Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Để biết thêm về Trần Khánh Dư

Vũ Bình Lục | Thứ Hai, 11/12/2017 10:28 GMT +7

Dưỡng chân bình thôn tử là tên hiệu của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, một danh tướng lắm tài nhiều tật, nhưng lại sống rất thọ ở đời Trần (1226-1400).

Dịch nghĩa:

TRANG TRẠI CỦA NHÂN HUỆ VƯƠNG DƯỠNG CHÂN BÌNH THÔN TỬ

Mấy dãy nhà trong trang trại dựa vào núi cao chót vót,

Một chiếc gối nằm khểnh ở xa triều đình và thành thị.

Miền góc biển trên bản đồ đã theo giáo hóa của nhà vua,

Nhân vật ở chân trời vui với việc câu cá hái củi.

Tiếng suối chảy lặng lẽ, vì nước triều ít dâng lên,

Bóng cây dương thưa thớt nên ánh trăng tràn ngập.

Mũi rồng đâu có giống mỏ chim,

Xin chớ thả thuyền lênh đênh trên Ngũ Hồ xa xôi.

DỊCH THƠ

Bản dịch của Đào Phương Bình và Nam Trân:

Nhà ai mấy khóm dựa non cao,

Chiếc gối thênh thênh lánh thị triều.

Góc biển dư đồ chung giáo hóa,

Chân mây nhân vật mến ngư tiều.

Êm êm tiếng suối, triều lên ít,

Thưa thớt lùm cây, nguyệt sáng nhiều.

Mỏ quạ, mũi rồng đâu phải một,

Ngũ Hồ chớ nghĩ thú tiêu dao.

Bản dịch của Vũ Bình Lục:

Mấy dãy nhà dựa non cao,

Xa nơi đài các, khác nào tiên ông.

Khi hái củi, lúc câu sông,

Dẫu xa xôi, cũng là trong nước nhà.

Triều im, lắng tiếng suối xa,

Cây thưa, trăng sáng vỡ òa mênh mang.

Mũi rồng đâu giống mỏ chim,

Ngũ Hồ xin chớ ham tìm tiêu dao.

Dưỡng chân bình thôn tử là tên hiệu của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, một danh tướng lắm tài nhiều tật, nhưng lại sống rất thọ ở đời Trần (1226-1400).

Tuổi trẻ, Khánh Dư lập công lớn trong trận tập kích quân Nguyên Mông ở bến Đông Bộ Đầu, góp phần thắng lợi quan trọng vào việc đánh đuổi quân Nguyên khi chúng xâm lược nước ta lần thứ nhất. Ông được Trần Thánh Tông nhận làm con nuôi, phong chức Phiêu kỵ Đại tướng quân. Sau vì mắc lỗi quan hệ “ngoài luồng” với vợ Hưng Trí Vương Quốc Nghiễn (con trai Trần Hưng Đạo), nên bị cách hết chức tước, đuổi về quê, làm nghề bán than ở Chí Linh, ấp phong của cha ông là Thượng tướng Trần Phó Duyệt. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 (1282-1285), vua Trần Nhân Tông mở hội nghị bàn việc quân ở Bình Than, Trần Khánh Dư lại được triều đình cho bàn việc quân, rồi bổ nhiệm chức Phó Đô tướng quân, lập nhiều chiến công. Cuộc kháng chiến lần thứ 3 (1287-1288), Trần Khánh Dư thống lĩnh đạo quân vùng Đông Bắc, tập kích quân Nguyên thất bại, bị triều đình luận tội theo luật. Ông xin được tạm hoãn thi hành và sau đó lại lập công chuộc tội, đốt cháy đoàn thuyền vận lương của Trương Văn Hổ, khiến quân Nguyên mau chóng phải rút lui, rồi sau đó bị Trần Hưng Đạo phục binh ở cửa sông Bạch Đằng, tiêu diệt hoàn toàn đạo quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới, kết thúc chiến tranh.

