Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Đền Bia hiển thánh, chuyện từ cứ liệu lịch sử

Đặng Văn Lộc | Thứ Hai, 03/02/2020 18:06 GMT +7

Chuyện Đền Bia ở thôn Văn Thai, xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng hai lần hiển thánh, không chỉ là tin đồn mà còn được ghi trong văn bản của chính quyền địa phương báo cáo triều đình năm 1938. Tuy nói hiển thánh nhưng câu chữ không mô tả cụ thể đâm ra cứ lờ mờ. Đến khi đọc sách của Tiến sĩ Phan Thúc Trực, viết năm 1851(?) mới rõ.

Hình như Ts Phan Thúc Trực chưa được tiếp cận thần tích về Tuệ Tĩnh viết chữ Hán Nôm lưu ở An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng.

Chúng tôi được tiếp cận tư liệu Tuệ Tĩnh hiển thánh 2 lần. Tư liệu này do các vị chức sắc cao nhất làng, gồm chánh hội, lý trưởng làng Nghĩa Phú (quê hương của Tuệ Tĩnh) ghi trong bản khai sự tích Thành hoàng làng Nghĩa Phú (làng Xưa), tổng Văn Thai huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương năm 1938.

Bản khai phản ánh các nội dung: Mốc thời gian 2 lần hiển thánh thời Nguyễn, linh ứng của thuốc Nam, số người đến xin thuốc thánh và số tiền cúng. Bản khai viết, “đến bản triều vua Thiệu Trị (1841 - 1847), ngài có hiển thánh cứu dân độ thế, cứ mớ lá nén hương thành tâm đến kêu ngài mà bệnh gì cũng khỏi”…  Đến năm Bảo Đại thứ 11 (1935) ngài lại hiển thánh, một ngày đến nghìn vạn lượt người đến xin thuốc, chữa được nhiều người khỏi bệnh. Trong 3 tháng các người thành tâm cúng, tổng cộng được 1500.đ 00, khoản tiền ấy làm được 1 toà tiền tế.

Ở tài liệu trên, chỉ ghi Tuệ Tĩnh hiển thánh vào triều vua Thiệu Trị (tức là vào quãng thời gian từ năm 1840 đến 1847) nhưng không có ngày, tháng, năm cụ thể. Mô tả chi tiết việc hiển thánh chỉ nói được bằng ngữ: “ngài cứu dân độ thế”.

Nhưng cứu dân (giúp đỡ, vớt kéo người dân ra khỏi chỗ tai nạn), độ thế (cứu tế người đời) như thế nào, bằng hành động gì vẫn còn nằm trong bí ẩn từ ngày đó đến nay. Đem thắc mắc này, chúng tôi đã nhiều lần trong vòng gần 30 năm đến Đền Bia, Đền Xưa hỏi các bậc cao niên người làng Văn Thai, làng Nghĩa Phú, hỏi người am hiểu về lịch sử ở một số xã gần đền Bia. Các cụ cũng chỉ cho biết: Ngài hiển thánh, dân các nơi về lễ rất đông, xin thuốc bằng việc hái gần như hết cả lá cây, thậm chí cả lá lúa, múc cạn nước đầm ao.

Bổ sung vào sự kiện này, sách Quốc sử di biên của Tiến sĩ Phan Thúc Trực cho biết đến hơn 5 chi tiết chưa hề có trong hồ sơ về Tuệ Tĩnh. Tài liệu này còn cho biết nhiều chi tiết có giá trị sử học khác với những điều in trong sách báo gần đây như: Tháng và năm Tuệ Tĩnh hiển thánh. Tuệ Tĩnh là tên hiệu, còn tên tự là Lê Đức Toàn, được sứ nhà Tống đón sang chữa bệnh cho Hoàng hậu chứ không phải đi sứ như một số tài liệu đã viết. Tuệ Tĩnh sang chữa bệnh cho Hoàng hậu rồi ở lại và mất ở nước Tống, được vua Tống chôn cất, lập bia đá. Đến đời Lê (khoảng năm 1695), tấm bia ấy được vị Tiến sĩ (Nguyễn Danh Nho) đi sứ mang về quê ông, cũng như số phận của tấm bia sau lần hiển thánh). Tiến sĩ Phan Thúc Trực còn cho ta biết, quyển sách thuốc do Tuệ Tĩnh viết sau hơn 400 năm được vua Lê Dụ Tông ban tên là Giác Tư.

