Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Đọc “Nơi ấy là chiến trường” thấy dào dạt yêu thương

​Phạm Việt Long | Thứ Sáu, 19/04/2019 10:24 GMT +7

vanhien.vn - Người trai trẻ rời hậu phương, lên đường ra chiến trường, trong lòng dào dạt tình yêu quê hương, gia đình. Trên con đường vạn dậm vượt qua bao gian khổ, ác liệt, tình đồng đội, tình yêu thương của người dân, đã giúp anh vượt dãy Trường Sơn hùng vĩ vào chiến trận. Nơi ấy, bom rơi đạn nổ, quân thù càn quét, dội mưa bom bão đạn, tình đồng chí, đồng bào thắm thiết và niềm tin tất thắng giúp anh có thêm nghị lực, dũng khí, vững vàng trên vị trí người lính xung kích của mặt trận chính trị tư tưởng, góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc. Tất cả những điều ấy được thể hiện bằng giọng văn trong trẻo, đẹp lạ thường. Đó là cảm giác đọng lại trong tôi sau khi đọc “Nơi ấy là chiến trường” của tác giả Phạm Quang Nghị, do Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào đầu năm 2019 này.

+++

Với độ dày trên 500 trang in, “Nơi ấy là chiến trường” dựng nên một cách sinh động, chân thực hiện thực cuộc sống trong khoảng thời gian 5 năm (1971 – 1975) với khoảng không gian rộng lớn chạy theo chiều dài đất nước. Những trang sách đưa người đọc hành quân dọc theo đất nước suốt 7 tháng ròng, từ Bắc vào Trung, vượt đỉnh Trường Sơn qua Lào, rồi qua Campuchia, vào Nam Bộ. Tác giả không miêu tả kỹ lưỡng những nỗi gian truân khi phải băng rừng, trèo non, lội suối, nhưng qua những chi tiết giàu sức biểu cảm, đã cho thấy con người phải chịu đựng như thế nào mới vượt qua nổi chính mình để hoàn thành nhiệm vụ. Trường Sơn thử thách con người bằng những trận sốt rét tiêu hao sinh lực. Bản thân Phạm Quang Nghị bị sốt rét quật ngã liên tục, phải 5 lần vào viện, có lần phải điều trị suốt 20 ngày, bị dày vò cả về thể xác và tinh thần, nhưng không hề nhụt trí. Ở chiến trường, anh cùng đồng đội tiếp tục vượt qua những trận ốm đau, những trận bom, pháo, những đợt hành quân vượt lộ mà sự sống – cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc - để làm nhiệm vụ. Anh được sống cùng những người dân Nam bộ quả cảm và giàu tình yêu thương. Thời gian sống cùng đồng bào ven lộ 4 Mỹ Tho, anh được trải nghiệm nhiều nhất. Và anh đã dành những trang viết đằm thắm nhất cho mảnh đất, con người vùng ven này. Qua gần 70 trang viết của Phạm Quang Nghị, cuộc sống – chiến đấu của người vùng ven hiện lên bình dị mà có sức cuốn hút lạ kỳ. “Người vùng ven coi việc đánh thắng giặc là chuyện bình thường như ăn cơm, phát cỏ và bao giờ họ cũng muốn đánh thắng, những trận sau “ngon” hơn đích đáng hơn trận trước” (Tr280). Đạn bom khốc liệt, tàn phá cuộc sống, tới mức người dân Tân Hội khó kiếm ra một thân cây trâm bầu dựng chòi hoặc bắc làm cầu, “…gặp gia đình nào tôi cũng đều nghe những chuyện mất mát, hy sinh. Cha con, vợ chồng, anh em... đủ mọi lứa tuổi, không mấy nhà không có ảnh bày trên bàn thờ và trong xóm dường như ngày nào cũng có đám giỗ, khói hương”. (Tr. 294) Trong hoàn cảnh ấy, những người dân Nam bộ nổi bật lên với những đức tính cao quý – không quản hy sinh, kiên cường trước quân giặc, thương yêu, chăm sóc cán bộ, bộ đội, như chị Tư, chú Ba, thím Ba, nhà Bẩy Hân, bà Năm Được...  Hình ảnh chú Ba bình dị nhưng nói lên sự khốc liệt của chiến trường và khát vọng được sống bình yên của người dân: “Chú thương từng ngọn rau cải, vồng đậu rồng cho đến mỗi thân cây bị cưa gãy. Bàn tay chú vuốt ve vào thân cây như xoa đầu con trẻ. Chú coi mỗi sự sống còn lại đều quý giá và linh thiêng”. Sống trong lòng dân, tác giả thấm được cốt cách của người dân: “Không phải chỉ có lòng dân mà cả cây cối của quê hương cũng giúp tôi sống và chiến đấu giữa vùng ven Lộ 4”. (Tr 295?)  Quan sát cuộc sống với con mắt tinh tường, Phạm Quang Nghị ghi lại được những chi tiết đắt, từ đó có thể dựng nên cả một câu chuyện có giá trị, như chuyện Thằng Hai cho em bú chó vì mẹ đi vắng, em khóc, hoặc khung cảnh đồng bằng một chiều bình yên: “Gió thổi lồng lộng. Vườn chuối lao xao. Bầu trời không ngớt ầm ĩ máy bay các loại. Và chân trời, bốn phía không ngớt ầm ầm tiếng bom rền, pháo rú. Ba loạt B.52” (Tr. 200).

