Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Đồng chí Phan Đăng Lưu – một trí thức cách mạng tiêu biểu

GS.TSKH Phan Đăng Nhật | Thứ Tư, 26/09/2018 08:39 GMT +7

vanhien.vn - Bài trích từ sách  “Phan Đăng Lưu-thân thế sự nghiệp và sưu tập tác phẩm”, NXB Tti thức, H, 2017, 540 trang.

MỞ ĐẦU

1. Bài này dài 110 trang, ngoài Mở đầu và Kết thúc, gồm 5 chương như sau:

- Chương th nht: Đại cương cuộc đời và sự nghiệp đ/c Phan Đăng Lưu- một số tư liệu ít được công bố.

- Chương th hai: Đ/c Phan Đăng Lưu với sự nghiệp chuyển hướng chiến lược của Đảng.

- Chương th ba: Công việc bồi dưỡng tri thức chính trị- kinh tế học cho cộng đồng của đ/c Phan Đăng Lưu.

- Chương th tư: Công việc giáo dục lòng yêu nước qua “Thi văn các chí sỹ Việt Nam”.

- Chương th năm: Đ/c Phan Đăng Lưu và sự nghiệp đấu tranh báo chí.

Phụ lục.

2. Tôi may mắn là được đọc kỹ từ các bản gốc của hầu hết tài liệu về đồng chí Phan Đăng Lưu, lại may mắn được gặp gỡ nhiều vị hoạt động đương thời và được những người ruột thịt của đồng chí, chuyện trò nhiều lần, trong nhiều thời gian. Mặc dầu vậy, nhưng nay bắt tay viết Lời nói đầu sách “Đồng chí Phan Đăng Lưu- một trí thức cách mạng tiêu biểu (Thân thế sự nghiệp và sưu tập tác phẩm), tôi không khỏi thực sự lo lắng vì thấy mình non kém trước sự nghiệp một bậc vĩ nhân, do đó chỉ dám coi đây là một bản thu hoạch khi học tập tấm gương tiền nhân.

Chương thứ nhất

ĐẠI CƯƠNG CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

ĐỒNG CHÍ PHAN ĐĂNG LƯU - MỘT SỐ TƯ LIỆU ÍT ĐƯỢC CÔNG BỐ

1. Đồng chí Phan Đăng Lưu là hậu duệ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và Thái tổ Mạc Đăng Dung, quê ở xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, từ ga Chợ Sy, cách thành phố Vinh 40 km, về phía Bắc, đi về phía Tây, theo “đường 38” chừng 11km thì đến nơi.

Đồng chí sinh ngày 5 tháng 5 năm 1902 (28 tháng 3 năm Nhâm Dần, theo số tử vi do cụ thân sinh để lại); con cụ Phan Đăng Dư và cụ bà Trần Thị Liễu.

Đ/c sở hữu một “một trí tuệ uyên bác” (Tố Hữu), “là một trí tuệ, một nhân cách” (Võ Nguyên Giáp) là “trí thức cách mạng tiêu biểu” (Lê Duẩn), giác ngộ chủ nghĩa Cộng sản; đã đảm nhiệm xứ ủy Trung kỳ, trung ương ủy viên, rồi Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi đ/c Nguyễn Văn Cừ bị bắt (17- 1- 1940) Phan Đăng Lưu đảm đương công việc Tổng bí thư/ Bí thư trung ương. Sau khi đ/c Võ Văn Tần, Trung ương ủy viên cuối cùng bị bắt (21- 4- 1940), đ/c Phan Đăng Lưu tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, giành nhiều thắng lợi. Ở hội nghị VII, đ/c từ chối nhiệm vụ Quyền bí thư, giới thiệu đ/c Đặng Xuân Khu, lúc bấy giờ là xứ ủy viên Bắc Kỳ, để mình nhận đi vào chỗ “sớm muộn cũng bị địch bắt” (lời đ/c Phan Đăng Lưu)

Cuộc đời hoạt động của đ/c rất phong phú, đa dạng, sôi động:

- từ bỏ đời làm cán sự kỹ thuật canh nông “vinh thân phì gia”, dấn thân vào hoạt động cách mạng gian khổ và hiểm nguy, 18 năm, từ đảng Tân Việt đến đảng Cộng sản;

- 7 năm bị tù ở Buôn Ma Thuột;

- thời kỳ Mặt trận dân chủ, đ/c đã vận động và lãnh đạo công cuộc đấu tranh trong và ngoài Viện dân biểu Trung kỳ, rất thắng lợi;

- đã vận động và lãnh đạo có kết quả phong trào mặt trận thống nhất phản đế 1936- 1940.

Về tri thức, đ/c uyên thâm văn hóa Á đông, đã qua 10 năm đèn sách, thông thạo tứ thư ngũ kinh, “đã đi thi hương cùng các cụ chống gậy, khi còn để tóc trái đào” (lời cụ thân mẫu); và về sau, lưu loát Trung văn, nhờ đó đ/c đã đóng vai người Hoa để hoạt động ở Chợ Lớn; uyên bác văn hóa Âu Mỹ, qua tiếng Pháp (rất giỏi, “tự vị sống”) và tiếng Anh; giỏi cả tiếng Ê đê.

Ngoài ra đ/c giỏi bơi lội, leo trèo, viết chữ Hán rất đẹp, được bà con Nam Bộ tôn là “ông đồ mỹ tự” (theo nhà văn Sơn Tùng).

Về tính tình, đ/c rất điềm đạm, giản dị, cởi mở, vui vẻ, hài hước, thân thương, có sức thuyết phục cao đối với mọi tầng lớp, kể cả từ tên cướp ở Ninh Hòa- Phú Yên, đến các vị đại thân sỹ và thượng lưu trí thức.

Với một cuộc đời như vậy, đ/c Phan Đăng Lưu đã hy sinh vì Tổ quốc, tại pháp trường thực dân, phong kiến, ngày 24-5-19411, lúc 39 tuổi đời.    

*

Đ/c Phan Đăng Lưu là một người mà trí tuệ, tài năng, đạo đức, phẩm chất,… hiếm có. Đ/c đã để lại cho chúng ta một tấm gương sáng ngời, và một kho tàng kinh nghiệm vô cùng quý báu về nhiều mặt:

- cùng tập thể, chủ động vạch ra đường lối chuyển hướng chiến lược sáng suốt năng động, sau Xô viết Nghệ Tĩnh thất bại, và chỉ đạo vận động thực hiện thắng lợi,

- tham gia và lợi dụng các tổ chức công khai của địch để đấu tranh giành quyền lợi cho nhân dân,

- đấu tranh trong nhà tù đế quốc,

- chuẩn bị bạo lực cách mạng để giành lại độc lập, tự do từ tay chính quyền địch; chuẩn bị cho giai đoạn tiền CM và CM tháng Tám,

- sử dụng công cụ văn chương và báo chí để đấu tranh cách mạng.

2. Đồng chí Phan Đăng Lưu là một vị lãnh đạo cao cấp trong Đảng Cộng sản Đông Dương vi nhiu chc trách và nhim v:

- Ủy viên ban lâm thời xứ ủy Đảng CS Đông Dương Trung Kỳ: được chỉ định vào giữa tháng 8 năm 1936.

- Ủy viên Ban Chấp hành Đảng CS Đông Dương: được bầu ngày 3- 9- 1937 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng ở Hóc Môn, Bà Điểm, Gia Định.

- Ủy viên Thường vụ: được bầu tại hội nghị đại biểu cả ba xử ủy, vào tháng 3 năm 1938, trong Ban chấp hành mới, do đ/c Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng bí thư.[1]

Xin ghi rõ ý kiến sau đây của GS Đinh Xuân Lâm, ủy viên ban biên soạn sách Phan Đăng Lưu- tiu s.:

“Nếu như chưa có thêm những thông tin, tư liệu gì mới và căn cứ vào các hồi ký bài viết của các tác giả có trách nhiệm, có người trực tiếp hoạt động trong phong trào và có tư cách là những nhân chứng lịch sử, cũng như những người có điều kiện tiếp cận và khai thác hồ sơ tư liệu của Đảng; chúng ta có thể xác định các mốc lớn sau đây:

+. Từ tháng 3 năm 1938 Phan Đăng lưu đã được “bầu” vào Ban chấp hành Trung ương Đảng.

+.Và cũng từ tháng 3 năm 1938, Phan Đăng Lưu đã được bầu là ủy viên thường vụ Ban chấp hành Trung ương Đảng….Sẽ còn phải trao đổi thêm về thông tin này, nhưng chúng ta có quyền tin vào ý kiến của Nguyễn Như Hạnh, bí thư xứ ủy Nam Kỳ và ý kiến của Hoàng Tùng, nguyên ủy viên ban Bí thư là những người có trách nhiệm trước Đảng và là những nhân vật cốt cán của Đảng.

Cũng nên lưu ý là, khi Hoàng Tùng, viết “Phan Đăng Lưu là ủy viên thường vụ”, thì bấy giờ Lê Duẩn, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt,…chắc đều biết ý kiến này của Hoàng Tùng, mà không có ý kiến “phản biện”, điều đó có ý nghĩa là đã công nhận, đã chấp nhận rằng sự việc là có, là đúng sự thật”[2]

- Đ/c Phan Đăng Lưu là Ủy viên Thường vụ đảm trách nhiệm vụ Tổng bí thư/ Bí thư Trung ương: cuối tháng 4 năm 1940, đ/c Võ Văn Tần, Ủy viên thường vụ bị địch bắt, đ/c Phan Đăng Lưu là Ủy viên Thường vụ duy nhất, ngoài ra cũng không còn Ủy viên Trung ương nào nữa; đ/c phải đảm nhiệm việc lãnh đạo Đảng, với nhiệm vụ, cương vị Tổng bí thư/bí thư Trung ương.

“Sau ngày 17- 1- 1940 (đ/c Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt), Phan Đăng Lưu là người trực tiếp phối hợp với Võ Văn Tần giải quyết mọi việc của Đảng: từ điều hành các xứ ủy Bắc, Trung, Nam đến điều hành các bộ phận văn phòng, tuyên truyền, tổ chức,, Mặt trận,…và các đảng bộ ở Miên và Lào; tìm cách bắt liên lạc với Quốc tế Cọng sản và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Công việc thật nhiều và rất nặng nề. Tuy vậy, dưới sự lãnh đạo, điều hành trực tiếp của Phan Đăng Lưu, trên cơ sở phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với đồng chí Võ Văn Tần –Bí thư xứ ủy Nam Kỳ, với Xứ ủy và thành ủy Sài Gòn- Chợ Lớn,…đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ”[3]

“Hội nghị xứ ủy mở rộng kết thúc chưa lâu thì vào ngày 21- 4- 1940, đồng chí Võ Văn Tần bị địch bắt tại một cơ sở ở đồn điền cao su làng Tân Xuân, quận Hóc Môn, Gia Định” [4]

Trong tình thế đó, trong ban lãnh đạo Đảng cộng sản Đông Dương, đ/c Phan Đăng Lưu tất yếu phải thay đ/c Nguyễn Văn Cừ, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam, và đ/c đã hoàn thành nhiệm vụ rất xuất sắc.

3.T chi bí thư Trung ương, mà đi vaò ch “sm mun cũng b đch bt”. Trong thời gian bấy giờ ở Bắc Kỳ còn có các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Đặng Xuân Khu/Trường Chinh, Hạ Bá Cang, Trần Đăng Ninh chỉ đạo công tác của Đảng, nhưng thực tế là làm công việc của Xứ ủy Bắc Kỳ. Bởi vậy trong chuyến ra Bắc lần này (tháng 10- 1940) đồng chí Phan Đăng Lưu cần bàn với các đồng chí nói trên về lập lại Ban chấp hành Trung ương.

Hội nghị VII, do đ/c Lưu chủ trì, đã cử ra Ban chấp hành Trung ương và Trung ương bầu Tổng bí thư. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thành cho biết: “Có ý kiến đề nghị Phan Đăng Lưu làm Tổng bí thư. Anh xin rút, với lý do là sẽ về Nam, đại diện của Trung ương trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở Nam Kỳ, đã ít nhiều nắm được tình hình.”2. Đồng chí Hoàng Tùng cũng khẳng định: “Phan Đăng Lưu được đề cử làm Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương lâm thời. Ông không nhận, nói: tôi sớm muộn cũng bị địch bắt. Vả lại trong tình hình hiện nay Ban chấp hành Trung ương cần phải ở miền Bắc, gần Hà Nội, trung tâm chính trị của chính quyền thực dân.”3. Lão đồng chí Trần Quốc Hương nhớ lại: “Đồng chí Phan Đăng Lưu lúc đó ở miền Nam ra họp, được hội nghị đề cử làm Bí thư Ban chấp hành Trung ương lâm thời nhưng đồng chí không nhận. Đồng chí nói, tình hình như thế này Trung ương nên ở ngoài Bắc, tôi trở về miền Nam, sớm muộn cũng sẽ bị địch bắt”4.

PGS Vũ Văn Thuấn đánh giá cao việc đ/c Phan Đăng Lưu, không nhận Tổng bí thư mà đề cử đ/c Trường Chinh thay.

“Góp phần đề cử thành công đồng chí Trưòng Chinh vào chức vụ Quyền Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương 7 là công lao lớn của Phan Đăng Lưu trong suốt quá trình góp phần xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ cho Đảng, cho cách mạng nước ta.”[5]

“Việc đánh giá và s dụng đúng đắn, sáng suốt cán bộ của Phan Đăng Lưu là sự kiện đồng chí góp phần đề cử đồng chí Trường Chinh làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng tại Hội nghị Trung ương 7. Đây là hành động cao thượng xuất phát từ lợi ích của Đảng”.[6]

4. Đ/c Phan Đăng Lưu hc trường quân s Hoàng Ph

Việc đ/c Phan Đăng Lưu học trường quân sự Hoàng Phố được xác định do hai tư liệu sau đây:

Tài liu 1, tài liu mt thám Pháp.

