Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Di sản văn hóa của người Thái xứ Thanh

Ngô Thị Thu Hiền | Chủ Nhật, 12/04/2020 21:02 GMT +7

Người Thái xứ Thanh có số dân đứng thứ ba trong tổng số người Thái ở Việt Nam (sau tỉnh Sơn La và Nghệ An). Trong quá trình phát triển của lịch sử, người Thái xứ Thanh không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn quốc phòng an ninh mà các giá trị văn hóa truyền thống của người Thái còn có sức lan tỏa, ảnh hưởng tới các dân tộc khác sống cận cư trong vùng. Có thể thấy, do những nguyên nhân về lịch sử, xã hội mà các đặc trưng văn hóa của người Thái xứ Thanh có nhiều nét địa phương, tạo nên những tương đồng và nét khác biệt trong di sản văn hóa của người Thái xứ Thanh trong bức tranh chung của người Thái ở Việt Nam.

Người Thái xứ Thanh. Ảnh internet

1. Một số di sản văn hóa truyền thống của người Thái xứ Thanh

Trang phục truyền thống

Trang phục của phụ nữ Tày Dọ

Xửa cỏm (áo ngắn): Chiếc áo ngắn truyền thống của phụ nữ Tày Dọ được người phụ nữ tự dệt vải, tự cắt may theo kiểu xẻ ngực với màu sắc ưa dùng là màu sáng như màu trắng, màu hồng, màu xanh da trời, xanh nõn chuối,... nhưng không bao giờ dùng màu đen. Cổ áo tròn, thân áo ngắn đến lưng chừng ngang bụng vừa chấm với đầu váy, ống tay được chắp nối ở khuỷu tay để vừa dài đến cổ tay, hai túi áo nhỏ ở tà, cúc áo bằng nhựa. Đầu váy trắng, cạp màu đỏ, thân váy màu đen, chân váy thêu hoặc dệt hoa văn. Thắt váy ở phần bụng, không trùm lên đến ngực.

Váy (xín): Người Thái xứ Thanh Hóa gọi đầu váy là hua xín, eo váy là cang xín, thân váy là xín, chân váy là tín xín, cạp váy là pạn xín.

Kiểu váy truyền thống của phụ nữ Tày Dọ được gọi là xỉn xeo, loại váy thêu chân, có đầu váy cao khoảng 30 cm, giữa (cáng xín) dệt hoa văn cao khoảng 10-15cm là chỗ thắt dây lưng (xai eo). Thân váy không có hoa văn, cao khoảng 60 - 70cm, chân váy thêu hoa văn.

Đầu váy màu trắng, cang xín (eo váy) có hoa văn nhưng đơn giản, thân váy của phụ nữ Tày Dọ chủ yếu là màu đen không có hoa văn. Thân váy (xín) ngày xưa bằng vải tự dệt, nhuộm đen bằng cây hóm (tràm đen), vải dệt khổ rộng khoảng 60-70 cm cắt dài rồi khâu 2 đầu lại với nhau thành ống váy tròn có đường kính 70-80cm tùy người dùng có thể hình to hay nhỏ. Sau đó khâu nối với đầu váy, cang váy (eo váy), chân váy vào thành một chiếc váy hoàn chỉnh để mặc. Phần trang trí hoa văn đẹp chủ yếu là chân váy (tin xín).

Chân váy của phụ nữa Tày Dọ có nhiều loại, nếu lấy chân váy để đặt tên váy và dựa theo hoa văn trên chân váy, có các loại váy như sau: váy rồng (chân váy thêu nhiều hình rồng làm chủ đạo kết hợp một số hoa văn khác); váy hươu (chân váy thêu hoặc dệt nhiều hình con nai, con hươu làm chủ đạo kết hợp các hình khác); váy con voi (chân váy thêu hoặc dệt nhiều hình con voi làm chủ đạo kết hợp các hình phù trợ khác); váy mặt trời (chân váy thêu hoặc dệt nhiều hình mặt trời có tia vàng làm chủ đạo kết hợp các hình khác làm hoa văn).