Trong khi phản ánh hiện thực cuộc sống, Phạm Quang Nghị đã đồng thời phản ánh một cách sâu sắc, chân thực hiện thực tâm trạng của anh, cũng như của lớp trí thức trẻ như anh. Có thể nói, chính đây là điểm mạnh nhất, làm nên giá trị của tác phẩm. Bởi, trong văn học, cái khó và khiến các nhà văn luôn luôn phải trăn trở, là làm sao đi sâu vào nội tâm của nhân vật. Nhiều tác phẩm thiếu sức sống bởi chỉ miêu tả được vẻ bên ngoài mà thiếu chiều sâu tâm lý nhân vật. Ở “Nơi ấy là chiến trường”, chiều sâu tâm lý, tâm trạng nhân vật hiện lên rõ mồn một, như có thể động chạm vào được. Cảm nhận rõ nhất về cái hồn của nhân vật là tình yêu thương và niềm tin tất thắng. 

Khi đọc cuốn sách này, tôi thống kê có tới trên bốn chục chi tiết thể hiện trực tiếp, rõ nét tình yêu thương của tác giả với thiên nhiên, con người: “Và mỗi bước ra đi càng thêm yêu quý con người, thiên nhiên của đất nước mình...  ta yêu, ta say” (Tr. 34). Qua cái nhìn của Phạm Quang Nghị, thiên nhiên mới có hồn, mới đáng yêu làm sao. Từ những cánh rừng Trường Sơn, những đám mây trên bầu trời tổ quốc, đến những cánh đồng lúa Nam bộ, những xóm làng vùng ven lộ 4… đều được anh miêu tả đẹp, sống động lạ kỳ. Anh viết: “Từ  thế đứng trên cao, chúng tôi nhìn thấy Trường Sơn như sóng dồn bốn phía, mây xanh quyện đầy thung lũng, lững lờ bay. Đứng ở đỉnh dốc hôm nay, chúng tôi mê mải nhìn những cánh chim bay xa vời vợi, từ những ngọn núi mờ xa, chúng tôi thấy thấp thoáng những mảng trời xanh thẳm một mầu ước mơ”. (Tr. 41) ‘‘Bỗng nhiên bầu trời bừng sáng. Dải rừng xanh bỗng nhuộm mầu vàng óng. Ánh sáng hắt xuống lòng sông Bạc đỏ nước phù sa. Rừng cây vàng rực một màu. Những thân cây sáng như dát bạc. Khuôn mặt người hồng hào, hừng hực khí thế.” (Tr.46). Cảnh ấy gắn với con người, nói thay tâm trạng con người. Cảnh ấy cũng có khi là lời tố cáo tội ác quân giặc, những kẻ tàn phá cuộc sống: “Và bây giờ trong những bãi bờ ven sông càng thấy sự khốc liệt của chiến tranh và tội ác của đế quốc Mỹ, kẻ làm tàn lụi cảnh đẹp lộng lẫy của thiên nhiên.”(Tr. 46)