Vào những năm 20 của thế kỉ trước, Tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng (gọi tắt là Tân Việt) được thành lập ở trong nước. Tân Việt ngày càng phân hóa sâu sắc dẫn tới hình thành hai xu hướng: Một là cải tổ Tân Việt theo hướng quốc gia liên hiệp. Hai là xu hướng hợp nhất với Thanh niên. Phan Đăng Lưu là một trong những người tích cực nhất ủng hộ việc hợp nhất giữa Tân Việt với Thanh niên. Bởi vậy, ông được cử sang Quảng Châu để bàn chuyện hợp nhất với Tổng bộ Thanh niên.

- Theo tài liệu của Mật thám Pháp còn lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam thì trong thời gian ở Quảng Châu với sự giúp đỡ của Đinh Tế Dân - một sĩ quan người Việt, giáo viên Trường quân sự Hoàng Phố - Phan Đăng Lưu được nhận vào học ở trường này.

Ngun tài liu:

Hồ sơ lưu trữ tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam STT: 1, số hộp 23.

Văn phòng công tác chính trị và Tổng nha cảnh sát.

Thông tri về lịch sử những hoạt động chính trị ở Đông Dương thuộc Pháp

Tài liệu: tập số 1

“Tân việt cách mạng đảng” “Đảng cách mạng của Thanh niên Annam” (1925- 1930)

Ni dung

“Ngày 9- 12- 1928, Đào Xuân Mai, bí thư Tân Việt Nam Kỳ, vô tình bị bắt cùng với môt số giấy tờ của Đảng Tân Việt. Năm người gồm Trần Phạm Hổ và vợ, Trần Ngọc Danh, Hà Huy Tập và Bình sợ lộ cùng xuống tàu bỏ chạy

Hai đại biểu Phan Đăng Lưu và Lê Liên Vũ lợi dụng cơ hội này để hoàn thành sứ mệnh. Đi theo nhóm 5 người bỏ chạy, họ xuống thuyền ngày 15- 12- 1928 và đến Hồng Kông ngày 20 tháng này. Để những người khác tiếp tục đi Thượng Hải, 2 người trở lại Quảng Đông, Một sự kiện bắt ngờ đã đặt họ vào tình huống vô cùng lúng túng. Chính quyền Quảng Đông bắt tất cả các đảng viên TNCMĐCH, kết án họ tuyên truyền cộng sản. Trong lúc chờ đợi khả năng gặp những người cần đàm phán, 2 người ở lại Hoàng Phố để liên lạc với một số sinh viên Việt Nam, của trường quân sự nơi đây. Họ được một người Việt Nam, (ông Đinh Tế Dân, giảng dạy ở trường Hoàng Phố, nhận cho ở lại đây hơn một tháng )” (tr. 48)

“Đến Quảng Đông ngày 22- 12, Phan Đăng Lưu và Lê Liên Vũ không tìm được Võ Hải Thu. Họ quyết định tự giới thiệu với các người Việt Nam ở trường quân sự Hoàng Phố, họ được Đinh Tế Dân cho tạm trú từ ngày 25- 12- 1928 đến 31- 1- 1929. Li dng cơ hi được tm trú, h đăng ký hc trường quân s này. Ngày 1- 2- 1929 họ chuyển sang nhà trọ Đại đồng học lư, ở trước mặt Đại học Sun Yat Sen- Tụn Trung Sơn.” (Chú thích ở trang 49)

Tài liu 2, thư ca ông Trn Ngc Đip

- Trong bức thư của ông Trần Ngọc Điệp, người bạn tù của đ/c Phan Đăng Lưu, từ Đak Lak, đề ngày 28- 3- 1988, gửi cho cụ Phan Đăng Tài, em trai của đ/c Phan Đăng Lưu, có đoạn như sau: “Có một chi tiết là anh Lưu rất giỏi tiếng Trung Quốc, vì anh vốn giỏi chữ nho. Anh có cho tôi biết là anh đã tốt nghiệp quan II trường Không quân Trung Quốc. Lúc bấy giờ, như anh Đàm Quang Trung (sau anh Lưu), anh Lê Hồng Phong, đều học trường Hoàng Phố” (Thư lưu tại nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu)

5. S man r ca k thù đi vi đ/c Phan Đăng Lưu, bt Catina

Xin mô tả cách chúng tra tấn anh Phan Đăng Lưu, sau khi dùng đủ mọi cách tra tấn “thông thường” như đánh đập, lộn mề gà, cho uống nước xà bông v.v... mà không khai thác được điều gì nơi anh, sau đó chúng dùng phương pháp đặc biệt để tra anh bằng cách đinh cút đóng vào 10 đầu ngón tay anh rồi lấy thước gõ vào từng cái, tôi thấy anh bất ngờ thét lên một tiếng đồng thời đập mạnh bàn tay xuống bàn, 10 cây đinh ngập lút vào 10 đầu ngón tay anh khiến bọn chúng la hoảng vội kêu bác sỹ đến nhổ đinh ra. Cách này cũng không đạt kết quả mong muốn, chúng lại dùng phương pháp khác là trói chặt tay và thân người anh vào một cái ghế, chúng nhúng hai bàn chân vào một cái thau nước ấm chứa đầy trùng (giun), hai bàn chân anh bị đánh dập nát lở loét những con trùng liền chui vào các vết lở loét gây đau đớn không tả xiết, lúc đó tôi thấy anh Phan Đăng Lưu nghiến răng, trợn mắt, da mặt anh chuyển từ màu đỏ sang tím rồi sang màu xanh, mắt anh nhìn bọn chúng lóe lên ánh căm thù, đến khi đau đớn quá mức, anh dãy dụa rồi ngất đi, người ngả bật ngửa ra sau, hai bàn chân anh bật lên còn dính lúc nhúc hàng trăm con con trùng (giun) đang rúc chặt vào da thịt anh, lúc đó chúng liền sai một người tù đến rứt từng chùm trùng (giun) ra như người ta nhổ mạ, trùng rứt ra đến đâu thì tại chỗ mà trùng (giun) vừa đục khoét chui vào ấy máu phụt ra như vòi rồng bắn vào vách tường phòng tra tấn. Lúc ấy tôi (Mười Lụa) choáng váng, mắt tối sầm không còn thấy gì, hồi lâu tôi mới tỉnh lại. Tại chỗ giam, chúng còng chung 5,6 người trong một cây sắt dài và tôi bị còng gần chỗ anh Lưu, khi anh về chỗ, tôi hỏi anh đau đớn như thế nào khi trùng (giun) chui vào chân, anh nói các kiểu tra tấn cực hình đó của chúng, anh đã chịu đủ nhưng chưa thấy kiểu nào đau đớn bằng lúc trùng (giun) rúc vào chân mình, nó đau xé tim ra từng mảnh, lúc đầu mình cắn răng chịu đựng nhưng tới khi đau đớn quá mức thì bất tỉnh, không còn hay biết gì nữa[7].

Tượng đài đồng chí Phan Đăng Lưu 

Chương thứ hai

Đ/C PHAN ĐĂNG LƯU VỚI SỤ NGHIỆP CHUYỂN HƯỚNG

CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG CUỐI THẬP KỶ 30 (THẾ KỶ XX)

Chương này có 4 đoạn:

+ Nguồn gốc của khẩu hiệu “Đào tận gốc trí phú địa hào”

+ Sự chỉ đạo của đ/c Nguyễn Ái Quốc.

+ Chuyển hướng chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương.

+ Tiểu kết.

I. Ngun gc ca khu hiu “đào tn gc trí, phú, đa, hào” là t quc tế cng sn.

Chúng ta đã biết đến khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Cội nguồn của khẩu hiệu chiến lược đó là Quốc tế Cộng sản. Các đ/c đã dã nhiều lần chỉ thị cho Đảng Cộng sản Đông Dương thi hành chiến lược trên:

“Để “văn kiện hóa” chỉ thị của mình, để giúp Trần Phú có cơ s “pháp lý”, ngày 13 tháng 10 năm 1930, Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, bấy giờ có trụ sở Thượng Hải - Trung Quốc đã có thư gửi Đảng Cộng sản Đông Dương khoanh vào những điểm trọng tâm như sau:

1. Động lực cách mạng ở Đông Dương là giai cấp công nhân và nông dân. Đồng minh trực tiếp của bọn đế quốc là địa chủ, phong kiến, kỳ hào, tư sản dân tộc. Giai cấp tiểu tư sản và tầng lớp trí thức xét trong toàn bộ sẽ dao động...

2. Cốt lõi của cách mạng điền địa là triệt để tiêu diệt bọn địa chủ. Đừng rơi vào sai lầm nguy hiểm là phân địa chủ thành loại “tốt” và “xấu”[8].

Ngày 3 tháng 8 năm 1934, sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh,(với khẩu hiệu mang đầy đủ quan điểm của Quốc tế Cộng sản “trí, phú, địa, háo, đào tận gốc, trốc tận rễ” thông qua chỉ đạo trực tiếp của ủy viên Trung ương Đảng Nguvễn Phong Sắc tại Trung Kỳ) bị đàn áp; Nguyễn Ái Quốc bị “mất tích”, khởi nghĩa Yên Bái thất bại; Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho Đảng Cộng sản Đông Dương “khắng định lại tính chất và nhiệm vụ cách mạng Đông Dương, chỉ rõ động lực chủ yếu cách mạng Đông Dương là giai cấp vô sản, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng hiện nay là nhen lên và tổ chức ở khắp nơi cuộc đấu tranh của nông dân đòi ruộng đất...”[9]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhiều lần yêu cầu và cũng đã được Quốc tế Cộng sản cung cấp tài chính “buộc” phải chấp hành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, nhưng cũng sớm thấy “có gì đó không đúng với thực tiễn xã hội, thực tiễn cách mạng Việt Nam”. Về phần mình, qua nhìn nhận tình hình Đông Dương, trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới sắp xảy ra do phát xít Đức khởi xướng, Quốc tế Cộng sản cuối cùng cũng đã thay- đổi ý kiến, tức là chấp thuận quan điểm mới, chính xác của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề các dân tộc thuộc địa đấu tranh cách mạng giành 'giải phóng dân tộc.[10]

 Đồng chí Lê Hồng Phong, trong bài tham luận tại Đại hội quốc tế Cộng sản lần thứ VII, ngày 28- 7- 1935 còn phát biểu rằng: “tàn dư của cương lĩnh các nhóm cộng sản cũ đã máy móc chia giai cấp địa chủ thành hạng đại và trung”[11]

II. Tư tưởng ch đo ca đng chí Nguyn Ái Quc

Trong lúc đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc không đồng tình với quan điểm trên. đ/c đã uốn nắn “những biểu hiện của biểu hiện “tả” khuynh”:

“Chính quyên Xô viết được thiết lập ở Nghệ Tĩnh khi cả nước chưa có tình thế cách mạng, lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, trong hàng ngũ lãnh đạo xứ ủy và các đảng bộ địa phương đều có biểu hiện của sự ấu trĩ “tả khuynh”, vì vậy mặc dù Trung ương Đảng và đ/c Nguyễn Ái Quốc kịp thời chỉ đạo uốn nắn, nhưng cuối cùng XVNT vẫn bị kẻ thù dìm trong biển máu. Tuy nhiên, sức sống của XVNT đã được khẳng định” (T đin bách khoa Vit Nam, t.4, NXB Từ điển bách khoa, H. 2005, tr. 1033). Trong lời kính cáo đồng bào ngày 6- 6- 1941, đ/c Nguyễn Ái Quốc đã để lên hàng đầu “các bậc phú hào yêu nước thương nòi”.

KÍNH CÁO ĐỒNG BÀO CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN ÁI QUỐC

Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sỹ! Mong các ngài noi gương phụ lão đời Trần trước họa giặc Nguyên xâm lấn, đã nhiệt liệt hô hào con em tham gia sự nghiệp cứu quốc.

Hỡi các bậc phú hào yêu nước thương nòi! Hỡi các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương!

Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy.

………

Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm; người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề…….

         Ngày 6 tháng 6 năm 1941

                  NGUYỄN ÁI QUỐC[12]

III. Đường li chuyn hướng chiến lược ca Trung ương Đng CSĐĐ giai đon 1935- 1940

Trung tâm của đường lối chuyển hướng chiến lược thời kỳ này được tổng hợp chủ yếu trong nhóm các văn kiện Hội nghị Trung ương VI (ngày 6,7,8 Novembre/tháng 11 năm 1939) và Hội nghị Trung ương VII (ngày 6,7, 8,9, Novembre/tháng 11 năm 1940) và một số văn kiện khác hình thành một nhóm văn kiện.

Nhóm văn kiện trên gồm:

- Tự chỉ trích (20 tháng 7 năm 1938, ký tên T.C)

- Nghị quyết hội nghị VI ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939

- Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản Đông Dương tháng 11 năm 1939

- Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 26- 6- 1940

- Văn kiện hội nghi VII (ngày 6,7,8,9,11- 1940)

Tiếp theo, chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt nội dung của các văn phẩm trên, nhấn mạnh tư tưởng chuyển hướng chiến lược.