Trang phục của phụ nữ Tày Mươi

Áo mặc của phụ nữ Tày Mươi có nhiều loại, như: áo xẻ ngực dài tay, áo xẻ ngực ngắn tay, áo khóm cổ chui, trong đó áo khóm cổ chui là kiểu áo truyền thống của phụ nữ Tày Mươi,

Áo khóm cổ chui phụ nữ Tày Mươi tự dệt vải, tự cắt may theo kiểu áo ngắn chui đầu (không xẻ ngực), màu sắc phổ biến là màu trầm như màu xanh. Cổ áo tròn viền vải đỏ, áo được xẻ ở hai vai, mỗi bên chừng 8-9 cm, mỗi đường xẻ vai có khuy tròn, khi mặc mở khuy ra chui đầu vào cho dễ, mặc xong cài khuy lại. Hai bên mép chỗ xẻ vai viền một đường vải đỏ để tua dài. Tay áo bó sát tay người mặc, dài đến cổ tay. Áo khóm cổ chui của phụ nữ Tày Mươi giống áo của phụ nữ Mường ở Thanh Hóa, nhưng chỉ có nét khác là áo khóm của người Mường xẻ vai không có dây tua đỏ, cổ áo không viền đỏ. Khi mặc váy, phụ nữ Tày Mươi cũng đưa đầu váy trùm ngực như người Mường.

Văn học dân gian, trò diễn dân gian

Dân ca, tiếng Thái gọi chung là khặp (khắp, khặp). Chỉ nói từ khắp không thì thiên về dân ca sinh hoạt; còn khi nói khắp một, khắp mùn là cụ thể một làn điệu dân ca nghi lễ do thày cúng nữ - một và thày cúng nam - mùn hát xướng. Khặp của người Thái xứ Thanh phong phú, đa dạng. Nếu ở Tây Bắc phổ biến là khắp hạn khuống - khắp báo xao thì ở vùng Thái xứ Thanh lại nhiều nhất là loại khặp tự do, những điệu khặp trên đường đi, khặp trên nương rãy. Đó là những lời ca trữ tình phản ánh quan niệm về lẽ sống, về cách ứng xử, về tình cảm quê hương xứ sở, về những đức tính cơ bản của con người như lòng nhân ái, sự vị tha, đức kính già, yêu trẻ đã được thể hiện trong cách ứng xử, trong quan hệ giữa các thành viên trong bản, trong mường và trở thành những giá trị truyền thống được người Thái và tất cả mọi người dân, dù ở tộc người nào cũng thừa nhận xem đó là những giá trị chuẩn mực trong quan hệ giữa người với người và với cộng đồng. Đặc sắc nhất là khặp Yếu đu lắm ne là đặc thù riêng của người Thái ở Thanh Hóa. Người Thái ở các vùng khác nghe làn điệu này người ta nhận ra ngay người đang khắp là người Thái xứ Thanh.

Nhóm bài ca tang lễ (còn được dân gian gọi chung mo). Mo của người Thái xứ Thanh chia làm nhiều b­ước, mỗi bư­ớc gắn với một bài ca riêng. Lễ tang của người Thái ở các vùng Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Th­ước,... thày mo thường có các bài: hó pu hắp mò (đặt trầu đón r­ước mo), chắm tảy (Cúng ma mo), Hấm khuồng (đuổi ma tà khỏi nhà), khấu mảy (nhập quan tài), pộc pàng (khai cuộc), toi ắm óc mò (kể về ma mo), mo chua khoai (cúng trâu làm thịt), mo pau ngai (cúng bữa trưa, tối), toi ặm oóc nặm đin (kể về đẻ đất đẻ n­ước), toi ặm óc cân tài (kể về cuộc đời ngư­ời chết), toi ắm óc mạy (kể cây gỗ quan tài), nóp xứa mạy (nộp áo quan), mò khấn phả (mo lên trời), khài bóc (đ­ưa hồn người chết đi chơi chợ bán hoa), nung âm ti (xuống âm phủ), khấu héo (vào nghĩa địa). Hậu tang có các thủ tục như: tháy pước (tảy uế), tháo căm (mãn tang).