Sâu nặng nhất là tình yêu mà Phạm Quang Nghị dành cho con người. Đó là người mẹ, là những đứa em, là người cha của anh. Đó là đồng chí của anh. Đó là những người dân Nam bộ mà anh có dịp được chung sống. Anh luôn khắc khoải nỗi nhớ thương mẹ, đến mức có lúc anh tự thấy rằng mình thiên vị với mẹ. Đó là lẽ thường, vì ai mà không thương yêu người mẹ dứt ruột đẻ ra mình! Nhưng, với Phạm Quang Nghị, tình yêu thương mẹ được nhân lên gấp nhiều lần, bởi anh đã chứng kiến mọi nỗi cơ cực mà mẹ anh phải gánh chịu. Viết về mẹ, ngòi bút anh dâng trào cảm xúc: “Ôi! Thương lắm người mẹ khổ đau suốt đời lo toan cho con” (Tr.49) “Nếu như Bôlôven là đỉnh cao nhất trên suốt chặng đường ta đã đi qua thì những đêm dài lạnh lẽo, trằn trọc vì khó ngủ lòng ta cũng đã vỗ mạnh lớp sóng dồn nhớ thương mẹ và em. Ôi đã bao lần ta nghĩ đến mẹ ta nhưng chưa bao giờ ta thấy lòng ta day dứt và nghẹn ngào đến thế. Trong đêm khuya, ta trở mình hoài, mắt ta cay nóng ngậm ngùi chảy từng giọt nhớ thương. Ôi người mẹ suốt đời khổ đau!” (Tr. 53) “Ôi thương quá, nhớ hoài người mẹ kính thương suốt đời đau khổ. Ta lo và khiếp sợ ngày trở lại, mẹ ta không còn nữa... Ta thương mẹ ta. Ta nhớ và thương em ta và mong cho cha ta khỏe mạnh, thật khỏe mạnh để lo toan việc nước việc nhà.” (Tr. 63). “Nằm chưa ngủ, nhớ chị, thương mẹ quá chừng. Cái nhớ thương như muốn dựng ta dậy, gọi ta về. Tình cảm xoắn chặt trái tim ta. Ý nghĩ khơi nguồn cho tình thương chảy triền miên dào dạt, vỗ về miền xa tít tắp.” (Tr. 114) “Đau khổ chắc đã làm mẹ ta cân nhắc sự sống, chết. Đã bao lần mẹ toan gieo mình xuống dòng sông. Nhưng mất mát đã khuyên mẹ ta nên sống để chờ những đền bù và hãy sống vì ta”.