3.1.T ch trích ghi tên tác gi T. C..T ch trích, bn mà chúng tôi có là Tài liu lưu ti Bo tàng Cách mng Vit Nam, ghi tên tác gi là T.C., có ch khác ghi Trí Cường,viết ngày 20 Juillet (tháng By) 1939.

Tóm tắt nội dung:

+ Trong cuộc tuyển cử ở Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, Mặt trận dân chủ của nhóm Dân chúng thất bại, trong lúc đó số tờ rốt kít đắc cử ở quân nhì. Có hai bài thái độ và nội dung đối lập:

Anh Nguyễn Văn Tạo chủ trương “đánh đổ đảng Lập hiến; anh T.B. chủ trương “không đánh đổ một đảng phái nào, một giai cấp nào của người bản xứ”.

Cuốn sách nhỏ của T.C dài 26 trang, gồm các ý chính sau đây:

+ Trước hết phải nhận thế nào là tự chỉ trích Bôn sơ vich.

+ Một bài học nữa về cuộc tuyển cử, cần vạch rõ.

+ Các đảng phản động người bản xứ làm tay sai cho phát xít và đế quốc.

+ Mặt trận thống nhất ở bên trên và mặt trận thống nhất ở bên dưới

+ Trong một giai cấp có nhiều đảng.

+ Người cộng sản là chiến sỹ thực tế, không phải bọn chính trị cận thị.

+ Căn cứ vào hành động để xét đoán người cách mệnh.

+ Địa vị và năng lực của các đảng phái cải lương.

+ Thái độ đối với đảng Lập hiến.

+ Cần phân biệt bọn phản động với bọn cô độc hèn nhát để kéo kẻ có thể đồng minh.

+ Nhưng cũng cần phân biệt thái độ bọn cải lương lừng khừng, hèn nhát.

+ Muốn thực hiện mặt trận dân chủ phải khuyếch trương cuộc vận động của dân chúng.

+ Phân biệt kẻ nguy hiểm nhiều với kẻ nguy hiểm ít.

“Kết lun: Chúng ta phải chiến thắng những xu hướng sai lầm trong hàng ngũ: xu hướng “tả khuynh”, cô độc, nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng, và xu hướng thỏa hiệp hữu khuynh, lung lay trước những tình hình nghiêm trọng, nhãng quên hoặc che lấp sự tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin, lăm le rời bỏ những nguyên tắc cách mệnh

Cho được đảm bảo sự thực hiện Mặt trận dân chủ thống nhất, chúng ta cần tranh đấu tẩy trừ những xu hướng tả khuynh lẫn xu hướng hữu khuynh trong hàng ngũ.

- Thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động!

- Củng cố hàng ngũ để chóng thực hiện sự thống nhất các lớp nhân dân”[13]

Trên đây là tóm tắt nội dung, tuy nhiên, chiều sâu phương pháp luận của văn bản này là phép biện chứng của tư duy, được thu gọn trong bảng biểu “Mối quan hệ biện chứng của hai mặt đối lập”, mà chúng tôi sẽ trình bày tiếp theo sau đây:

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA HAI MẶT ĐỐI LẬP

(Qua nghiên cu trường hp T ch trích)

STT

Ni dung vn đ

Mt A[14]

Mt B

X lý quan h

1.

Vấn đề tư tưởng

(tr.623)

“Một sự “bớt tập trung”(décentralisation) là có thể và cần thiết. Phải cần để cho sáng kiến và sự hoạt động theo sáng kiến (activité autonome) của các đảng viên được phát triển” (tr.623)

“Nhưng không phải đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng- dù cho đúng- đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gây mối hoài nghi lộn xộn trong quần chúng, gây mầm bè phái chia rẽ trong hàng ngũ Đảng” (tr. 623- 624)

“Anh Tạo và mấy anh chủ trương bộ biên tập Đông phương tạp chí có lẽ đã dư biết điều này, tôi rất mong các anh thành thật nhận cái sai lầm về chỗ chỉ trích sai nguyên tắc ấy” (tr. 624)

2.

Nguyên nhân thất bại (ở Hội đồng quản hạt) (625)

“Một phần tại chính sách đàn áp của địch, tại các phần tử tư bản tự do còn do dự, yếu ớt,”(tr.625)

“Nhưng phải nhận phần chính là tại ta chưa đủ sức lãnh đạo quảng đại quần chúng, thúc giục các đảng phái, nhân vật cấp tiến liên hiệp hành động, tại phong trào quần chúng chưa đủ mạnh để làm cho họ tin và mạnh dạn tham gia MTDC” (tr. 625)

“Ta còn phải làm việc nhiều nữa, làm việc không ngớt để lan rộng ảnh hưởng Đảng trong những tầng lớp dân chúng rất đông đúc chưa giác ngộ, để lôi kéo những đám quần chúng lớn lao xưa nay vẫn nằm yên hay lãnh đạm, rụt rè, tham gia vào sinh hoạt chính trị…, làm cho Đảng thành một Đảng chân chính của quần chúng, tiến lên thực hiện MTDC thống nhất” (tr.625- 626)

3.

Phân biệt giai cấp và đảng (633)

“Anh T.B.không nhận rõ trong một giai cấp có nhiều tầng lớp và có thể có nhiều đảng phái, chớ không nhất thiết chỉ có một đảng…; một đảng không nhất thiết đại biểu cho cả một giai cấp, mà nhiều khi đại biểu cho một tầng lớp (couche) của giai cấp ấy” (tr.633)

“Vì thế ta có thể đồng thời đánh đổ đảng phái phản động của những phần tử đại địa chủ tư sản và liên minh với tất cả cá đảng phái cải lương; và như vậy vẫn có thể kéo được một bộ phận lớn của tư sản bản xứ đi về phe MTDC.” (tr. 633)

 

4.

Đảng Lập hiến (638)

“Đánh đổ bọn lãnh tụ phản động Chiêu, Liêm và tất cả cái chủ trương, cái xu hướng lập hiến (theo kiểu Chiêu, Liêm) nghĩa là quỵ lụy đầu hàng đế quốc” (tr.638)

“Còn đối với các từng lớp địa chủ và tư sản bản có xu hướng lập hiến, hay nói chung có xu hướng cải cách thì phải chỉ cho họ rõ thái độ phản động hoặc hèn nhát của bọn lãnh tụ, khuyến khích họ thống nhất hành động với các lớp nhân dân để đòi cải cách, vì chỉ có con đường ấy mới đòi được tự do bình đẳng. Con đường đầu hàng chỉ đưa đến phá sản và bị khinh khi” (tr.638)

 

5

Phân biệt thống nhất bên dưới và thống nhất bên trên (632)

“Đối với những đảng phái có tính chất và chương trình ít nhiều cải cách, Đảng CSĐD chủ trương thống nhất hành động, vẫn tán thành liên minh với đảng ấy” (tr. 632)

“Nếu trong các đảng ấy có bọn lãnh tụ phản động làm tay sai cho đế quốc, cho phản động thuộc địa, thì dù cho người ngoại quốc hay người bản xứ tổ chức, Đảng CSĐD cũng chủ trương đánh đổ những bọn phản động ấy” (tr.632)

“Cố nhiên là Đảng Cộng sản Đông Dương sẽ luôn luôn vạch rõ mặt nạ của những tổ chức phản động ấy để kéo những lớp nhân dân nào còn theo lầm ảnh hưởng chúng về phe MTDC, cũng như Đảng Cộng sản Pháp chống Đảng Hỏa thập tự, đồng thời cố kéo lấy đám quần chúng lầm theo bọn De La Rocque. Đó là chính sách Mặt trận thống nhất ở bên dưới chớ không thống nhất dưới lẫn trên như đối với đảng cải lương hay cách mệnh” (tr.632)

6

Về lãnh tụ cải lương (637)

“Sự quan hệ giữa “lãnh tụ” cải lương và “quần chúng” theo họ đã mong manh như thế, cái vai tuồng của đảng phái cải lương trong sinh hoạt chính trị trong xứ đã yếu ớt như thế, nên đứng về người chiến sỹ thực tế (réaliste), xét mối tương quan lực lượng các giai cấp để định chiến thuật cách mạng tuy không khinh thường và xua đuổi mấy tay lãnh tụ cải lương” (tr.637)

“Tuy vẫn tìm cách liên hiệp hành động với họ, song ta cũng đừng quá tôn trọng họ, quá tâng bốc họ một cách không đáng” (tr. 637)

 

7.

Phân biệt các kẻ nguy hiểm (643)

“Người cộng sản, khi đặt chiến thuật tranh đấu phải phân biệt kẻ nguy hiểm nhiều với kẻ nguy hiểm ít. Xét về ảnh hưởng chung trong quần chúng, bọn lãnh tụ lập hiến rõ mặt phản động Khá, Chiêu, Liêm làm tay sai cho phản động thuộc địa, có thể ít nguy hiểm hơn bọn tờ rốt kít…tuy lung lay, hèn nhát, nhưng còn có ý muốn đòi cải cách,, còn có đôi chút tính chất tiến bộ” (tr. 643)

“Bọn tờ rốt kít giả danh cách mệnh, làm tay sai cho phát xít, còn che đậy lừa gạt quần chúng được” (tr.643)

“Nhưng phân biệt như thế không phải để tâng bốc hay theo đuôi kẻ nguy hiểm ít để ôm ấp mãi mãi cái nguy hiểm ít (moindre mal) như bọn cải lương. Người cộng sản phân biệt nguy hiểm nhiều với nguy hiểm ít là cốt lợi dụng với mâu thuẫn trong dinh lũy quân thù tập trung hết mũi nhọn chống kẻ nguy hiểm hơn hết để dự bị lực lượng cho cách mệnh” (tr. 643)

 

Tình hình chính trị xã hội lúc bấy giờ rất phức tap, rối ren. Trong Đảng, nhiều luận điếm sai trái xuất phát từ những đồng chí có hiểu biết. Thường vụ thấy cần chỉnh đốn tránh sai lầm tả khuynh đồng thời tránh hữu khuynh.

Muốn vậy, phương pháp tư duy trước hết là các đ/c lãnh đạo không được cứng nhắc, một chiều, phải rèn luyện tư duy biện chứng. Sau đây là một số ví dụ:

1. V mt tư tưởng:

- Mặt A: Trong Đảng cần dân chủ, bớt tập trung

- Mặt B: Không được đưa cá nhân lên trên đi đến đối chọi, đả kích Đảng.

2. Nguyên nhân tht bi Hi đng qun ht:

- Mặt A: Chính sách đàn áp của địch.

- Mặt B: Tình trạng còn yếu của lãnh đạo chúng ta.

3. Đi vi đng Lp hiến:

- Mặt A: bọn cầm đầu, phản động, cần đánh đổ

- Mặt B: những đảng viên ở dưới, kể cả địa chủ, cần tranh thủ.

Đồng chí Phan Đăng Lưu đã từng trải nghiệm nhiều trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, nhờ có tư duy năng động, biện chứng nhận định chính xác, giải quyết đúng đắn, mà đồng chí đã thoát khỏi những tình huống khó khăn, hiểm nghèo:

- Ở nhà tù Buôn Ma Thuột, đ/c đã phân biệt bọn chúa ngục và những người lính Đê, và tách họ ra, học tiếng Đê để thuyết phục.

- Trong công cuộc đấu tranh ở Viện dân biểu Trung Kỳ, đ/c đã phân biệt đấu tranh quyết liệt với bọn dân biểu tay sai; thuyết phục huy động nhũng người yêu nước, vì dân, nhờ đó mà “thắng lợi 100%”

- Về khởi nghĩa Nam Kỳ phải được xét dưới hai góc độ. Một là Nam Kỳ phải cùng cả nước vũ trang khởi nghĩa. Về phương diện này, Đ/c Phan Đăng Lưu đã tích cực chuẩn bị. Đ/c đã soạn thảo tài liệu chiến tranh du kích và gửi đi huấn luyện cho các địa phương. Nói xa hơn, khi sang Trung Quốc, đ/c đã tranh thủ học trường quân sự Hoàng Phố và đã đỗ quan hai hàng không (Trần Ngọc Điệp), cũng là một sự chuẩn bị cá nhân cho vũ trang khởi nghĩa.

Hai là thời gian nổi dậy. Nhưng nổi dậy ngay trong năm 1940- 1941 thì đ/c kiên quyết không tán thành, đã tìm mọi cách để trì hoãn hoặc ngăn trở. Việc ra hỏi Trung Ương cũng là một biện pháp. Có người nói: Trung Ương ở đây rồi chứ ở đâu nữa mà hỏi. Đúng là đ/c có thể tự quyết định, nhưng như thế, đ/c đoán biết có thể gây phản ứng mạnh mẽ và gây phân liệt trong nội bộ, rất bất lợi.

Để chống tả và đồng thời hữu khuynh, điều quan trọng là xây dựng trong Đảng, đặc biệt là trong lãnh đạo một nếp tư duy biện chứng. Các đ/c chúng ta mặc dầu tinh thần cách mạng cao, nhưng do hoàn cảnh khách quan chi phối, nên thường bị thói quen suy nghĩ và hành động cứng nhắc, đem đến những chủ trương sai lầm, rất có hại cho cách mạng và nhân dân. Khẩu hiệu “đào tận gốc trí, phú, địa, hào” nói trên là một trong muôn vàn ví dụ. Về sau, Khởi nghĩa Nam Kỳ sở dĩ thất bại nặng nề mà đ/c Phan Đăng Lưu không tài nào ngăn được là do tư duy được gọi là “chm bm”:

 - “Xứ ủy chỉ tính toán chằm bẳm vào khả năng duy nhất là khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định ở cơ ở cơ quan yết hầu, đầu não của kẻ địch. Thực tế diễn ra hoàn toàn khác!”[15]

- “Nhưng sử dụng lực lượng binh lính địch phải tính toán cả hai mặt khả năng và hiện thực. Chỉ chm bm mặt khả năng mà không tính toán mặt không trở thành hiện thực, chính đó là sai lầm của cơ quan lãnh đạo khởi nghĩa Nam Kỳ “ [16]

“Chm bm” là một tư duy cục mịch, thiếu uyển chuyển, không năng động, không tự chuyển hóa, ta thường thấy ở những người lao động ít cởi mở, cố chấp, đó chính là không nhận thức được và không chấp nhận mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt đối lập của sự vật. Thái độ này được mệnh danh cho sự sai lầm của những người lãnh đạo Khởi nghĩa Nam kỳ là có lý, mà trước đó một năm (1939)  đ/c T.C đã nêu ra để cảnh tỉnh là rất cần thiết.