Lời mo của người Thái xứ Thanh xưa kia đư­ợc chép lại bằng sách chữ Thái (xư­ mo), hiện nay không còn giữ lại được đầy đủ, nên hiện tại công việc sưu tầm cũng gặp nhiều khó khăn.

Trong tiến trình văn học dân gian Thái, truyện thơ Thái là biểu hiện sự phát triển ở đỉnh cao, do đó truyện thơ có một vị trí quan trọng không phải chỉ trong di sản văn hóa của người Thái mà là trong di sản văn hóa Việt Nam. Tất cả các truyện thơ Thái đều được người Thái biết đến và được diễn xướng trong sinh hoạt văn nghệ dân gian. Truyện thơ Thái phong phú, tuy nhiên do quá trình hình thành và những nguyên nhân về lịch sử, xã hội mà có những truyện thơ được lưu truyền phổ biến ở vùng này nhưng lại nhạt nhòa ở vùng khác. Tiễn dặn người yêuKhun Lú - Nàng ỦaKhăm Panh,... đều là những truyện thơ đặc sắc của người Thái. Nhưng truyện thơ Khăm Panh mới được công bố vào năm 1973. Hình tượng nhân vật Khăm Panh và cả Nàng Mứn nữa có nhiều chi tiết gắn với thực tế xã hội - lịch sử của vùng mường Khoòng (huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa).

Lễ hội của người Thái xứ Thanh thường gắn liền với việc thờ cúng những ng­ười có công khai phá, sáng lập ra bản m­ường và những nhân vật lịch sử. Tr­ước đây, các lễ hội lớn cuốn hút không chỉ người dân trong bản mường mà cả những mường lân cận như lễ hội mường Ca Da thờ Lò Khăm Ban, m­ường Xia thờ Tư Mã Hai Đào, mư­ờng Chiềng Vạn thờ Cầm Bá Thư­ớc, mường Khoòng thờ Khăm Panh, Hà Thọ Lộc, mường Ký thờ Lê Lợi, Hà Công Vụ,...

Riêng truyện thần thoại nói về các nhân vật khổng lồ thì ở Tây Bắc có Ải Lậc Cậc, người Thái xứ Thanh có hai vị là Ái Pu Té sinh ra tại chân núi Pu Té, bản Hin, mường Khoòng, nay thuộc xã Lũng Cao và Lung Quan Khà, sinh ra tại bản Khà, mường Ký, nay thuộc xã Kỳ Tân (đều thuộc huyện Bá Thước).

Sự tích và lễ hội Nàng Han rải rác khắp Tây Bắc và cũng xuất hiện tại mường Chiềng Vạn, huyện Thường Xuân. Còn chuyện dã sử trong vùng người Thái xứ Thanh tập trung nhiều nhất là những câu chuyện về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Trò diễn dân gian của người Thái xứ Thanh có kin chiêng bóoc mạy, thường tổ chức vào mùa xuân khi mà Bóoc mạ púng bướn xóng, tong đéng phái hàng én, tén khoẻn họng pì mớ ngai chiềng (Hoa mạ nở tháng hai, hoa vông quẹt đuôi én, tén khoẻn kêu, gọi tết kin chiêng). Trong tết kin chiêng, các hoạt động tín ngưỡng và vui chơi giải trí đều diễn ra xung quanh cây hoa đặt giữa sàn nhà. Trong các tiết mục biểu diễn, có nhiều tiết mục mô phỏng cuộc sống ngoài đời như: chăn trâu, chăn vịt, xúc cá, lấy ong, dệt vải,... Nhiều người Thái xứ Thanh cho rằng, chúng ta có thể tìm thấy nguồn gốc của loại hình trò diễn này từ Bái Then của người Tày Thái cổ phát triển thành kin chiêng bóoc mạy của người Thái, truyền xuống thành pồn pông của người Mường ở Thanh Hóa và sau này có ảnh hưởng đến trò Xuân Phả của người Kinh vùng Thọ Xuân ở Thanh Hóa (1).