Với đồng đội, Phạm Quang Nghị cũng dành những tình cảm thắm thiết: Anh quý người đồng chí cùng anh vượt Trường Sơn, một con người rất chu đáo, tận tụy với bạn bè (Nguyễn Quốc Cự), lưu luyến khi phải chia tay người đồng chí lớn tuổi hơn mà anh coi như người anh (anh Hà Mậu Nhai), đau thương quặn thắt trước cái chết thảm thương của đồng đội (Long, Kim). Anh đúc kết bằng những lời cô đọng và sâu thẳm ý nghĩa nhân văn: “Không ai và không có gì đo được tình cảm của một người yêu thương hết mức người khác” (Tr. 44). “Gặp nhau nơi chiến trường, tình cảm quê hương làm cho người ta xích lại gần nhau, chia bùi sẻ ngọt. Cách mạng đem lại cho con người tình yêu thương nồng nàn, chân thật.” (Tr. 78) “Kim, Long ơi! Chúng tao – những thằng bạn còn sống vẫn nhớ tới hai đứa mày, vẫn dành cho cả hai trọn vẹn tình thân yêu của trái tim tuổi trẻ.”(Tr. 212) Khi vượt lộ, nỗi lo gặp địch vẫn không ngăn được tình thương yêu trào dâng trong trái tim anh: “Lúc này tôi thấy lòng mình dào lên một cảm xúc thương yêu, mến phục và tin tưởng lạ thường.” (Tr.275) Có một điều thú vị, là Phạm Quang Nghị rất nhạy bén, đa cảm trong quan hệ với những nữ đồng đội của anh. Chỉ một ánh mắt, một nụ cười, một giọng nói của một cô gái giao liên, một nữ du kích... cũng khiến lòng anh xao xuyến. “Ánh mắt và nụ cười của người con gái diệu kỳ làm sao, mãnh liệt làm sao. Giống như biển cả, giống như bầu trời và mặt đất đem lại bình yên cho vạn vật.” (Tr.267) Riêng với Ph., anh dành những tình cảm chân thành, cháy bỏng yêu thương, trong một niềm khắc khoải xa cách: “Vậy là lại mênh mông một nỗi nhớ Ph.”... “Nhớ thương Ph. Lớn hơn tất cả mọi suy nghĩ.” (Tr. 42).

Đối với đồng bào, đồng chí đã vậy, đối với những người lính bên kia chiến tuyến, anh cũng có cái nhìn bao dung, nhân đạo: “...Mấy năm vừa rồi anh trốn lính chắc cũng vất vả lắm”. “Trước khi gặp tôi, anh ta đã tiếp xúc với nhiều người cán bộ, bộ đội ở vùng giải phóng. Cũng như lần này, chưa hề có một ai đem đến cho anh những đau đớn về thể xác lẫn tinh thần” (Tr. 226). Ngay cả trong giấc mơ,  Phạm Quang Nghị cũng thể hiện tình thương yêu con người, muốn cứu vớt những người lính bên kia trận tuyến, đó là anh mơ thấy chiếc máy bay trực thăng của địch bị rơi, anh đã dụ hàng được tên phi công.