Để độc giả hiểu rõ hơn văn kiện “Tụ chỉ trích” (viết tắt là TCT), chúng tôi xin cung cấp thêm một số tư liệu về:

- Hoàn cảnh ra đời của văn kiện.

- Mục đích và nhiệm vụ của văn kiện.

TCT được tác giả, với bút danh T.C “viết ngày 20 Juillet (tháng Bảy) 1939”. Đây là văn kiện viết sớm nhất, có tính mở đầu, trong nhóm văn kiện, chỉ đạo chuyển hướng chiến lược.

Nguyên cớ trực tiếp và cụ thể là cuộc tranh luận trong nội bộ hai cán bộ cộng sản là đ/c Nguyễn Văn Tạo và đ/c T.B.

Ông Tạo nêu lên chủ trương “đánh đổ đảng Lập Hiến” (bài đăng ở Đông Phương Tp chí số 6), ông T.B. ngược lại chủ trương: “không đánh đổ một đảng phái nào, một giai cấp nào của người bản xứ” (đăng ở báo Dân chúng số 67, 68, 69).

Trước một vấn đề có tính chiến lược đấu tranh của Đảng như vậy, mà hai đ/c có hai ý kiến trái ngược nhau. Và công chúng, “dư luận độc giả, quốc dân, nhất là các đ/c cộng sản vẫn đang xôn xao bàn luận…không thể chờ lâu hơn được nữa, vì các độc giả, các đ/c trong xứ đương xôn xao thảo luận, nhiều ngưới phân vân lộn xộn” (TCT, tr. 621) về vấn đề trên. Đ/c T.C., “cũng như tất cả các đ/c khác, thấy có trách nhiệm phải tham gia vào cuộc tranh luận của anh T.B. và anh Tạo, phải định rõ thái độ đối với những ý kiến mà các anh ấy đã đưa ra” (TCT, tr.620).

Trước khi văn kiện này được công bố, đ/c T.C, đã viết hai bản khác để tham gia thảo luận (bản tháng 5- 1938 và bản tháng 6- 1938). Hai bản trên đều được gửi đến tòa soạn báo Dân chúng nhờ đăng. Nhưng cả hai đều không được đáp ứng và không có hồi âm. “Bất đắc dĩ, T.C. phải gửi in cuốn này vào Tp sách dân chúng”. (T.C.T., tr.620)

Đến đây, chắc hẳn độc giả muốn biết qua về hai vị Nguyễn Văn Tạo và T.B.

 Nguyễn Văn Tạo là người Việt Nam duy nhất là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp… Ông còn là một nhà báo cộng sản rất nổi tiếng ở cả Việt Nam và Pháp nửa trước thế kỷ XX

Trong Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Nguyễn Văn Tạo tham gia lãnh đạo ủy ban Hành chính Nam bộ lâm thời do Giáo sư Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Tháng 1- 1946, nhà báo Nguyễn Văn Tạo đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ tháng 12- 1946. Trong điều kiện vô cùng ác liệt, khó khăn của cuộc kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và Trung ương Đảng, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tạo đã cùng Chính phủ ra sức chỉ đạo cuộc trường kỳ kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn. … Đến năm 1965, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tạo được Trung ương điều sang Văn phòng Chính phủ, giữ chức Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng…

Bộ trưởng Nguyễn Văn Tạo qua đời ngày 16- 8- 1970, sau một cơn đau nặng. Ghi nhận những đóng góp to lớn của ông đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, năm 2002, Đảng và Nhà nước đã truy tặng đồng chí Nguyễn Văn Tạo Huân chương Hồ Chí Minh. Năm 2009, ông được truy tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Nguyễn Văn Tạo để lại một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, đạo đức và lương tâm của người làm báo.

(Trần Duy Hiển:

Về nhân thân tác giả T.B, hiện nay chúng tôi chưa biết, xin sẽ tìm cách bổ sung sau. 

  • Sự phát biểu đối lập nhau, có tính tranh luận, của hai tác giả cộng sản về một vấn đề chính trị chiến lược trên đây là hiện tượng khá tiêu biểu về tư tưởng trong nội bộ Đảng; diễn ra vào thời điểm tình hình đất nước diễn biến phức tạp, nhiệm vụ lịch sử của Đảng ngày càng nặng nề hơn. Hơn bao giờ hết, “để bảo đảm sự thực hiện Mặt trận dân chủ thống nhất, Đảng cần phải tẩy trừ những xu hướng tả khuynh lẫn xu hướng hữu khuynh trong hàng ngũ, cần phải:

- Thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động!

- Củng cố hàng ngũ để chóng thực hiện sự thống nhất các lớp nhân dân!” (TCT,tr.645).

3.2. - Ngh quyết hi ngh VI ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939 (Thường được gi là hi ngh ln th VI ca Trung ương)

Chun b hi ngh và đóng góp ca đ/c Phan Đăng Lưu

Trong tháng 10- 1939, đ/c Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn cùng Ban Chấp hành Trung Ương họp bàn kế hoạch        chuẩn bị cho Hội nghị Trung Ương lần thứ sáu. “Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn giúp tổng bí thư khẩn trương biên soạn tài liệu Chính sách mới của Đảng- Văn kiện chính thức của hội nghị trung ương lần này” [17]

“Tháng 11- 1939, trong hội nghị Trung ương lần thứ VI, cũng tại Bà Điểm, với tư cách là Ủy viên thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Phan Đăng Lưu đã đóng góp tích cực vào việc đề ra chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng.”[18]

Trung ương Đảng tiến hành hội nghị lần thứ VI từ ngày 8- 11- 1939, đến ngày 6- 11- 1939, tại xã Tân Thới Nhất (Bà Điểm, Gia Định, ngay “vành đai đỏ “ của thành phố Sài Gòn- Chợ Lớn. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Văn Cừ chủ trì, dự họp có đồng chí Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần,….

Tóm t

Nghị quyết dày 50 trang 13x16, gồm các mục chính sau đây:

  1. Tình hình thế giới
  2. Tình hình Đông Dương
  3. Chính sách của Đảng Cộng sản Đông Dương

Do tình hình thế giới và Đông Dương thay đổi, Đảng ta phải thay đổi chính sách. Những điềm thay đổi chính là; không phải là Mặt trận dân chủ nữa, mà là Mặt trận Thống nhất phản đế Đông Dương. Không phải đấu tranh giai cấp quyết liệt “đào tận gốc” mà: “liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, liên hiệp tất cả các giai cấp các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc.”:

“Căn cứ vào những biến đổi quốc tế và trong xứ và sự biến chuyển mới của phong trào cách mệnh thế giới và Đông Dương, Đảng ta phải thay đổi chính sách.

Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay không thích hợp nữa. Ngày nay phải thành lập Mặt trận thống nhất phản đế Đông Dương(M.T.T.N.P.Đ.Đ.D): là hình thức liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương dưới nền thống trị đế quốc Pháp, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc, để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, chống xâm lược phát xít, đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc; đòi hòa bình cơm áo, thực hiện nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương, với quyền dân tộc tự quyết”[19]

Đối với vấn đề ruộng đất, chỉ mới tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Chính quyền cách mạng không phải là xô viết công nông binh, (như Xô viết Nghệ Tĩnh nêu lên) mà là chính phủ Cộng hòa dân chủ.

“Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyến lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết. Vì vậy, trong khi chủ trương M.T.T.N.D.T.P.Đ. Đ.D, cách mạng tư sản dân quyền trong lúc này chỉ mới tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Một điều khác nữa Mặt trận phản đế chưa đưa khẩu hiệu lập chính phủ “Xô- viết công nông binh”, là hình thức chính phủ riêng của dân chúng lao động, mà đưa khẩu hiệu “chính phủ liên bang Cng hòa dân chủ Đông Dương”[20]

Đảng sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản, tư sản trung tiểu địa chủ, Không coi “địa chủ, phong kiến, kỳ hào, tư sản dân tộc là đồng minh trực tiếp của bọn đế quốc”; cũng không coi “giai cấp tiểu tư sản và tầng lớp trí thức xét trong toàn bộ sẽ dao động”; không chủ trương “triệt để tiêu diệt bọn địa chủ”; không quan niệm rằng: “phân loại địa chủ thành loại “tốt” và “xấu” là “sai lầm cực kỳ nguy hiểm”.

“Công nông phải đưa cao cây cờ của dân tộc lên, vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và những tầng lớp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ còn có căm tức đế quốc, vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ ít nhiều có tinh thần chống đế quốc” [21]           

Nghị quyết hội nghị VI đặc biệt quan tâm đến các dân tộc Miên, Lào và dân tộc thiểu số, đã có những chủ trương rất thiết thực, cụ thể như: tổ chức ban chuyên môn, phải cho người học chữ, tiếng dân tộc; về cán bộ dân tộc, Đảng quyết tâm bố trí, dầu vì vậy “mà đình trệ công tác ít nhiều ở địa phương cũng phải làm”, và Nghị quyết còn cẩn thận lưu ý “đừng có nói rồi bỏ đấy như trước đây”.

Cách đây 76 năm, một nghị quyết thấu đáo, triệt để như vậy về dân tộc thiểu số, chứng tỏ tấm lòng quan tâm “thủy chung như nhất” và sâu sắc biết bao của Đảng đối với các dân tộc.

“Ta đã thấy vận mạng và sự giải phóng của các dân tộc Đông Dương có liên quan mật thiết thì ta phải đặc biết chú ý sự vận động các dân tộc Miên, Lào và các dân tộc thiểu số, phải nghiên cứu những phương pháp cụ thể để thực hành nhiệm vụ ấy, đừng có nói rồi bỏ đấy như trước. Bây giờ ban Trung Ương cũng như xứ ủy, phải tổ chức ban chuyên môn về vấn đề dân tộc thiểu số, phải cho người học chữ, học tiếng các dân tộc ấy để tuyên truyền vận động họ, phải tìm đủ mọi cách tìm mối liên lạc và gây cơ sở ở Miên, Lào và dân tộc thiểu số như Thổ, Thượng,v..v..Dù cho sự rút bớt cán bộ để phụ trách công tác này mà đình trệ công tác ít nhiều ở địa phương cũng phải làm”[22]        

Về tuyên truyền, Nghị quyết ra chỉ thị phải học tiếng dân tộc, có sách báo bằng chữ dân tộc. Phải chăng đây là sự phản ánh bài học thực tế sâu sắc mà chính đ/c Phan Đăng Lưu đã sáng kiến và thực hiện rất có hiệu quả thời ở nhà tù Buôn Ma Thuột, với việc học, dạy tiếng Đê và ra “Doãn Đê tù báo”

“Sự tuyên truyền các dân tộc khác như Miên Lào, các dân tộc thiểu số như Thổ, Ra- đê,v.v…trong lúc này là rất quan hệ, vì bọn đế quốc đương ra sức thực hành chính sách chia rẽ dân tộc, lấy dân tộc này đàn áp dân tộc kia. Phải có những đội chuyên môn tuyên truyền các dân tộc, phải học tiếng các dân tộc ấy, phải tìm ra các sách báo bằng chữ của họ để tuyên truyền cổ động cho mau lẹ”[23]

Vai trò Hi ngh TƯ VI        

Những trích đoạn trên đây “cho thấy Hội nghị Trung ương tháng 11- 1939 (hội nghị VI) đã đánh dấu bước chuyển hướng đúng đắn, sáng tạo về chỉ đạo chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, về sách lược và phương pháp đấu tranh, mở đầu cho thời kỳ đấu tranh mới của của cách mạng nước ta. Các hội nghị Trung ương tháng 11- 1940 (hội nghị VII) và tháng 5- 1941 (hội nghị VIII), đã hoàn chỉnh sự chỉ đạo chiến lược này, đề ra những hình thức tổ chức, đấu tranh sát hợp, tích cực chuẩn bị và kịp thời nắm vững thời cơ, phát động cuộc tổng khởi nghĩa. Chính đây là nguyên nhân cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng tháng Tám vĩ đại năm 1945”[24]

3.3.Tuyên ngôn ca Đng Cng Sn Đông Dương tháng 11 năm 1939

Sau Hội nghị, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu và Lê Duẩn ra Tuyên ngôn của Đảng Công sản Đông Dương, tháng 11- 1939.

“Giữa tháng 11 năm 1939, đ/c Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn ra Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương, kêu gọi toàn dân đoàn kết, liên hiệp với Miên, Lào… ra sức đấu tranh chống đế quốc, để giải phóng các dân tộc Đông Dương).[25]  

Tuyên ngôn đã quán triệt tinh thần của Hội nghị VI, tha thiết kêu gọi hô hào tất cả các dân tộc bị áp bức Đông Dương, không phân biệt giai cấp đảng phái, tôn giáo liên hiệp lại, thành lập MẶT TRẬN THỐNG NHẤT DÂN TỘC PHẢN ĐẾ ĐÔNG DƯƠNG. Đảng cộng sản tình nguyện là một đội quân trung thành của Mặt trận ấy.

