghét chiến tranh, nhân dân ở chính quốc và dư luận tiến bộ trên thế giới phản đối kịch liệt, không ủng hộ. Ngược lại, quân và dân Việt Nam căm thù địch sâu sắc, càng nêu cao lòng yêu nước, quyết tâm chiến đấu bảo vệ bằng được độc lập, tự do cho Tổ quốc.
 
Về chiến lược, khi địch chiếm ưu thế về binh hỏa lực, Võ Nguyên Giáp biết tổ chức phòng ngự, cầm cự, tấn công tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, tránh tổn thất lớn cho ta, và khi đã tạo được thế cân bằng hoặc vượt trội, thì lập tức chuyển sang phản công, tấn công mạnh mẽ làm cho địch tổn thất nặng nề.
 
Về chiến dịch, chiến thuật và trong chiến đấu, khi địch tập trung binh hỏa lực mở những cuộc hành quân quy mô lớn, các đơn vị vũ trang Việt Nam biết cách phân tán lực lượng, tránh đối đầu trực diện theo kiểu đánh “Vỗ mặt, chọi trâu”, thực hiện “Lai vô ảnh, khứ vô hình”, khiến địch không tìm thấy đối phương; đánh vào chỗ trống, tốn rất nhiều sức lực, tiền của nhưng không mang lại hiệu quả như mong muốn. Ngược lại, đụng đầu với cuộc chiến tranh toàn dân mà tất cả đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con đều là chiến sĩ, làm cho chúng bị thương vong, lo sợ cái chết luôn rình rập. Chúng nơm nớp sợ hãi cả gỗ, đá, thân tre, lá lúa cũng biến thành chông, bẫy, gươm, dao có thể sát hại chúng mọi nơi, mọi lúc. Đồng thời, quân chủ lực Việt Nam lại nắm rất chắc tình hình địch, tập trung lực lượng bất thần đánh giá vào chỗ yếu và hiểm yếu sơ hở, khiến chúng bị thương vong to lớn, hết sức khiếp đảm.
 
Khoét sâu chỗ yếu của địch, Võ Nguyên Giáp đã buộc đế quốc Pháp từ tấn công ồ ạt bị thất bại, phải chuyển sang phòng ngự, cuối cùng là co cụm trong các cứ điểm kiên cố, để rồi nhận thất bại cay đắng ở Điện Biên Phủ. Còn đế quốc Mỹ phải bốn lần thay đổi chiến lược quân sự: “Lập ấp chiến lược dồn dân, bình định nông thôn”, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, chiến lược “Chiến tranh Cục bộ” và cuối cùng là chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghiên cứu và phân tích rất thấu đáo những điểm yếu của địch cả về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật để hạ quyết tâm trước khi hành động. Vì vậy, Ông là nhà cầm quân chiến lược luôn làm cho đối phương sa lầy, bị động, buộc phải thay đổi thế cờ và đánh theo cách đánh của Ông, từ đó đã thua trận. Người ta gọi đó chính là thiên tài quân sự.
 
4. Về chiến lược, chiến thuật quân sự
 
Hơn 30 năm chỉ huy quân sự, Võ Nguyên Giáp chưa từng bao giờ phạm sai lầm về chiến lược. Ngược lại, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, cùng với quân và dân Việt Nam anh hùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã buộc 10 danh tướng tổng chỉ huy quân đội Pháp, Mỹ mắc sai lầm về chiến lược và thua trận, trong đó có 7 đại tướng Pháp: Philíp Lơcléc, Êchiên Valuy, C. Bledô, M.Các păngchiê, Đờ lát đờ tátxinhi, Raun Xalăng, Hăngri Nava và 3 đại tướng Mỹ là Oetsmolen, C.Abram, F.C. Uaayen.
 
Các thiên tài quân sự thường truyền lại binh thư, binh pháp cho người đời. Võ Nguyên Giáp đã dốc tâm nghiên cứu học thuyết quân sự của cả giai cấp vô sản và tư sản, cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô, chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc, lý luận quân sự của Claudơvít, những trận đánh của Napôlêông, đặc biệt là truyền thống đánh giặc của tổ tiên và dân tộc ta, những trận đánh thắng và không thắng của ta trong chống Pháp, chống Mỹ, đúc kết thành những nguyên tắc quân sự độc đáo, làm giàu thêm kho tàng lý luận quân sự Việt Nam.
 