Thương yêu tha thiết, chịu cảnh chia lìa, xa cách, trong lòng người trí thức trẻ Phạm Quang Nghị thường trực nỗi nhớ. Nhớ cha mẹ, anh chị em. Nhớ đồng đội. Nhớ quê hương. Nỗi nhớ nào cũng quặn thắt. Nhớ bao nhiêu thèm khát bấy nhiêu, thèm khát một cuộc sống thanh bình, để được thương yêu, kiến thiết. “Chao. Nhớ quê nhà da diết. Nỗi nhớ không kéo bàn chân tôi lùi lại, nhưng bỗng nhiên tôi thèm khát một buổi chiều vàng đứng trên con đường trục mà ngắm cánh đồng ngày mùa. Bây giờ lại hiện lên rất rõ nét trong óc tôi đoàn người ríu ra ríu rít, cười nói, chạy kĩu kịt trên các ngả đường về thôn xóm. Những chú bé vắt vẻo trên lưng trâu, hát nghêu ngao những câu không đầu không cuối.” (Tr. 49) “Ôi thèm khát vô cùng cuộc sống thanh bình nơi làng quê. Một màu xanh dịu hiền, tươi mát lại làm cho ta đau nhói trong lòng” (Tr. 60) “Còn mình, nhớ hết mọi người và lòng ta gợi lên tất cả những người thân yêu nơi xa vắng” (Tr. 107) “Gió lạnh. Bỗng như có ai mở cánh cửa thời gian để lộ căn phòng kỷ niệm. Nhớ một cánh áo len, thèm những làn mưa bụi. Ao ước được bước trên những con đường ta đã bước.”... “Gió lạnh gợi trong ta ngàn vạn nỗi nhớ vừa da diết, vừa xót xa. Tràn ngập cõi lòng nỗi nhớ mẹ già. Nhớ những mùa đông đã qua còn đọng trong ta từng chùm kỷ niệm” (Tr. 263) ”Hay không gian cứ cố tình khoét mãi vào tim ta nỗi nhớ”.  (Tr. 27) Những đoạn viết này của Phạm Quang Nghị đẹp như một bức tranh lụa, mượt như cánh đồng lúa đang thì con gái, nhưng xót xa làm sao! Nỗi ao ước bình thường của một con người trở nên xa xăm, gần như vô vọng, bởi chiến tranh! Xúc cảm đẩy lên cao hơn, mang ý nghĩa xã hội rộng lớn hơn, khi Phạm Quang Nghị lý giải nguyên nhân của sự chia cắt, của nỗi nhớ khắc khoải, đó là do quân giặc xâm lược, gây nên cảnh tàn phá đau thương. “Trước ngày ra đi, ta thăm những ngôi mộ lần nữa, như để ấn vào trí nhớ vốn đã khắc ghi, màu đất hận thù của làng quê đã một lần đất cùng máu xương bị quân thù trộn lẫn”... “Quân thù đã để hằn vết sẹo hờn căm của mất mát, chia ly hàng năm không dứt. Những đứa em măng sữa, những con chim nhỏ ngoan vui đã vĩnh biệt cuộc sống. Quân thù đã mang đến cho mẹ ta vết thương trên thân thể và vết thương sâu trong trái tim mà ta có bổn phận phải tính đòi”. (Tr. 122) “Từ những ngày ta xa quê hương sống với rừng xanh của căn cứ, ta ngày ngày đếm từng đợt bay gây tội ác của B.52 và nung nấu hờn căm khi nghe những lần súng dội vọng về như tiếng gọi trả thù của quê hương yêu dấu”. (tr. 242) “Miền Bắc – hai từ đó âm vang, xoáy dội trong lòng, vừa day dứt, nhớ mong vừa hãnh diện. Từ vô cùng sâu thẳm nhói lên những nỗi đau mất mát.” (Tr. 253)

Cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu đã viết “Bởi chưng hay ghét cũng vì hay thương”. Với “Nơi ấy là chiến trường”, có thể đảo hai về lại thành “Bởi chưng hay thương nên cũng hay căm hận” – thương đồng bào, căm quân giặc bạo tàn. Và tất yếu, đó là động lực để người trai trẻ dứt áo ra đi, băng qua ngàn vạn hiểm nguy, gian khổ, quyết giành lại cuộc sống bình yên cho quê hương, gia đình!

Mang trong lòng tình yêu thương, nỗi căm thù, người trai trẻ có một niềm tin vững chắc ở ngày chiến thắng của dân tộc, ngày trở về của bản thân. Trước khi lên đường, Phạm Quang Nghị đã thể hiện niềm tin ấy: “... Chúng tôi tin chắc rằng vào một ngày không xa nữa dân tộc ta sẽ hát khúc khải hoàn, chúng tôi sẽ trở về với các đồng chí và các bạn”. (Tr. 30)... Rồi, trong quá trình kháng chiến, niềm tin chiến thắng trở về thường xuyên xuất hiện trên những trang ghi chép của anh: “Mẹ thương của con ơi, mẹ cố sống chờ con, con sẽ về với mẹ.” (Tr. 53) “Con của mẹ sẽ về với mẹ.” (Tr. 67) “Quân thù uể oải và câm điếc. Ngày đã hừng sáng. Người quê hương quyết tâm xây dựng lại mảnh đất quê hương xanh thắm hơn cả ngày xưa”. (Tr. 241)... “Bom đạn đã bất lực trước màu xanh bất khuất”.

Với tình yêu thương con người, thiên nhiên tha thiết, với lòng căm thù quân giặc, Phạm Quang Nghị có động lực để ra tiền tuyến. Tình đồng chí, đồng bào và niềm tin tất thắng tạo cho anh động lực phấn đấu, vượt mọi gian nguy, để rồi cuối cùng, anh đã chiến thắng trở về.