“Đảng cộng sản chúng tôi thiết tha hô hào tất cả các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, bất kỳ Kinh, Miên, Lào và các dân tộc thiểu số, bất kỳ giai cấp, đảng phái, tôn giáo nào, miễn là chống đế quốc chiến tranh, chống ách xâm lược, mau mau liên hiệp lại, lập thành MẶT TRẬN THỐNG NHẤT DÂN TỘC PHẢN ĐẾ ĐÔNG DƯƠNG…..; kẻ xuất công, người xuất của ra sức tranh đấu chống đế quốc chiến tranh và giải phóng các dân tộc Đông Dương ra khỏi đế quốc Pháp.”[26]

3.4.Tuyên ngôn ca Đng Cng sn Đông Dương ngày 26- 6- 1940

“Ngày 26- 6- 1940, để khẳng định sự lớn mạnh không ngừng và vai trò lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời để cổ vũ tinh thần đoàn kết đấu tranh của nhân dân cả nước, Phan Đăng Lưu đã dự thảo và chỉ đạo tuyên truyền bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương.” [27]

Tuyên ngôn 1940 do đ/c Phan đăng Lưu dự thảo và chỉ đạo tuyên truyền, đưa lên hàng đầu “các bậc thượng lưu trí thức yêu mến giống nòi”, “các nhà tư sản, địa chủ, phú hào ái quốc”

“Đứng dậy! Hỡi các bậc thượng lưu trí thức yêu mến giống nòi!

Đứng dậy! Hỡi các nhà tư sản, địa chủ, phú hào ái quốc!

Đứng dậy! Hỡi công nông binh dũng cảm!

Đứng dậy! Hỡi các lớp dân chúng cần lao!

Đứng dậy! Hỡi các chị em phụ nữ các giới!

Đứng dậy! Hỡi ai không cam tâm làm nô lệ!

Đứng dậy! Hỡi tất cả tù nhân khốn nạn của bần cùng!”

……Và kẻ của, người công, giúp cách mạng mau hát khúc khải hoàn”[28]

“Nắm vững Nghị quyết Trung ương VI của Đảng, với tinh thần chuyển hướng kịp thời, mau lẹ và vững vàng, kiên quyết trong nguyên tắc, mèm dẻo, uyển chuyển trong chỉ đạo, Phan Đăng Lưu đã góp nhiều công sức, trí tuệ và tài năng cho phong trào cách mạng cả nước, trước hết là cho cách mạng Nam Kỳ, vững bước tiến lên, nhất là trong điều kiện các đồng chí nguyễn Văn Cừ (tổng bí thư), Lê Duẩn (Thường vụ Trung ương), Võ Văn Tần (Thường vụ trung ương, kiêm bí thư xứ ủy Nam Kỳ), cùng nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng lần lượt bị địch bắt, giam hãm, tù đày. Tuy trong cơ quan lãnh đạo ở Tân Xuân (Hóc Môn, Gia Định) chỉ còn lại Phan Đăng Lưu lãnh đạo, nhưng phong trào đấu tranh của quần chúng cách mạng trong thời kỳ này diễn ra liên tục trên cả nước”[29]

Các văn kiện trên đây là tư tưởng ca tp th mà đ/c Phan Đăng Lưu là son gi ch lc: Ban lãnh đạo hội nghị VI (1939) gồm tổng bí thư và thường vụ, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu và Lê Duẩn, chỉ đạo tập thể.

      Đường lối chuyển hướng chíến lược của Hội nghị VI, với tinh thần đoàn kết mọi lực lượng yêu nước đã trở thành sức mạnh cách mạng to lớn. Sức mạnh này đã bộc lộ rõ trong cơn bão táp Khởi nghĩa Nam kỳ, nhiều người thuộc các giai cấp, tầng lớp đã tận tình hy sinh, cống hiến:

“Cùng với công nông chiếm đa số, từ lúc chuẩn bị cho đến khi nổi dậy, người ta thấy có cả lớp dân nghèo thành thị, học sinh, thầy giáo, nghệ sỹ, nhà buôn, tư sản, nhân sỹ trí thức có tiếng tăm như bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, nhà bác vật Lưu Văn Lang, nhà tư sản Kha Vạn Cân,…

Đối với tầng lớp phú nông, địa chủ, vì cuộc khởi nghĩa, theo đường lối của Đảng, nêu cao tinh thần dân tộc, chỉ đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của địa chủ phản động và bọn đế quốc thống trị  cho nên, trừ một số ít địa chủ lâu đời gắn bó với đế quốc, đi theo đế quốc; trong khởi nghĩa còn có địa chủ ở một số địa phương, nhất là con cái địa chủ phú nông tham gia và tích cực đóng góp vào cuộc nổi dậy chống chính quyền địch” [30] “Trong cuộc khởi nghĩa toàn tỉnh Mỹ Tho có 75 địa chủ đã đứng vào hàng ngũ những người nổi dậy, hoặc đóng góp tiền, lương thực cho nghĩa quân “[31]         

3.5.Văn kin hi nghi VII (10- 1940) và s đóng góp ca đ/c Phan Đăng Lưu ti hi ngh.

3.5.1.Văn kiện hội nghị VII

Văn kiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương ngày 6,7,8,9- 11- 1940 (Hội nghị VII) dàì 62 trang, gồm các phần chính sau đây:

- Tình hình quốc tế

+ Cuộc đế quốc chiến tranh hiện thời và thế giới tư bản.

+ Phong trào cách mạng và cuộc vận động chống đế quốc chiến tranh

Kết luận phần tình hình quốc tế Nghị quyết viết: Thế giới tư bản là thế giới đầy thịt tan xương nát, vang dội “những tiếng khóc than” thì thế giới Xã hội chủ nghĩa là thế giới nhân đạo được sống hòa bình và hạnh phúc. Cái mâu thuẫn ấy càng thúc giục vô sản giai cấp các nước tư bản và các dân tộc bị áp bức mau nổi dậy đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, nối gót Liên Xô tiến bước trên con đường tiến bộ và tự do.”

- Tình hình Đông Dương

+ Tình hình kinh tế Đông Dương

+ Tình hình chính trị Đông Dương

+ Tình hình sinh hoạt của nhân dân và cuộc vận động dân tộc độc lập ở Đông Dương.

Kết luận phần tình hình Đông Dương là: “Xem đó thì đủ biết chúng ta chưa đứng trước một tình thế trực tiếp cách mạng. Song những biến cố xẩy ra sẽ đẩy nhân dân Đông Dương đến một tình thế phải tranh đấu quyết liệt để sống. Hàng ngũ quân thù ngày thêm rối bét: Nhật gầm ghè Pháp, phái Đờ Gôn chống phái Đờ Cu. Đế quốc chủ nghĩa ngày càng áp bức nhân dân thêm. Tinh thần dân tộc của nhân dân ta ngày càng bị bọn phát xít Pháp và quân phiệt Nhật chà đạp. Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy, Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sự mệnh thiêng liêng: lĩnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập.”

Như vậy, một cao trào cách mạng nhất định nổi dậy là một tất yếu khách quan, “Đảng chuẩn bị để gánh lấy sứ mệnh thiêng liêng lĩnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”, cũng là một tất yếu khách quan, không phải là chủ quan, duy ý chí. Nhưng trái lại, một thực tế nữa “chúng ta chưa đứng trước một tình thế trực tiếp cách mạng.” Chính vì vậy, đ/c Phan Đăng Lưu tha thiết và quyết tâm đề nghị hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ. Tuy nhiên các đồng chí lãnh đạo xứ ủy Nam Kỳ không kiên quyết ngăn cản xu thế sai lầm, chủ quan, nóng vội này, mà vẫn phát động khởi nghĩa. Đáng tiếc và đau đớn thay, sự chủ quan đã đem đến thất bại thảm hại, cách mạng bị dìm trong biển máu!

- Tình hình Đảng và các hội quần chúng

+ Tình hình Đảng

+ Tình hình hội quần chúng

- Cách mạng Đông Dương vẫn là cách mạng dân quyền

- Mặt trận thống nhất phản đế

Nghị quyết giải thích rõ: “Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế là sự liên minh giữa các lực lượng cách mạng phản đế, không phân biệt giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, mục đích là thực hiện việc thống nhất hành động giữa các lực lượng ấy, đặng tranh đấu tiến lên võ trang bạo động đánh đổ đế quốc Pháp, Nhật và các lực lượng phản động ngoại xâm, diệt trừ phong kiến và các hạng phản bội quyền lợi dân tộc, làm cho Đông Dương được hoàn toàn giải phóng…”[32]

Tóm lại. nghị quyết có sức thuyết phục mạnh mẽ, sâu sắc vì:

- Các lập luận đều được xây dựng trên những thực tế phong phú hiển nhiên, các tình hình chi tiết, các số liệu rõ ràng, đầy đủ.

- Triết lý cơ bản của Nghị quyết là chủ nghĩa duy vật Mác- Lênin về xã hội, lịch sử và kinh tế; và phương pháp luận cơ bản là phép biện chứng duy vật. Các lý luận này được vận dụng uyển chuyển, sáng tạo, sát hợp với tình hình thực tế.

Đồng chí Phan Đăng Lưu biên soạn Văn kiện của Hội nghị VII, trong thời gian và hoàn cảnh như sau:

- Thời gian là sau ngày họp hội nghị Tân Hương, bàn về khởi nghĩa Nam Kỳ, ngày 21, 27- 7- 1940. Lúc này đ/c Nguyễn Văn Cừ và đ/c Lê Duẩn đã bị địch bắt ngày 17- 1- 1940. Sau đó đ/c Võ Văn Tần bị bắt vào ngày 21- 4- 1940. Nếu việc soạn thảo Văn kiện Hội nghị VI, còn tranh thủ được ý kiến của các d/c Thường vụ, thì lần này, đ/c Phan Đăng Lưu không có được sự hỗ trợ trên.

- Nghị quyết này được biên soạn trong không khí nước sôi lửa bỏng của thời kỳ tiền Khởi nghĩa Nam Kỳ: “Tạm trì hoãn được cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng chí bí mật bắt tay ngay vào chuẩn bị mọi mặt cho một Hội nghị tái lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Sau ba tháng chuẩn bị, vào giữa tháng 10- 1940, đồng chí bí mật rời Nam Kỳ ra gặp Xứ ủy Trung Kỳ và Bắc Kỳ, họp với Xứ ủy Bắc Kỳ, cùng với Xứ ủy Bắc Kỳ thống nhất tổ chức Hội nghị tái lập Ban Chấp hành Trung ương - Bộ chỉ huy tối cao mới của Đảng.”[33]

Nhiều tư liệu cho biết, đ/c đã chuẩn bị tài liệu cho Hội nghị VII trong một thời gian dài, trong số đó phần quan trọng là văn kiện 62 trang này (tất nhiên kết hợp với nhiều công việc bề bộn mà đ/c là người chèo lái duy nhất trong Thường vụ phải khẩn trương thực hiện trước lúc đi xa).

- “Theo chúng tôi, đ/c Phan Đăng Lưu rời Sài Gòn sau hội nghị Xứ ủy tháng 9- 1940 hợp lý hơn”[34]

- “Đầu tháng 12- 2000, đ/c Nguyễn Đức Dương, xứ ủy viên Trung Kỳ năm 1940, có thư gửi Hội đồng chỉ đạo biên soạn CTLSKNNK, cho biết, trên đường ra Bắc đầu tháng 11- 1940, đ/c Phan Đăng Lưu có gặp đ/c Dương ở Huế, thông báo tình hình khẩn trương của Nam Kỳ và đề nghị, nếu Nam Kỳ nổ ra khởi nghĩa thì yêu cầu xứ ủy Trung kỳ phối hợp hành động. Đ/c Dương cho biết, phong trào Trung kỳ yếu, đ/c sẽ báo cáo ý kiến của đ/c Lưu với thường vụ xứ ủy đang đóng ở Vinh.”[35]

3.5.2. Sự thành công của Hội nghị Trung ương 7, mà đ/c Phan Đăng Lưu là người sáng kiến, móc nối, triệu tập, trình bày báo cáo, tổng kết,….có sự đóng góp của đ/c, với ba thành công nổi bật:

Mt là, tình hình quốc tế và trong nước đang biến đổi hết sức mau lẹ. Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, Pháp đầu hàng Đức, sau đó chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng Nhật. Mâu thuẫn Nhật với Pháp ở Đông Dương và nhất là ở Việt Nam ngày càng gay gắt, sẽ tạo thời cơ khởi nghĩa không đều ở mỗi địa phương. Sau tháng 7- 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ có thể đã nổ ra nếu không có sự chỉ đạo tạm hoãn của Phan Đăng Lưu. Ở Bắc Kỳ, đêm 27- 9- 1940, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra, tuy có giành được một số thắng lợi ban đầu, nhưng hiện đang đứng trước nguy cơ thất bại vì đang bị khủng bố, đàn áp mạnh mẽ... Tình hình ấy chứng tỏ rằng, thời cơ khởi nghĩa trên toàn quốc chưa đến độ chín muồi. Nếu chỉ thấy thời cơ cục bộ, mà chưa thấy thời cơ toàn cuộc và chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, thống nhất trên toàn quốc, đã tiến hành khởi nghĩa riêng lẻ mỗi địa phương sẽ chỉ là hành động tự sát. Tình hình khẩn trương đó đòi hỏi phải có sự lãnh đạo và chỉ đạo thật sáng suốt và kịp thời của Bộ chỉ huy tối cao của Đảng. Nhưng trong lúc này Bộ chỉ huy tối cao ấy, tức Ban Chấp hành Trung ương chưa được tái lập. Tái lập Ban Chấp hành Trung ương để lãnh đạo toàn quốc, tích cực chuẩn bị mọi mặt, chớp đúng thời cơ đưa cách mạng nước ta tới thắng lợi, đối với Phan Đăng Lưu đang là mệnh lệnh của lịch sử,'cấp bách nhất, cao nhất lúc bấy giờ mà đồng chí phải dồn toàn tâm, toàn lực thực hiện. Thử thách và trách nhiệm này đối với đồng chí càng trở nên nặng nề hơn trong tình huống không liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ở Xứ ủy Trung Kỳ và Bắc Kỳ không có đồng chí nào là ủy viên Trung ương Đảng. Trong điều kiện ấy, Phan Đăng Lưu chỉ biết trông cậy vào chính mình và sự hợp tác hành động với Xứ ủy Bắc Kỳ vì Xứ ủy Trung Kỳ vẫn chưa được củng cố hoàn chỉnh. Với tầm nhìn chiến lược, tài năng mẫn cán và trách nhiệm cao cả, đồng chí đã bí mật ra Bắc, gặp được Xứ ủy Bắc Kỳ và thống nhất với xứ ủy Bắc Kỳ tổ chức thành công Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ bảy. Đây là thành công, đóng góp to lớn nhất, ý nghĩa chiến lược th hin tm nhìn xa, thy rng và sáng sut ca Phan Đăng Lưu đi vi Đng ta và cách mng nựỏc ta.