Một số nét khái quát trên đây đã cho chúng ta thấy, di sản văn hóa của người Thái xứ Thanh có sắc thái riêng. Đó là những giá trị đặc sắc làm nên tính đa dạng của văn hóa Thái ở vùng miền núi Bắc Trung Bộ và của văn hóa dân tộc Thái ở Việt Nam.

2. Vấn đề bảo tồn và phát triển giá trị di sản văn hóa của người Thái xứ Thanh trong giai đoạn hiện nay

Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta có nhiều văn bản và những chính sách cụ thể nhằm giữ gìn phát huy di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Quyết định số 25/QĐ-TTg ngày 9-2-1993 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật của đất nước ta, trong đó xác định: "đầu tư 100% cho việc sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, bảo quản lâu dài, phổ biến các sản phảm văn hóa tinh thần như văn học dân gian, các điệu múa, các làn điệu âm nhạc của các dân tộc, giữ gìn các nghề thủ công truyền thống, các loại nhạc dân tộc”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã chỉ rõ: Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống,... bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể.

Nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 6-5-2009. Trong đó, văn hóa được coi vừa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là động lực phát triển kinh tế -xã hội.

Trên vùng đất xứ Thanh, văn hóa Thái không chỉ là tài sản của người Thái mà còn được nhiều tộc người ở khu vực miền núi thừa nhận trên thực tế như là những giá trị văn hóa có tính chất khu vực (2). Ở đây, trong quan hệ giao lưu về văn hóa, nhiều giá trị văn hóa Thái đã thâm nhập, ảnh hưởng và chi phối đến các tộc người khác cùng cộng cư. Các hình thức hôn nhân Thái - Mường, Thái - Kinh là một biểu hiện sinh động của tình đoàn kết, hòa hợp giữa các dân tộc. Trên cái nhìn tổng thể từ nhiều phương diện, chúng ta nhận thấy, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản của người Thái xứ Thanh có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ gìn tính đa dạng của văn hóa của văn hóa Thái ở Việt Nam, đồng thời còn có ý nghĩa thiết thực đối với việc xây dựng nông thôn mới hiện nay ở vùng miền núi . Vì vậy, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thú nhất, trong những năm gần đây, một số công trình trọng điểm triển khai trên vùng cư trú của người Thái xứ Thanh đã tạo nên những biến động về cơ cấu dân cư, tổ chức hành chính bản mường truyền thống và theo đó là mất đi nhiều giá trị văn hóa Thái, trong khi vùng Thái xứ Thanh vốn là nơi tụ cư lâu đời của các nhóm Tày Dọ, Tày Mươi. Nếu không có những giải pháp kịp thời thì trong những thập kỷ tới, nhiều vùng mường lớn cổ truyền của người Thái cùng với những giá trị văn hóa truyền thống sẽ chỉ còn trong ký ức. Do đó, liên quan đến việc di dân là đồng thời phải tạo điều kiện cho người dân có sự lựa chọn không gian cư trú phù hợp với phong tục tập quán để tránh sự đứt gãy, sự nuối tiếc hoài vọng về văn hóa tộc người mình.