+++

Có thời gian cùng công tác với Phạm Quang Nghị, tôi nhận thấy anh là người yêu văn học và trọng người văn. Đôi lúc, thấy anh thể hiện thoáng qua nỗi nuối tiếc nghề văn mà anh mới bước chân vào đã phải rẽ sang lối khác do nhiệm vụ được giao. Bây giờ, hoàn thành nhiệm vụ rồi, trở về nghỉ ngơi, có lẽ tình yêu văn học trong anh có dịp được bùng lên, cháy thành ngọn lửa mãnh liệt, giúp anh viết nên những tác phẩm như “Xin chữ”, “Nơi ấy là chiến trường” và chắc chắn sẽ còn viết được những tác phẩm văn học có giá trị khác nữa!

“Nơi ấy là chiến trường” là nhật ký, ghi chép của một cá nhân, với mục đích giữ lại những kỷ niệm cho bản thân mình chứ không phải là sáng tác để công bố, cho nên có tính chân thực rất cao. Cũng vì ghi chép tại chỗ, cho nên thể loại này có ưu điểm lớn là giữ lại được những chi tiết sống động và những cảm xúc nóng hổi, mà những thể loại khác (như hồi ký) khó đạt được. Tuy vậy, đây không phải là sự tập hợp những ghi chép lặt vặt, mà là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh, loại văn học KHÔNG HƯ CẤU. Không hư cấu, nhưng để đạt tới trình độ một tác phẩm văn học, đòi hỏi tác giả, trong khi ghi chép, phải có con mắt quan sát rộng và sâu, tầm nhìn vừa chi tiết, riêng tư, vừa bao quát, hướng về cộng đồng, và cuối cùng phản ánh hiện thực với một khoảng không gian, thời gian và những nhân vật nhất định. Phạm Quang Nghị đã thực hiện được yêu cầu đó. Trong khi ghi lại những hoạt động, suy nghĩ của bản thân, anh gắn nó vào bối cảnh chung, cùng với những hành động và tinh thần của đồng chí, đồng bào. Chính vì vậy, anh đã xây dựng nên được hai hình tượng văn học sống động, đó là hình tượng người trí thức trẻ tham gia kháng chiến cứu nước, và hình tượng nhân dân trong cuộc chiến tranh giành độc lập – tự do, trong đó, hết sức đậm đà là hình tượng người trí thức. Sự miêu tả chân thực, sinh động và sâu sắc hành động, tâm lý của bản thân, cũng là nhân vật chính của tác phẩm, cùng việc khắc họa chân dung những nhân vật khác – những người bạn, đồng chí, đồng nghiệp... đã giúp Phạm Quang Nghị xây dựng hình tượng thành công. Bên cạnh đó, cuộc sống, chiến đấu, vượt gian khổ của đồng chí, đồng bào trên những vùng đất mà anh từng sống được anh ghi lại với bút pháp tả thực giàu hình ảnh đã tạo nên hoàn cảnh điển hình cho tác phẩm. Với những nhân vật điển hình, hoàn cảnh điển hình như vậy, “Nơi ấy là chiến trường” có đặc trưng của một TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN THỰC KHÔNG HƯ CẤU.