Hai góp phần đề cử thành công đồng chí Trưòng Chinh vào chức vụ Quyền Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương 7 là công lao lớn của Phan Đăng Lưu trong suốt quá trình góp phần xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ cho Đảng, cho cách mạng nước ta.

*

Tiêu biểu cho việc đánh giá và s dụng đúng đắn, sáng suốt cán bộ của Phan Đăng Lưu là sự kiện đồng chí góp phần đề cử đồng chí Trường Chinh làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng tại Hội nghị Trung ương 7, mà mình thì trao lại nhiệm vụ lãnh đạo, đi vào chỗ “thế nào địch cũng bắt”. Đây là hành động cao thượng xuất phát từ lợi ích của Đảng, cả hai đồng chí đều cảm phục, kính trọng tài năng và đức độ của nhau, mặc dù trước đó họ chưa một lần giáp mặt. Sự kiện tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5- 1941), đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng... đã minh chứng sự lựa chọn sáng suốt của Phan Đăng Lưu tại Hội nghị Trung ương 7.

Ba là, Hội nghị Trung ương 7 thành công, theo đề nghị của Phan Đăng Lưu, cơ quan Trung ương cũng được chuyển từ Nam ra Bắc. Đây cũng là đóng góp lớn của đồng chí đối với cách mạng nước ta.

Về đề nghị này, Phan Đăng Lưu đã có suy nghĩ, cân nhắc từ trước. Là nhà lãnh đạo có tư duy biện chứng sâu rộng, đồng chí đã nhận thức rõ sự diễn biến của tình hình quốc tế và trong nước đang rất mau lẹ: từ tháng 7 đến giữa tháng 9- 1940, cho thấy Nhật nhất định sẽ nhảy vào Đông Dương, trước hết là vào Việt Nam, và khi đó Bắc Kỳ là địa bàn mà cách mạng Việt Nam liên thông trực tiếp với cách mạng Trung Quốc trên mặt trận kháng Nhật, cứu nước. Như vậy trung tâm của cách mạng nước ta cũng chuyển từ Nam ra Bắc đòi hỏi phải có bộ chỉ huy cao nhất của Đảng ở Bắc Kỳ. Và do đó, cơ quan Trung ương Đảng phải chuyển từ Nam ra Bắc là điều tất yếu. Phải có tầm nhìn xa, thấy rộng và thiết thực mới có được tư duy biện chứng sắc sảo như thế.

Trong đề nghị này, Phan Đăng Lưu còn thấy một thực tế lịch sử khác cần phải được xem xét kỹ lưỡng. Đó là: gần 10 năm (từ tháng 10- 1930 đến tháng 4- 1940), Ban Chấp hành Trung ương chuyển từ Bắc Kỳ vào Nam Kỳ thì gần như toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương gắn với bốn đời Tổng Bí thư (Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Cừ) đều bị địch bắt. Đây là một thực tế đau xót cho Đảng, cho cách mạng. Từ sự tổng kết lịch sử này, nên khi tổ chức tái lập Ban Chấp hành Trung ương, Phan Đăng Lưu mới đề xuất phải tổ chức ở Bắc Kỳ và kéo theo đó là cơ quan Trung ương Đảng cũng được chuyển ra Bắc Kỳ. Cũng thực tế lịch sử chứng minh rằng, sau khi được chuyển ra Bắc Kỳ, Ban Chấp hành Trung ương không còn bị tổn hại như thời kỳ đóng ở Nam Kỳ, tuy một số đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương cũng bị địch bắt và giết hại, nhưng Ban Chấp hành Trung ương vẫn được duy trì, lãnh đạo cách mạng đến thành công...[36]

IV. Tiu kết

(Chương th hai)

Phần trên chúng tôi đã giới thiệu đường lối chuyển hướng chiến lược của Đảng CS Đông Dương giai đoạn 35- 40, qua nhóm văn kiện của Đảng từ nghị quyết VI đến nghị quyêt VII. Sự chuyển hướng chiến lược đó bao gồm:

- Từ Mặt trận dân chủ chuyển sang Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế

- Đoàn kết rộng rãi các lực lượng yêu nước chống đế quốc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái.

- Chuẩn bị sẵn sàng để tiến đến đấu tranh vũ trang giành lại độc lập cho Tổ quốc, khi có điều kiện.

- Thành lập chính quyền cộng hòa dân chủ nhân dân, không phải là chính quyền xô viết công nông.

Chủ trương chuyển hướng chiến lược như trên là rất sáng tạo, sáng suốt. Nhưng không đơn giản, đây là một cuộc đấu tranh đối phó với sức ép có tính áp đặt, căng thẳng, quyết liệt, từ bên ngoài. Cuối cùng, chân lý đã thắng.

Đ/ c Phan Đăng Lưu có vai trò khá quan trọng trong sự nghiệp nói trên của Đảng. Chưa nói đến các hoạt động thực tiễn như đi lại khắp nơi, hội họp, gặp gỡ để xây dựng phong trào, bồi dưỡng đào tạo lực lượng, tuyên truyền thuyết phục, soạn thảo và hướng dẫn về chiến tranh du kích,……; mà chỉ bàn về các văn kiện chính còn lại, chúng ta cũng thấy rõ, đ/c Phan Đăng Lưu, dưới sự lãnh đạo của tập thể, được sự ủng hộ, thương mến, đùm bọc của đ/c và đồng bào, nổi lên như, vừa là linh hồn, tư tưởng, tinh thần; vừa là con người hành động, xông xáo, xoay chuyển tình thế, với tác phong nồng nhiệt mà thận trọng, chu đáo, chí tình, nhưng kiên quyết… Với tất cả những điều trên đây, đ/c Phan Đăng Lưu, với cương vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương, đã ch đng đóng góp phn quan trng cùng các đ/c lãnh đo khác thc hin vi kết qu cao đường li chuyn hướng chiến lược ca Đng, nhng năm cui thp k 30, ca thế k XX.

Chương thứ ba

SỰ NGHIỆP BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ KINH TẾ HỌC

  1. Đ/c Phan Đăng Lưu vi vic bi dưỡng chính tr cho thế h tr và cng đng

Trong suốt đời hoạt động của mình, lúc trong tù, lúc ra ngoài, khi ở Vinh, khi ở Huế,…. bao giờ đ/c Phan đăng Lưu cũng chăm lo việc bồi dưỡng tri thức cách mạng cho bạn trẻ và cộng đồng.

- “Anh hết sức quan tâm bồi dưỡng tri thức cách mạng cho bạn trẻ, hiểu rất rõ rằng “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” [37]

Thi Vinh, đ/c Phan Đăng Lưu cùng các đồng chí tổ chức các lớp “tráng học”, cho những người lao động. Các thầy nói về gương hợp quần, ý thức tự tôn, tự trọng, công kích kẻ bạo ngược, bênh vực người nghèo hèn, sau mỗi buổi học, các thầy dành ít nhất là nửa giờ để diễn thuyết, nói về các anh hùng dân tộc, sức mạnh của đoàn kết, về những gương yêu nước trong cách mạng Anh, Pháp, Trung Hoa”[38]

trong nhà tù Buôn Ma Thut, “anh lượm từng mẩu báo rơi, đem về rửa sạch, xem rồi nói lại nội dung cho anh em, không bao giờ quên giải thích và phân tích những chỗ khó. Vì anh hiểu biết nhiều, lại sẵn sàng truyền bá, mách bảo “gỡ bí ngay tại trận”, nên anh được anh em gọi là “tự vị sống”[39]

Huế, “Cùng các đồng chí, anh Lưu đã lập ra tủ sách Tư tưởng mi, gồm những sách chính trị và lý luận thường thức, góp phần vào việc phổ biến chủ nghĩa Mác, như đã làm từ thời Quan hi tùng thư [40]

“Đc bit nhng năm 1936- 1939, lợi dụng tình thế hợp pháp, anh ra sức dìu dắt thanh niên tiến bộ, rèn luyện họ thành những những Đảng viên hiểu biết về lý luận cách mạng….

Có thể nói, cán bộ, Đảng viên bắt đầu hoạt động cách mạng, từ những tháng năm sôi động ở Huế, 1936- 1939, phần lớn không thể nào quên vai trò anh Lưu trong việc giác ngộ, dắt dẫn mình, từ thủa mới đứng dưới lá cờ của Đảng.

Anh Lưu,anh Diu dy con đi

Cậu học sinh Nguyễn Kim Thành (tức Tố Hữu), đi vào cách mạng chủ yếu là qua những người cộng sản tốt và qua văn học cách mạng,…nhờ biết kính phục những đồng chí như Phan Đăng Lưu, một đồng chí dũng cảm, có học vấn, sống rất trong sạch” [41]

Anh đã dùng nhiều hình thức để truyền dạy và phổ biến tri thức. Hình thức thường xuyên là chuyện trò, giảng giải tay đôi. Ngoài ra còn có các hình thức khác như: lập tủ sách Tư tưởng mi (ở Huế), tổ chức nhóm đọc sách (ở Huế), tổ chức các lớp “tráng học” ở Vinh, lập Nhà xuất bản Tư tưởng mi ở Đà Nẵng.

Một nhiệm vụ có ảnh hưởng rộng rãi và lâu dài là biên soạn và xuất bản sách, mà chúng tôi sẽ giới thiệu sau đây.

Các sách chính tr kinh tế hc

1. Đông Tùng (bút danh): Xã hi lun, Quan hải tùng thư, Châu tinh ấn quán, Vinh, phố Laga, 1928, 72 trang, khổ 13x19, giá $0,25

2. Hoa Trung (bút danh): Kinh tế hc tiu s, Quan hải tùng thư, nhà in Tiếng Dân, Đường Đông Ba, Huế, 1929, 114 trang, khổ 13x19, giá $0,40.

3.Tân Cương (bút danh): Xã hi tư bn, NXB Tư tưởng mới, (Tua ran) Đà Nẵng, 1937, 32 tr., khổ 13x19.

4. Tân Cương (bút danh): Thế gii cũ và thế gii mi,, NXB Tư tưởng mới, (Tua ran) Đà Nẵng, 1937, 24 tr., khổ 13x19.

5. Bằng Phi (bút danh): Các tướng Hng quân Tàu, NXB Trần Đình Tri, H., 1938, tập sách Dân chúng, 40 tr., 24cm.

6. Bằng Phi (bút danh) dịch: Tiu s Mao Trch Đông, Nhà in Trung Bắc tân văn, H., 1938, 45 tr., 24 cm.

Trong số trên, chúng tôi xin đi sâu hai cuốn:

- Xã hội luận

- Kinh tế học tiểu sử

II. Sách Xã hi lun.

  • Đông Tùng (bút danh): Xã hi lun, Quan hải tùng thư, Châu tinh ấn quán, Vinh, phố Laga, 1928, 72 trang, khổ 13x19, giá 0,25
  1. Tác gi

Sau đây là các tư liệu xác định Xã hi lun do đ/c Phan Đăng Lưu biên soạn, Đông Tùng là bút danh của đ/c:

- GS. Đào Duy Anh đã viết:

Xã hi lun (sách của Đông Phương văn khố) do Phan Đăng Lưu phiên dịch, tập sách này chỉ dựa vào tiến hóa luận của Darwin mà cho độc giả thấy rằng xã hội loài người tiến hóa là do quy luật, chứ không phải do ý muốn chủ quan của con người” (Đào Duy Anh: Nh nghĩ chiu hôm, NXB Trẻ, 2000, tr.35).

Điều quan trọng là cụ Đào đã khẳng định thêm Xã hi lun là tác phẩm của đ/c Phan Đăng Lưu. Tuy nhiên theo chúng tôi, cần khảo sát từ nội dung tác phẩm để xác minh thêm:

- Có phải là “ch da vào tiến hóa luận của Darwin mà cho độc giả thấy rằng xã hội loài người tiến hóa là do quy luật”?