Đại tướng không qua một trường lớp quân sự chính quy nào, không tiến thân bằng con đường quân sự học đường. Ông học tập và trưởng thành trong thực tế là chính. Chiến tranh luôn ẩn chứa nhiều yếu tố ngẫu nhiên không thể biết và lường trước được hết. Ông không xử trí chiến thuật quân sự bằng những “giải pháp quân sự cố định của học đường”, mà luôn xuất phát từ thực tế chiến trường để giải quyết mọi tình huống ngoài dự kiến và lật ngược thế cờ.
 
Nhà sử học người Pháp Gio óc giơ Bu đarren viết trên tờ báo Pháp Người quan sát mới bài: “Tướng Giáp suýt thua trong trận Điện Biên Phủ như thế nào?”. Nêu đầu đề khá giật gân nhưng ông ta phản biện khá thú vị, cụ thể: “Tướng Giáp đã hai lần tấn công thất bại con nhím Nà Sản”. Lần thứ nhất, dùng chiến thuật “Đầu nhọn, đuôi dài…” bị tổn thất mà không thắng. Lần thứ hai, sớm nhận ra Tướng Giáp sẽ thay đổi chiến thuật, chỉ đạo dùng cách đánh “Khoanh chặt để bắt sống con nhím”, Nava lập tức cho rút khỏi Nà Sản. Quân đội Việt Nam đã giải phóng được một vùng rộng lớn, nhưng thất bại về ý đồ và mục đích chính là tiêu diệt sinh lực địch.
 
Tướng Giáp dám cả gan “Khoanh chặt để bắt sống con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ” là ông dám thế chấp sinh mạng chính trị của mình cho trận đánh, vì nếu thua ông ta sẽ mất hết, dù ông còn sống thì đó cũng chỉ là sự tồn tại.
 
Phải có một bản lĩnh lớn, ông mới thuyết phục được các cố vấn Trung Quốc từ bỏ ý định “Đánh nhanh, thắng nhanh với chiến thuật đầu nhọn, đuôi dài, nở hoa trong lòng địch”. Và mọi người đã chấp thuận cách đánh của ông - cách đánh của Việt Nam “Bao vây, đánh lấn, đánh chắc, tiến chắc” theo kiểu bóc vỏ, xẻ múi, nghiền hạt. Tướng Giáp đã bắt sống con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ, không cho nó xổng chuồng”…
 
Tài nghi binh chiến dịch, đặc biệt là lý luận về “Trận đánh quyết định” của Võ Nguyên Giáp được giới quân sự thế giới rất chú ý và nghiên cứu. Ông cho rằng: Ta có thể đánh thắng địch trong khi chúng đông quân nhất, nhiều vũ khí nhất và ngay cả khi chúng cho là ta không thể thắng chúng, miễn là ta có cách đánh đúng, thích ứng với tình hình thực tế…
 
Ông rất sáng suốt, nhạy bén, sắc sảo và hành động một cách hết sức quyết liệt, mau lẹ, kịp thời trong nghệ thuật chớp thời cơ, không bỏ qua thời cơ “ngàn năm có một” nào khi thời cơ lịch sử đã đến và bắt tay thực hiện ngay học thuyết của mình về “Trận đánh quyết định” trong cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang tháng 8/1945, ở mặt trận Điện Biên Phủ, trong trận “Điện Biên Phủ trên không” và trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Xuân 1975.
 
Sau khi khẳng định Hăngri Nava, Tổng chỉ huy quân Pháp cho chiếm đóng Điện Biên Phủ là một sai lầm nghiêm trọng về chiến lược, ông chấp nhận cuộc đối đầu lịch sử ngoài dự kiến, cho dù gặp phải vô vàn thách thức, khó khăn, gian khổ. Vấn đề còn lại với ông chỉ là cách đánh. Ông đã giải được bài toán hóc búa và làm nên một chiến thắng chấn động địa cầu, mở đầu cho sự tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.
 
Trong trận “Điện Biên Phủ trên không”, nhận rõ đế quốc Mỹ dốc toàn lực cho canh bạc cuối cùng, leo lên nấc thang tột đỉnh của chiến tranh, ông đã huy động sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân ở mức cao nhất, tập trung toàn bộ lực lượng mang tính quyết định ở những trọng điểm và quyết chiến điểm, chiến đấu ngoan cường, liên tục suốt 12 ngày đêm, bắn rơi 82 máy bay, trong đó có 34 “siêu pháo đài bay” B52, làm nên một kỳ tích vĩ đại nhất của những trận không chiến thế giới trong thế kỷ XX, buộc đối phương phải chấp nhận xuống thang và chấp nhận “Mỹ cút”.
 