Cuối đời, Trần Khánh Dư sống ở Vân Đồn, trong trang trại riêng của mình. Đây có lẽ là bài thơ Trần Minh Tông viết khi ghé thăm Trần Khánh Dư ở trang trại Vân Đồn, có thể là ở đảo Quan Lạn (đúng ra phải đọc là Quang lạn) ngày nay chăng ?

Hai câu đầu tả khái quát trang trại và hình ảnh ông chủ trại Trần Khánh Dư. Không phải là lầu gác nguy nga tráng lệ, chỉ là mấy dãy nhà dựa vào núi cao chót vót thôi. Có lẽ đấy là mấy dãy nhà của Trần Khành Dư ở đó, hoặc cho kẻ ăn người ở của ông chủ trại. Trần Khánh Dư như một ẩn sĩ, với một chiếc gối nằm khểnh ở xa triều đình và kinh thành phồn hoa đô hội.

Câu 3&4 thừa tiếp ý hai cầu đầu, nói thêm về nhân vật hiếm lạ độc đáo này. Ở vùng biên cương đông Bắc nhiều núi non sông nước xa xôi này, ngài chỉ vui với việc câu cá và hái củi. Khi ngư, khi tiều, như một thường dân sống tự do, không bị ai ràng buộc. Ở nơi đây, chỉ thấy:

Tiếng suối chảy lặng lẽ, vì nước triều ít dâng lên,

Bóng cây đường thưa thớt nên ánh trăng tràn ngập.

Cảnh có vẻ hoang sơ, nhưng cũng rất trong trẻo và thơ mộng.

Hai câu kết bài thơ là lời trách khéo của vua Trần Minh Tông với Trần Khánh Dư, khuyên ông nên hãy vì triều đình mà gắng sức thể hiện tài thao lược của mình, không nên buông thả sống theo chí riêng nơi hồ hải. Vua Trần Minh Tông phân giải thêm rằng:

Mũi rồng đâu có giống mỏ chim,

Xin chớ thả thuyền lênh đênh trên Ngũ Hồ xa xôi…

Mượn điển bên Tàu. Hán Cao Tổ Lưu Bang mũi rồng trán vuông. Khác với Việt Vương Câu Tiễn cổ dài miệng nhỏ như mỏ chim, là người có thể cùng chung hoạn nạn nhưng không thể cùng sống lâu dài. Sách Ngô Việt Xuân Thu viết: “Việt Vương Câu Tiễn cảnh trường điểu chuế, khả dĩ cộng hoạn nạn, bất khả dữ trường xử lạc”. Lại nhớ, ở đời Hậu Lê, Phạm Văn Xảo cũng đã từng nói với Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn, rằng tôi xem tướng chúa công ta (tức Lê Lợi) có tướng Việt Vương Câu Tiễn. Ba chúng ta là người Bắc Hà, nên lui về cho sớm kẻo vạ đến thân ! Quả nhiên, Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn cáo quan về quê sinh sống, an hưởng tuổi già. Nguyễn Trãi bền lòng ở lại giúp vua dựng xây đất nước. Nhưng Trần Nguyễn Hãn, Phạm Văn Xảo dù đã lui về, vẫn bị chiến hữu Lê Lợi bức phải chết. Nguyễn Trãi bị bắt giam rồi lại được tha. Nhưng khoảng chục năm sau thì ông cũng bị án oan, tru di tam tộc. Lời nhận xét của Phạm Văn Xảo, ví Lê Lợi tướng mạo chả khác gì Câu Tiễn, thật ứng nghiệm.

Ở đây, Trần Minh Tông có ý nói rằng vua ta không phải Việt Vương Câu Tiễn, nên tướng quân Khánh Dư không nên bỏ ta mà đi rong chơi Ngũ Hồ như Phạm Lãi, hưởng thú vui một mình. Tình thơ chân thành, ý thơ thâm thúy !

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}