2. Ni dung chính

Sách Xã hi lun gồm 2 thiên:

1.Thiên thứ nhất có các đoạn:

- Cách quan sát xã hội theo sinh vật học

- Cách quan sát xã hội theo sinh vật học đem ứng dụng như thế nào?

2. Thiên thứ nhì, có các đoạn:

- Sinh vật học không đủ thuyết minh xã hội học

- Tinh thần sáng tạo

- Bản tính của xã hội (Phần thứ nhất)

- Phóng nhiệm và xã hội lập pháp

- Bản tính của xã hội (Phần thứ nhì)

- Tiền đồ rực rỡ

1. S sáng to là thiên tính ca loài người

Con vật dù tổ chức tinh vi như ong kiến, cũng chỉ làm theo bản năng, không có sáng tạo, ngược lại sáng tạo là thiên tính của loài người:

“Song dù họ giải thích cách nào mặc lòng, những việc xẩy ra như vậy toàn là chỉ vì một thiên tính của loài người: ấy là tính “biểu hiện tự kỷ” (Self Expression), ấy là tính sáng tạo vậy” (tr.24, Xã hi lun)

“Thú tính loài người nếu không có sức sáng tạo của vũ trụ tưới nhuần, quyết rằng tôn giáo, thi ca, khoa học, chế độ và nghệ thuật không thể nào phát triển được….Tóm lại có thể nói rằng nguồn gốc văn minh tức là sáng tạo.

Sáng tạo nghĩa là đối với hoàn cảnh và mọi sự kích thích, có thể thích ứng một cách tương đương và có ý thức, cũng có thể nói thế này: sức sáng tạo là cái sức biền biệt được con đường chính đáng để mà thực hành. Bởi vậy nên khoa học, văn học, nghệ thuật, tôn giáo đều do sáng tạo mà ra, mà các quan niệm về đạo đức như trung, ái, chính nghĩa, cũng đều do sáng tạo mà ra cả.” (tr. 33, Xã hi lun)

“Đến như sáng tạo là thiên tính của loài người thì hiện đã chứng thực phân minh không thể không công nhận được” (tr.29, Xã hi lun)

2.Duy vt s quan và duy trí s quan

Từ trước, nhiều người thường nhấn mạnh quan điểm duy vật lịch sử (duy vật sử quan). Đúng ra một quan điểm lịch sử đúng đắn phải phải nói rành mạch là bao gồm cả duy vật và duy trí, cả hai tác động vào nhau. Nếu thiên một phía là sai lệch:

“Có kẻ cho rằng bao nhiêu việc đã phát sinh trên xã hội, đều vì vật chất biến động mà ra cả, đó là lấy vật chất hoặc kinh tế mà quan sát lịch sử, duy vật sử quan (interprétation matérialiste de l’hístoire); có kẻ lại cho là vì lý tưởng của loài người mà sinh ra, đó là lấy lý trí để quan sát lịch sử, duy trí sử quan (interprète idéologique de l’histoire). Theo ý ông Ngoạ Đức (Watt) thì bao nhiêu sự thực trong lịch sử đều bởi “vật” và “trí” xúc động nhau mà sinh ra cả, chỉ một “trí hoặc một “vật” không đủ để thuyết minh được xã hội… Bởi vậy cho nên, xét lịch sử mà chỉ theo vật chất, quyết không đủ thuyết minh được lịch sử, cần phải biết, loài người, ngoài sự phản ứng của thú tính lại còn có phương diện tinh thần nữa” (tr.22- 23, Xã hi lun )

3.Cnh tranh và nhân ái

 Nhiều người cho cạnh tranh, đấu tranh là động lực duy nhất của xã hội, thậm chí còn lấy đấu tố trong nội bộ làm biện pháp lớn. Theo tôi, loài người phải đấu tranh nhưng đoàn kết là quan trọng, tình thương, lòng nhân ái là động lực. Điều này, trong Xã hi lun đã nhấn mạnh:

“Cho nên đọc suốt bộ Xã hi tiến hóa s sẽ biết rằng máu cạnh tranh tuy không phút nào không sôi nổi trong quả tim loài người, song cái phạm vi hai chữ “nhân”, “ái” thì ngày càng rộng thêm” (tr.34, Xã hi lun)

“Hiện nay, tinh thần đại đồng chính đang lan tràn khắp thế giới” (tr.25, Xã hi lun)

“Bảo cái đặc tính của xã hội là ở nơi cạnh tranh, thì thực là trái với sự thực” (tr.25)

4.Tín ngưỡng, thn thoi và khoa hc

Tín ngưỡng và thần thoại không hoàn toàn là mê tín lạc hậu, phản khoa học, không là thuốc phiện mê hoặc nhân dân, cần phải một mực bài trừ, đánh đổ, tiêu diệt. Tinh thần của đ/c Phan Đăng Lưu trong Xã hi lun là chọn lấy những hạt nhân hợp lý, và chỉ ra mối quan hệ biện chứng của các phạm trù trên.

- Tín ngưỡng là biểu hiện của lý trí phôi thai:

“Người xưa, đối với những hiện tượng đáng kinh sợ trong trời đất, mù mù mịt mịt, cho rằng trong những thế lực đáng sợ kia, có cái có thế dáng phúc cho mình, có cái có thể dáng họa cho mình. Họ mới tìm cách để cầu cho các thế lực đó nén cơn giận mà rủ lòng thương. Họ làm thế là vì muốn được sống, song cái trực giác của họ đối với sự tồn tại của các thế lực ấy và phương pháp để thờ phụng các thế lực ấy thì chẳng khác gì thơ ca và cầu đảo: đó là cái biểu hiện của lý trí mới phôi thai ra.” (tr. 28, Xã hi lun)

- Thần thoại là mơ tưởng của người xưa:

“Họ lại có nhiều điều mơ tưởng khác thường tỏ rõ ra trong những truyện thần tiên: nào bay trên trời xanh, nào thu ngắn đất lại, nào ngồi một chỗ mà nghe được tin tức ngoài nghìn dặm, nào không có lửa mà đèn tự nhiên sáng,…; nếu những kẻ đặt truyện huyền ảo đó bản ý cốt người đời truyền tụng cho vui, thì đủ biết rằng, họ có sức sáng tạo văn học; nếu như bản ý họ lại là để biểu hiện cái dã tâm (theo T đin Hán –Vit Đào Duy Anh thì “dã tâm là: lòng phóng túng không kiềm thúc được; lòng ham muốn lớn (ambition)” của mình, thì lại càng tỏ rõ rằng họ có lòng phấn tấn sắc sảo. Huống gì, những chuyện đó, hồi bấy giờ chỉ cho là hoang đường, mà ngày nay đã thành ra sự thực rồi. Tàu bay đó, xe lửa đó, máy nói đó, đèn điện đó,…” (tr.29, Xã hi lun)

- Khoa học cũng phải trải qua một thời kỳ mộng tưởng:

“Nguyên khoa học phải trải qua mấy thời kỳ: nào kinh lạ, nào mộng tưởng, nào mê tín, nào thí nghiệm mới được tinh xác, mới có thực dụng; cho nên trước kia thiên văn học chỉ là một cái thuật xem các ngôi sao để đoán điềm lành, điềm xấu, vật lý học trước kia tức là thuật quỷ phép thần; do cái mộng tưởng luyện đá thành vàng mà sinh ra hóa học; do cái thuyết thần ý và hồn phách mà sinh ra tâm lý học” (tr.29, Xã hi lun)

6. Tóm li

6.1.Như vậy, sách Xã hi lun không phải là “ch da vào tiến hóa luận của Darwin mà cho độc giả thấy rằng xã hội loài người tiến hóa là do quy luật”, (Đào Duy Anh) mà nội dung rất phong phú, phong phú hơn thế nhiều.

6.2.Đ/c Phan Đăng Lưu không chỉ là “sở hữu một trí thức uyên bác” (Tố Hữu), mà còn là một trí tuệ rất năng động sáng tạo, trong chỉ đạo thực tiễn đấu tranh, chiến đấu, cũng trong lý luận. Theo dõi cuộc đời của đ/c chúng ta thấy đ/c không máy móc, cứng nhắc, một chiều. Sách Xã hi lun lại một lần nữa chứng minh điều này.

III. Sách Kinh tế hc tiu s

  1. Tác gi

1.1. Sách Kinh tế hc tiu s (Quyển hạ), tác giả ghi bút danh là Hoa Trung, Hoa Trung biên, tủ sách Quan hải tùng thư, in tại nhà in Tiếng dân, năm 1929, đường Đông Ba, Huế.

Qua ý kiến của cụ Đào Duy Anh viết trong sách Nh nghĩ chiu hôm, NXB Trẻ, năm 2000, tr.35, chúng ta biết rằng, đây là sách của đ/c Phan Đăng Lưu: “Tôi cho ra tập Lịch sử học thuyết kinh tế, quyển hạ, do Phan Đăng Lưu lược dịch, theo một bản kinh tế học thuyết sử của Nhật Bản, trong ấy phần cuối cùng là phần quan trọng, giới thiệu học thuyết kinh tế Mác.”

Vậy Hoa Trung đây là bút danh của đồng chí Phan Đăng Lưu, đóng góp của đ/c là “Biên”, chúng ta cần kháo sát trong sách để hiểu “biên” có nội hàm như thế nào?

Sách có 13 chương. Cuối phần chính văn, có mục Những sách tham khảo gồm:

1.Histoire des doctrines économiques (Kinh tế học sử) của Charles Gide.

2.Histoire des idées économiques (History of Economic Thought- Kinh tế tư tưởng sử) của Lewis H.Havey.

3.Les Grands économistes (Đại kinh tế học gia) của Paul Gemabling.

4.Kinh tế học sử khái luận của Bắc- trạch Tân- thứ- lang, Nhật Bản

Để biên/ biên soạn cuốn sách này, đ/c Phan Đăng Lưu đã tham khảo ít nhất 4 cuốn sách nước ngoài gồm tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Anh. Đó là các ngoại ngữ sở đắc của đ/c. Riêng cuốn Kinh tế học sử khái luận của một tác giả người Nhật, cũng là một sách tham khảo, xếp thứ 4. (Cuốn này có lẽ tiếng Trung).

Vậy, để có Kinh tế học tiểu sử, đ/c Phan Đăng Lưu đã biên son, dựa trên các sách nước ngoài nói trên, không phải là: “lược dịch theo một bản kinh tế học thuyết sử của Nhật Bản” ( Đào Duy Anh).

Tác giả đã quá cố, hơn nữa, vì hoạt động cách mạng mà bị trọng án, tịch thu tài sản, nên di sản bị mất mát rất nhiều, dầu còn một mảnh vụn, chúng ta cũng phải trân trọng.

  1. Ni dung tóm tt

1.Các hc thuyết kinh tế kế tha nhau to nên mt lch s liên tc và khi ra đi mi hc thuyết li có mt chc năng nhim v riêng

- Mở đầu lịch sử kinh tế học cận đại là A- đam Si- miết cùng học phái chính thống:

Đ/c Phan Đăng Lưu đã đánh giá cao sự đóng, đi tiên phong của Smith, “đi tiên phong trong sự cống hiến cho kinh tế học lịch sử”: “Công bằng mà nói: Smith đã xác lập được cơ sở kinh tế học tư bản chủ nghĩa. Ta không thể phủ nhận sách Nguyên phú đi tiên phong trong sự cống hiến cho Kinh tế học lịch sử. Cống hiến trọng yếu nhất của Smith là đã tổng hợp và hệ thống tất cả các lý luận ngẫu nhiên và vụn vặt trước đó, lọc lựa cái lõi sáng láng của các học giả và trí tuệ uyên bác của mình để phân tích, sắp đặt lại, dẫn các chứng cứ để minh chứng làm sáng rõ. Từ đó dùng khả năng văn chương lưu hoạt mà diễn đạt thành một học thuyết kinh tế vừa mang tính quán triệt vừa điều hoà các ý tưởng và lập luận của các tiền bối kinh tế học”. (tr.7, Kinh tế hc tiu s)

- Tiếp đến là Robert Thomas Malthus, và các học thuyết khác kế tục:

- Ricardo

- Stuart Mill

- Bastiat và tư tưởng kinh tế nước Pháp

- Carey cùng học thuyết kinh tế Mỹ

- Chủ nghĩa xã hội

- Karl Marx

- Phái lịch sử

- Phái Áo Đại Lợi

- Chủ nghĩa vô chính phủ

- Chủ nghĩa Bôn sê vích

- Khuynh hướng của tư tưởng kinh tế hiện đại.

2.Có các thành t quán xuyến qua các hc thuyết là:

- Luận về phân công, còn gọi là phân nghiệp

- Luận giá trị,bao gồm sử dụng giá trị và giao hoán giá trị

- Luận về địa tô

- Luận về sở đắc (revenus), bao gồm luận về công tư (salaire), luận về lợi nhuận (profite) và luận về lợi tức (interêt)

 - Luận về phân phối ….

Các học thuyết thường đề cập đến các vấn đề trên, thống nhất hoặc không cũng từ các nội dung đó.