Xuân 1975, sau chiến thắng Buôn Ma Thuột và địch rút bỏ Tây Nguyên, thời cơ chiến lược “Một ngày bằng hai mươi năm” đã đến. Ông nhất quyết không bỏ qua cơ hội có một không hai này. Đây là trận quyết chiến chiến lược, “Trận đánh quyết định” cuối cùng của chiến tranh Việt Nam. Võ Nguyên Giáp hạ quyết tâm lấy đòn tấn công quân sự với những quả đấm thép cực mạnh của quân chủ lực là chính, kết hợp với nổi dậy giành quyền làm chủ của quần chúng. Ông tung tất cả các quân đoàn vào trận đánh, kể cả lực lượng dự bị chiến lược của Tổng hành dinh. Đặc biệt là cho thành lập cánh quân phía Đông với lực lượng binh chủng hiệp đồng theo kiểu tập đoàn quân, làm mũi đột kích chủ yếu. Đồng thời, Ông hạ một mệnh lệnh bất hủ: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”.
 
Bằng sức mạnh tổng hợp chiếm ưu thế tuyệt đối, Ông đã tổng chỉ huy công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam trong vòng chưa đầy 2 tháng, trong đó có cả quần đảo Trường Sa.
 
Tướng Oétmolen nhận định: “Võ Nguyên Giáp là một vị tướng vĩ đại. Ông Giáp có tất cả đức tính của một thống soái quân sự lớn, đó là sự quả đoán, tính kiên quyết, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung suy nghĩ và hành động, trí thông minh. Những vị tướng chỉ huy quân sự ở cấp cao buộc phải có đức tính này, nếu không, họ sẽ không tồn tại lâu được” .
 
Bách khoa toàn thư quân sự Bộ Quốc phòng Mỹ xuất bản năm 1993 viết: “Tài thao lược của Tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao… Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng với sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy sử” .
 
Nhà sử học quân sự Mỹ Xê xi B.Curi trong tác phẩm “Chiến thắng bằng mọi giá”, đã nhận xét: “…Võ Nguyên Giáp, vị Đại tướng thiên tài của Việt Nam. Ông không chỉ trở thành huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của các thời đại. Trong lịch sử, ít người có những thành tựu quân sự sánh kịp Ông…” .
 
5. Về văn hóa quân sự.
 
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng tài đức song toàn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam luôn bày tỏ lòng yêu quý, kính trọng và tự hào về tài, đức của Ông. Thế giới cũng rất nể phục nhân cách, đức độ của ông.
 
Trong lĩnh vực văn hóa quân sự, đạo làm tướng đã chỉ dụ người cầm quân phải biết đau trước từng vết thương, biết tiếc từng giọt máu của của tướng sĩ. Đại tướng luôn tâm đắc và chuyển đến cán bộ thuộc quyền câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có trận thắng nào gọi là đẹp cả”. Không ít lần Đại tướng đã khóc trước những thương vong, tổn thất của đồng bào, chiến sĩ, không cầm được nước mắt trước sự hy sinh anh dũng của học sinh, sinh viên ở dòng sông Thạch Hãn, Thành cổ Quảng Trị. Trước những chiến dịch, những trận đánh, Đại tướng thức thâu đêm suy tính chi ly tìm đủ cách giải bài toán tỷ lệ nghịch giữa thương vong và chiến thắng, nhằm tìm đáp số giành thắng lợi to lớn nhất nhưng hạ thương vong xuống mức thấp nhất.
 
Là Bí thư Quân ủy Trung ương, ông đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ quán triệt tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, đạo lý truyền thống văn hóa của nhân dân và Đảng ta. “Bộ đội Cụ Hồ” là hình ảnh tiêu biểu chủ nghĩa nhân đạo của Quân đội nhân dân Việt Nam, một quân đội hết lòng yêu thương, sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của dân tộc mình và láng giềng, bạn bè cùng cảnh ngộ, bao dung, độ lượng với kẻ thù, chiến đấu không chỉ vì độc lập, tự do của dân tộc mình mà còn vì tình hữu nghị, hòa bình và tiến bộ xã hội của thế giới. Thực tiễn cho thấy, ít có một quân đội có được bản sắc và hành động văn hóa cao cả, tốt đẹp như quân đội ta.
Họa sỹ Lê Trí Dũng  kể lại một câu chuyện của người “Anh cả Quân đội”: Một ngày giáp Tết Nhâm Tý - 1972 tại Ninh Bình, Sư đoàn 338 của anh được lệnh xuất quân vào chiến trường B. Đại tướng đến thăm chúc Tết và động viên đơn vị. Ông xuống xe đi bộ giữa hai hàng quân, vẫy tay chào. Đột nhiên ông dừng lại trước một người lính trẻ độ mười sáu, mười bảy tuổi, người nhỏ bé nhưng mặc bộ quân phục có số 2 rộng thùng thình. Ông nở nụ cười ôn tồn hỏi:
 
- Đồng chí nhập ngũ bao lâu rồi?
 