Thứ hai, người Thái có số dân động thứ hai trong vùng miền núi xứ Thanh, văn hóa Thái có sức lan tỏa mạnh mẽ tới các tộc người khác trong khu vực. Chính vì vậy cần nâng cao ý thức tự hào về di sản văn hóa của tộc người mình, đồng thời cần đẩy mạnh việc sưu tầm, bảo vệ các di sản văn hóa của người Thái. Đối với một số loại di sản văn hóa phi vật thể, cần sưu tầm và bảo tồn dưới dạng đầy đủ cả ba phần chữ Thái, phiên âm tiếng Thái, dịch ra tiếng Việt, nhằm góp phần vào việc bảo tồn, phổ biến ngôn ngữ, chữ viết và văn hóa tộc người Thái xứ Thanh nói riêng, cộng đồng người Thái ở Việt Nam nói chung. Bởi vì ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số vừa là di sản của chính dân tộc ấy, vừa là tài sản của quốc gia. Hiện nay, trong sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ, xu hướng đồng hóa đang có nguy cơ làm mai một chữ viết, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc đã được đặt ra trên nhiều bình diện. Riêng về ngôn ngữ, thì những chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước được thể hiện đặc biệt rõ trong Quyết định 153/CP(năm 1976) và Quyết định 53/CP (năm 1980), trong đó quan điểm và nội dung cơ bản là: Coi ngôn ngữ không chỉ là yếu tố hàng đầu của văn hóa mà còn là một trong những yếu tố đặc trưng cho bản sắc văn hóa của dân tộc.

Thứ ba, trong nguồn di sản văn hóa truyền thống phi vật thể, những tri thức địa phương vô cùng phong phú của người Thái cần được chú ý bảo tồn và phát huy. Nguồn tư liệu này sẽ là những cứ liệu cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, văn học, dân tộc học trong quá trình nghiên cứu văn hóa - lịch sử của dân tộc Thái ở Việt Nam và đặc biệt là các nhóm Thái ở Thanh Hóa. Những hiểu biết về lịch sử cư trú, văn hóa, phong tục tập quán, địa danh… trên vùng người Thái xứ Thanh cũng sẽ là những thông tin bổ ích, hấp dẫn đối với du lịch dân tộc ở miền núi Thanh Hóa, góp phần vào việc khai thác và phát triển tiềm năng du lịch văn hóa tộc người của tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay du lịch tộc người ngày càng có vị trí quan trọng. Đây là hình thức du lịch mang tính tổng hợp, vừa mang tính du lịch văn hóa lại vừa mang tính du lịch sinh thái, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu tính đa dạng của văn hóa nhân loại.

Qua việc tìm hiểu di sản văn hóa của người Thái xứ Thanh, có thể nhận thấy, người Thái xứ Thanh là một bộ phận gắn liền với cộng đồng người Thái Việt Nam và Đông Dương, có cùng những đặc trưng cơ bản về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, mang đậm nét văn hóa xã hội bản mường, trong phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước ở vùng thung lũng. Hơn nữa, các nhóm Thái xứ Thanh có lịch sử lâu đời, tổng hợp được các yếu tố văn hóa của người Tày - Thái cổ, chủ nhân của nước Văn Lang - Âu Lạc, tiếp nhận thêm các yếu tố Thái Đen, Thái Trắng ở Tây Bắc và đặc biệt có sự gắn bó lâu đời với người Mường, đã hình thành một vùng văn hóa Thái giàu bản sắc địa phương, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa lưu vực sông Mã, sông Chu.Trong xu thế bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay, rất cần sự quan tâm lưu ý đến sắc thái riêng của các nhóm Thái xứ Thanh trên lãnh thổ Việt Nam.
 

_______________

1. Tư liệu khảo sát thực tế do Hà Nam Ninh cung cấp.

2. Lê Sĩ Giáo, Lần tìm cội nguồn lịch sử người Thái Thanh Hóa, Tạp chí Dân tộc học, số 2-1995.

 

--------

Xem thêm Tại đây!

 

Nguồn: Tạp chí VHNT số 360, tháng 6-2014

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}