Sách Quốc sử di biên ghi: “Tháng 5 nhuận năm Bính Ngọ (1846), có thần giáng ở xã Văn Thai, huyện Cẩm giàng. Trước đó, đời Lý, Trần, người xã Nghĩa Lư là Lê Đức Toàn, tự hiệu là Tuệ Tĩnh thiền sư, hái thuốc Nam trị bệnh cho người Nam, tiếng đồn sang Nam Tống. Hoàng hậu nhà Tống ốm, sai sứ sang đón. Tuệ tĩnh ở lại Giang Nam, sau chết ở nước Tống. Vua nhà Tống chôn cất, lập bia đá. Sau có quan người xã Văn Thai, sang sứ Trung Quốc, đem bia đá ấy về, dựng làm mốc cho xã Văn Thai. Tuệ Tĩnh làm sách y phương có 13 bài thuốc. Đời Lê Dụ Tông, cho tên là Giác Tư. Bia đá ấy hiển linh, mọi người lập đền thờ. Tháng ấy dịch đậu mùa phát ra nhiều nơi, có người bị bệnh đậu đến đứng cửa đền kêu khóc, chợt có người già hái thuốc cho, chữa bệnh linh nghiệm. Bởi thế xa gần đồn đại, đến cửa đền xin thuốc, Thanh- Nghệ trở ra, Bắc Thái - Lạng trở vào Nam, đường xá đi lại như mắc cửi, cúng tiền, cúng lễ, xa nghìn dặm cũng đến. Sau đến tháng 8, vua sai quan khâm phái đến đấy, đem bia đá ấy chôn đi, thu tiền để vào kho công”. (Phan Thúc Trực- Quốc sử di biên- NXB Văn hoá Thông tin -2009 trang 438).

Chi tiết “tháng ấy có dịch đậu mùa phát ra nhiều nơi, có người bị bệnh đậu đến đứng cửa đền kêu khóc, chợt có người già hái thuốc cho, chữa bệnh linh nghiệm” đã cho ta biết khá cụ thể chuyện hiển thánh.

Từ góc nhìn biện chứng và khoa học thì thuốc nam ở Đền Bia có tác dụng dập một dịch bệnh lớn, hiệu quả cực kì nhanh. Người già hái thuốc ở Đền Bia cho người dân xin thuốc vào thời điểm thiêng ấy giống một người dân tuổi bô lão hiểu biết kinh nghiệm chữa bệnh bằng thuốc Nam. Điều này phản ánh một sự thật lịch sử về năng lực chữa bệnh của những lương y thừa kế Tuệ Tĩnh, họ có biệt danh "thày thuốc chân đất". Phải chăng, Tiến sĩ Phan Thúc Trực dùng chữ thánh giáng là muốn mượn khẩu ngữ đương thời để mô tả sự kiện lịch sử đó?

Chuyện về sự kiện thánh giáng ghi trong sách Quốc sử di biên, theo giới nghiên cứu sử học, thời gian ghi chép rất gần với sự kiện xảy ra ở Đền Bia. Tiểu sử về Phan thúc Trực, trong phần giới thiệu về tác giả sách Quốc sử di biên ghi: Phan Thúc Trực, người An (Yên) thành tỉnh Nghệ An, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh năm 1847. Làm việc ở trong cung vua (nội các), làm việc ở Tập hiền thị giảng, kinh diên khởi cư chú. Năm 1851 vâng mệnh vua ra Bắc Kỳ tìm kiếm sách. Năm sau về đến Thanh Hoá, ốm chết. Từ trình độ học vấn, tầm quan trọng của công việc và mốc thời gian ông qua đời cho ta nghĩ đến độ tin cậy của tư liệu.

Có lẽ đây là tài liệu sử học sớm nhất ghi chép sự kiện Đền Bia hiển thánh lần thứ hai.

Hình như Ts Phan Thúc Trực chưa được tiếp cận thần tích về Tuệ Tĩnh viết chữ Hán Nôm lưu ở An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng.

THẦN TÍCH LÀNG AN LƯ, THỦY NGUYÊN, HẢI PHÒNG GHI VỀ TUỆ TĨNH HIỂN THÁNH
Đây là lần cụ Tuệ Tĩnh giúp dân dập dịch truyền nhiễm lần thứ nhất.
Triều Vua Trần Anh Tông (1293 - 1314), người Nghĩa Phú là thương gia Phạm Gia Trinh và bốn, năm người cùng làng đến khai hoang lập ấp ở An Lư, Thủy Đường (Thủy Nguyên), Hải Phòng. Được năm, sáu năm thì bị dịch bệnh đến mức nguy nan, họ thường mộng thấy vị quan râu tóc bạc trắng, trang phục chỉnh tề. Vị quan bảo, ta là người bản trang, là phúc thần. Thấy dân bị bệnh tật, ta nguyện chữa giúp cho. Chỉ thang thuốc Nam, uống vào là khỏi. Tỉnh mộng, người dân làm theo, lấy thuốc Nam uống, tự nhiên bệnh khỏi. Từ đó tai ương dần hết. Người dân nhớ ơn công đức của vị phúc thần, dựng miếu thờ cúng. Dâng biểu tâu Vua, nhà vua ban sắc phong Thượng thượng đẳng phúc thần, được thờ cúng muôn đời.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}