Để khắc họa được hình ảnh nhân vật, của đời sống, bên cạnh việc đi sâu vào nội tâm nhân vật, Phạm Quang Nghị có lối hành văn mượt mà và sử dụng ngôn từ khá điêu luyện. Khi tả cảnh, anh có thủ pháp nhân cách hóa, so sánh, khiến cho cảnh vật sống động, có hồn và những thứ trừu tượng trở nên hữu hình. Anh viết về cảnh vật: “Trăng cuối tháng về khuya lạnh lùng tỏa ánh sáng mềm nhũn, yếu ớt xuống rừng thưa.” “vầng trăng méo xệch” (Tr. 63). “Nhìn ra bốn phía luôn luôn thấy Đồng Tháp Mười tròn trịa, phẳng như một chiếc mâm mầu xanh lợt. Ở chân trời xa tắp có những vệt tràm mờ mờ níu lấy chân mây”. (Tr. 190) Trong những ví dụ này, tác giả đã sử dụng tài tình các loại trạng từ, tính từ, động từ vốn sử dụng cho con người vào cảnh vật, làm cho nó có hồn, như: lạnh lùng, mềm nhũn, yếu ớt, níu lấy chân mây, trốn, nhường. Thủ pháp nhân cách hóa vạn vật của Phạm Quang Nghị khiến cho cảnh vật mang tính người, sinh động: “Những ngôi sao ly ty nhấp nháy ngoài mái tranh như những giọt nước mắt đợi chờ”... “Súng bắn thâu đêm. M.79 nổ tộc... tộc như người đập vào mặt trống rách. Cực nhanh nổ liên hồi bốp... bốp. Súng từ tầu ngoài sông sặc sụa nhả đạn tằng tằng, tằng tằng” (Tr. 195).

Thủ pháp so sánh được Phạm Quang Nghị sử dụng hiệu quả, tạo nên ấn tượng khó phai mờ. Khi thì anh so sánh cái hữu hình với cái hữu hình: “Chỉ vì người Kim gầy đi nhanh, vàng võ. Trông khuôn mặt quắt lại như lá bị hơ lửa” (Tr. 85). Cao nguyên Bôlôven “như thằng khổng lồ mà hôm nay ta mới leo tới quá gót chân hắn”. Lúc anh lại so sánh cái vô hình với cái hữu hình: “Ngày xuân qua nhanh như khói mỏng hòa vào gió trưa.” (Tr. 94) “Chúng mày vẫn sống trong lòng tao như màu xanh của thời gian và hoa lá.” “Tr. 94 “Những lúc choáng váng, hoa mắt ù tai thì cả thế giới quanh ta đều vàng óng, mờ ảo như nắng chiều trên đỉnh núi xa xăm và cả thế giới đều quay cuồng đảo điên.” (Tr. 57) Lúc khác, anh lại so sánh cái hữu hình với cái vô hình: “Hai phương trời nối nhau bằng một tình thương nhớ.” (Tr. 67) “Lá cây ít rụng hơn. Dường như nhựa xuân đã lên gắn lại ở mỗi cuống lá chất keo của sự sống” (Tr. 93). Chính nhờ cách thức so sánh khéo léo và linh hoạt ấy mà Phạm Quang Nghị làm cho hiện thực trên trang giấy trở nên sống động, gần gũi với người đọc.

+++

Những dòng ghi chép quý giá của Phạm Quang Nghị sau hơn 40 năm ẩn mình, đã trỗi dậy tràn đầy sức sống trên trang giấy, đem đến cho người đọc biết bao điều thú vị. Người đọc được theo bước chân người chiến sĩ văn hóa “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, được sống và chiến đấu với đồng bào Nam bộ, những người dân hiền lành, chân chất và kiên cường, làm nên thế trận chiến tranh nhân dân. Đặc biệt, người đọc cảm nhận sâu sắc hình tượng người trí thức trẻ tham gia kháng chiến, bằng tình yêu thương và niềm tin vô bờ bến vào con đường minh đi, đã góp phần quan trọng vào chiến thắng của dân tộc. Cùng với hình tượng người chiến sĩ quân đội anh hùng, đạp bốt đồn giặc, tiêu diệt kẻ thù, hình tượng người trí thức cách mạng đem tình yêu thương thu phục nhân tâm, góp trí tuệ tạo nên sức mạnh của cách mạng, tạo nên hình tượng toàn diện về con người Việt Nam. Hình tượng này thể hiện đậm nét bản chất của con người Việt Nam, đó là giầu lòng nhân ái, yêu hòa bình, khao khát dựng xây cuộc sống và khi cần dám cầm súng, không quản hi sinh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.                            

 

                                                             

 

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}