- Báo cáo Đại tướng, gần một tháng ạ.
 
- Thế đã học chào chưa?
 
Anh lính trẻ lúng túng chưa kịp trả lời, bỗng thấy Đại tướng dập gót chân đứng nghiêm và giơ tay chào. Anh lính trẻ bất thần đứng thẳng người chào đáp lại, đôi mắt rực sáng. Tiếng hô “…muôn năm!” vang dậy đất trời. Thật quá đỗi lạ lùng: Một Đại tướng, Tổng Tư lệnh chào một anh binh nhì trước giờ xuất trận. Một cảnh tượng đẹp quá! Trong một đạo quân mà tình “Phụ tử chi binh” thân ái đến như vậy, thì người lính sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh vì một tấm lòng, một nghĩa cử văn hóa cao đẹp tuyệt vời của một chủ tướng anh minh.
 
Là người Tổng Chỉ huy quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiểu rõ hơn ai hết cái giá phải trả của chiến tranh. Đại tướng xem việc quý trọng sinh mạng con người không chỉ là vấn đề đạo đức, trách nhiệm mà còn là thước đo trình độ và phẩm chất văn hóa của người cầm quân.
 
Dĩ công vi thượng, sống khiêm tốn, giản dị, thanh cao, quyết đoán nhưng dân chủ, kỷ luật, bao dung và nhân hậu, hết lòng yêu thương con người, đánh thắng kẻ thù nhưng ta thương vong thấp nhất… đó là nhân cách phi thường của thiên tài quân sự.
 
Khi Đảng tiến hành công cuộc đổi mới, Đại tướng ủng hộ mạnh mẽ chủ trương đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị và phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
 
Để tiến hành cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh” đạt hiệu quả cao, nhận thấy ông là người rất thích hợp, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã đề nghị Đại tướng tham gia nghiên cứu, đóng góp vào nhiệm vụ quan trọng này. Đại tướng vui vẻ nhận lời và bắt tay viết ba chuyên luận: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, “Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh”, “Thế giới đổi thay, tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi”. Những tác phẩm này có giá trị lý luận, thực tiễn rất sâu sắc, góp phần củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng và làm kim chỉ nam cho hành động của Đảng trong thời kỳ mới.
 
Tháng 8 năm 2010, chào mừng ngày sinh lần thứ 100 của Đại tướng, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam - Tạp chí xưa và Nay phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật đã xuất bản cuốn sách: “Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với Sử học Việt Nam”. Cuốn sách quý này chọn lọc đăng 34 bài báo của Đại tướng viết về các danh nhân, các sự kiện lịch sử lớn của đất nước cùng nhiều tác giả viết về Đại tướng. Cuốn sách đã hội tụ được nhiều đánh giá khách quan, sâu sắc, nhất là của người nước ngoài, đã khắc họa sắc nét, tinh tế chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Là một trong những học trò và bạn chiến đấu xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện, Võ Nguyên Giáp không ngừng nỗ lực tự học, tu dưỡng, phấn đấu vươn cao ngang tầm thời đại, trở thành một Đại tướng của nhân dân, Đại tướng của quân đội cách mạng, một nhà văn hóa lớn của Việt Nam…”.
 
Sách có câu: Thời thế tạo anh hùng và anh hùng góp phần làm nên thời thế. Thời đại Hồ Chí Minh đã sản sinh ra biết bao bậc lão thành cách mạng, các nhà yêu nước nổi tiếng được nhân dân yêu quý, biết ơn và kính trọng như những bậc khai quốc công thần, những vị anh hùng dân tộc một lòng vì nước vì dân, mà Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một trong những nhân vật lịch sử như thế.
 
Cuộc đời Đại tướng Võ Nguyên Giáp mãi là tấm gương của một nhân cách văn hóa lớn, liêm khiết, giản dị và khoan dung. 103 tuổi đời, hơn 70 tuổi Đảng, những cống hiến to lớn của Đại tướng mãi in đậm trong lòng nhân dân, là vị tướng của nhân dân, mãi lưu danh trong lịch sử dân tộc.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}