3..Kế tha là hot đng ni ti các hc thuyết, đng thi quan trng là chúng chu s chi phi ca kinh tế - xã hi

Sinh thời của Malthus, “hình thế chính trị nước Anh ảm đạm, địa vị kinh tế bi quan, trạng thái xã hội giao động vô định một cách phi thường”, là cơ sở của sự ra đời nhân khẩu luận:

“Thời đại và hoàn cảnh sinh ra Robert Thomas Malthus. Đương thời hình thế chính trị nước Anh ảm đạm, địa vị kinh tế bi quan, trạng thái xã hội giao động vô định một cách phi thường. Những cuộc chiến tranh trọn tháng, suốt năm khiến đảm phụ của quốc dân thêm nặng gánh, căn nguyên của sinh hoạt kinh tế bị đình trệ và xáo trộn. Gia dĩ những buổi cơ hoang (cơ hoang= mất mùa đói kém, T đin Hán- Vit, Đào Duy Anh) khiến giá lúa quá cao, lại theo đó mà sinh ra dịch lệ lưu hành, khiến các sinh hoạt của giai tầng vô sản bị hãm vào trạng thái khốn cùng quá sức chịu đựng. Những dân chúng đói khổ, tuyệt vọng với cuộc đời, nên lúc nào cũng sẵn có tư tưởng bất mãn và ý muốn bạo động. (tr.8, Kinh tế hc tiu s)

Thời của Ricardo, xã hội có nhiều biến động xấu, chiến tranh của Napoleon gây ra liên miên khắp nơi trên thế giới, đau thương và đổ nát tràn lan thế giới suốt ngày tháng đêm thâu. Hệ lụy làm nông dân phải chịu đảm phụ ngày càng nặng nề, giai cấp vô sản mất việc, không lương bơ vơ cuộc sống. Lại thêm công nghiệp ngày càng phát triển thì phú quyền ngày càng dồn vào tay đám tư bản, quan lại….Đây là nền tảng phát sinh lý luận về phân phối sản vật của Riardo:

 “Như vậy, vấn đề phân phối sản vật, tài phú thế nào đặt ra nhu cầu cấp thiết to lớn và bức bách. Ricardo chứng kiến tình hình xã hội và nền kinh tế đương thời. Chính nền kinh tế và tình hình thời đại đã sản sinh phát kiến lý luận về phân phối sản vật.” (tr.13, Kinh tế hc tiu s)

4.Vy cho nên mt hc thuyết ra đi hay li tàn có nguyên nhân

Xã hội của Malthus, như đã nói ở trên, là nền tảng của nhân khẩu luận.

“Những kẻ thức giả đương thời đều thừa nhận rằng xã hội đã hãm vào trạng thái cùng bức, thế nào cũng phải cải lương. Trong không khí kinh tế ở một xã hội như thế, xuất hiện luận “NHÂN KHẨU” của Thomas Malthus, thực sự không phải quá lạ.” (tr. 11, Kinh tế hc tiu s)

Học thuyết của Mill là đỉnh cao của trường phái chính thống, nhưng Mill cũng nhận ra sự ra đời tất yếu của các học thuyết XHCN.

 “Kinh tế học của trường phái chính thống đến Mill là đã đạt tới đỉnh điểm và tại đây bộc lộ nhiều triệu chứng suy đồi. Và chính Mill đã cải chính những điều đã mậu ngộ trong tư tưởng kinh tế của trường phái chính thống để mở đường cho tư tưởng kinh tế của trường phái xã hội chủ nghĩa non trẻ phát triển.” (tr.20, Kinh tế hc tiu s)

5. Theo quy lut chung trên, ch nghĩa Mác, tt yếu ra đi, không phi là đt khi mà kế tha và ph đnh các hc thuyết trước đó.

Tình trạng người lao động bị áp bức khốn cùng khiến cho học thuyết cổ điển/ chính thống bị suy vi và sự ra đời của các học thuyết XHCN là một tất yếu,

 “Đại đa số trong xã hội là giai cấp vô sản vô luận về phương diện chính trị hay kinh tế, đều bị áp bức và khốn cùng khôn xiết. Nếu xã hội đã đến mức như thế thì cái học thuyết kinh tế và tổ chức kinh tế ấy - tự do phóng nhiệm và tư hữu tài sản làm tiền đề, (A. Smith và các học thuyết chính thống), không khỏi không có tư trào phản kháng. Cái tư trào ấy, chính là tư tưởng kinh tế của xã hội chủ nghĩa.” (tr.26, Kinh tế hc tiu s)

Học thuyết XHCN hiện thực là sự kế thừa và phủ định quá trình lịch sử của kinh tế học trước đó:

“Thuyết giá trị thặng dư không phải do Karl Marx sáng tạo ra, trước đó đã có một số học giả như: Godwin, Ricardo đã nói qua. Nhưng Ricardo cho rằng người lao động mà được tiền công không xứng với thời gian làm việc, đó là pháp tắc tự nhiên, đó là hiện tượng xã hội không thể tranh đấu được. Còn Karl Marx thì cho rằng sở dĩ có hiện tượng ấy là vì nhà tư bản chiếm đoạt lao lực của người lao động. Và ông yêu cầu triệt phế lý thuyết và tổ chức kinh tế tư bản chủ nghĩa hiện tại để thay vào lý thuyết và tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa để trong xã hội không có hiện tượng xấu xa làm bất công uất ức ấy nữa.” (tr.32, Kinh tế hc tiu s)

“Muốn lý giải học thuyết kinh tế của Karl Marx mà không nói đến duy vật sử quan thì không thể lý giải được. Xuất xứ thuyết duy vật sử quan không phải do Karl Marx sáng tạo ra, trước đó Thánh Simon, cùng Proudon đã từng nói đến. Nhưng lấy duy vật sử quan mà mà giải thích lịch sử phát triển tiến hoá của nhân loại là cống hiến đặc biệt của Karl Marx.” (tr.33, Kinh tế hc tiu s)

Chương thứ tư

SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TÌNH CẢM CÁCH MẠNG QUA SÁCH

“THI VĂN CÁC NHÀ CHÍ SỸ VIỆT NAM”

Gii thiu b cc

Chương thứ tư gồm có các đoạn như sau:

1.Phi Bằng là bút danh đ/c Phan Đăng Lưu

2.Hoàn cảnh ra đời của bộ sưu tập này và soạn giả của nó.

3.Mối quan hệ văn chương với lịch sử và chính trị

4.Tiêu chí của văn chương có giá trị/hay

5. Quan tâm đến sinh hoạt và môi trường của thơ ca

6.Chân dung các chí sỹ

7.Trường hợp đại chí sỹ- cụ Nguyễn Trường Tộ

1. Phi Bng là bút danh đ/c Phan Đăng Lưu

Sách Thi văn các nhà chí s Vit Nam (viết tắt là Thi văn…), NXB Tân Thanh, Huế, 1939, là do đ/c Phan Đăng Lưu, biên son, ly bút danh Phi Bng. Các tài liệu sau đây công bố nội dung trên:

1. Tng tp văn hc Vit Nam:Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; Tổng chủ biên phần văn học cách mạng: Hồng Chương; chủ biên tập 35: Phong Châu:, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. Trong sách ghi: “Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo các báo Sông Hương tc bn,Dân, Nhà xuất bản tư tưởng mới ở Đà Nẵng và viết nhiều bài nghị luận chính trị…Phan Đăng Lưu thường dùng các bút danh: Đông Tùng,. Phi Bằng, Bằng Phi, Tân Cương, Sông Hương, Dân,…; và nhiều bài viết không ký tên” (ở tr. 361)

Và ở tr. 362 ghi: “Những tác phẩm của Phan Đăng Lưu gồm:

- Xã hi tư bn, Tư tưởng mới xuất bản, Tua ran, 1937.

- Thế gii cũ và thế gii mi, Tư tưởng mới xuất bản, Tua ran, 1938.

- Thi văn các nhà chí s vit Nam, Tân Thanh xuất bản, Huế, 1939.”

2. Sách Đng chí Phan Đăng Lưu, tác giả: Ngô Nhật Sơn:, NXB Nghệ Tĩnh, 1987. Trong sách ghi: “Tuy rất bận công việc Đảng, anh vẫn tranh thủ thì giờ tập hợp được một số thơ văn yêu nước và cách mạng, cho xuất bản dưới đầu đề Thi văn các nhà chí s Vit Nam, lấy tên Phi Bằng” (tr. 39)

3. Sách của Nguyễn Thành; Đng chí Phan Đăng Lưu, tiu s- tác phm, NXB Thuận Hóa, 1998; ghi: “Phan Đăng Lưu sưu tầm thơ văn của các nhà yêu nước tiền bối, biên soạn cuốn Thi văn các nhà chí s Vit Nam,, bút danh là Phi Bằng[42], do nhà in Tiếng Dân in năm 1939; Huỳnh Thúc Kháng, bút danh Tha Sơn Thạch viết lời tựa” (tr.50)

4. Sách Phan Đăng Lưu Tiu s, Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên (theo Quyết Định số 1721- QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6- 2009): NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015. Trong sách ghi: “Phan Đăng Lưu với bút danh Phi Bằng, đã sưu tầm văn thơ của các nhà yêu nước tiền bối, biên soạn cuốn Thơ văn các nhà chí s Vit Nam, in tại nhà in Tiếng Dân, năm 1939; do Huỳnh Thúc Kháng (bút danh Tha Sơn Thạch) đề tựa.” [43]

5.Trần Quỳnh: Đng chí Phan Đăng Lưu, trong sách Một lòng vì Đảng vì dân”, NXB Thuận Hóa, Huế, 1994 viết: “Với bút danh Phi Bằng, anh Lưu đã biên soạn và viết bài giới thiệu Thi văn các nhà chí s Vit Nam. Bằng bút pháp độc đáo, những bài anh viết ra được bạn đọc Huế rất ưa thích” (tr. 64)

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, bút danh Tha Sơn Thạch, đã đánh giá cao sách Thi văn các nhà chí s Vit Nam, coi sách ấy đã “lưu dấu vết về một thời dĩ vãng”, giúp ích cho học giới- sử giới”. Cụ / viết:

“Riêng món thi văn, báo Tiếng Dân có góp nhặt được nhiều ít, nhưng linh tinh từng số, không tiện cho nhà khảo cứu. Nay ông Phi Bằng, được nhà báo Tiếng Dân đồng ý, gia công góp nhặt thêm và sắp đặt có thứ tự, mà in thành sách, lưu một dấu vết về thời đại dĩ vãng.

Quyển “Thi văn các nhà chí s Vit Nam này đáng gọi là thứ sách có giúp ích cho học- giới, sử- giới vậy” (Tha Sơn Thạch - Huỳnh Thúc Kháng, - Lời tựa, sách Thi văn…).

Sách Thi văn các nhà chi s Viêt Nam, chủ yếu là một bộ sưu tập thi ca. Tuy nhiên, qua đây có thể cho chúng ta biết một số quan niệm của tác giả, “một trí thức uyên bác” (Tố Hữu), “một nhà lãnh đạo cách mạng xuất sắc” (Vũ Văn Thuấn) “lỗi lạc”; về các vấn đề sau:

- vai trò của thơ ca cách mạng, yêu nước,

- mối quan hệ giữa văn chương và lịch sử, văn chương và chính trị,

- tiêu chí đánh tác phẩm văn chương.

- tính sinh động và chân thực của một bộ sưu tập

- …

2. Hoàn cnh ra đi ca b sưu tp này và son gi ca nó.

Phan Đăng Lưu sưu tầm thơ văn của các nhà yêu nước tiền bối, biên soạn cuốn Thi văn các nhà chí sĩ Vit Nam, Quyển nhất, bút danh là Phi Bằng do Nhà xuất bản Tân Thanh, Huế, xuất bản, nhả in Tiếng dân in cuối tháng 3 năm 1939. Cuốn sách này do Huỳnh Thúc Kháng, bút danh Tha Sơn Thạch viết lời tựa. Sách giới thiệu 22 người yêu nước nổi tiếng chống thực dân Pháp xâm lược, mở đầu là Nguyễn Đình Chiểu, kết thúc là Lê Đại. Mỗi người có tóm tắt cuộc đời, sự nghiệp, tác phẩm, kèm theo những lời bình luận ngắn ca ngợi khí phách của tác giả. Những bài thơ có phần chữ Hán và dịch ra quốc văn của người biên soạn. Đây là một tác phẩm lịch sử chính trị văn học rất có giá trị để bồi dưỡng tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất của các bậc chí sĩ cho thế hệ đương thời và mai sau.

Sự đánh giá về mỗi tác giả được chọn và giới thiệu trong tập sách của Phan Đăng Lưu có tính khách quan và khoa học, không hô hào một chiều. Những luận điểm của đồng chí đưa ra thuyết phục người đọc bằng những chứng minh đầy đủ luận cứ. Trong việc sắp xếp, khảo cứu, Phan Đăng Lưu quan tâm đến các tác giả ở các vùng miền, cả nam và nữ. Nhân vật nữ sỹ Tú Ý, mọi người còn biết ít đến, nhưng đã được Phan Đăng Lưu giới thiệu trân trọng: “người đương thời chẳng những kính phục bà vì nghĩa khí mà còn vì văn tự nữa”[44]

Ngoài ra, với bút danh Bằng Phi, Phan Đăng Lưu còn viết bài nhan đề “Văn thơ của các chí sĩ Việt Nam” đăng trên tạp chí Đông Phương do Nguyễn Văn Tây, một trí thức cộng sản làm Tổng biên tập, xuất bản ở Mỹ Tho2. Bài đầu đăng trên số 5, ngày 15 - 4 - 1939, có phần giới thiệu khái quát thế nào là nhà chí sĩ và giá trị của văn thơ họ:

“Nhà chí sĩ tức là những người suốt đời cúc cung tận tụy vì dân vì nước. Nhà chí sĩ tức là tinh túy của một dân tộc. Hoạt động của họ luôn luôn nhằm vào một mục đích: “làm cho Tổ quốc được vẻ vang, dân chúng được tự do sung sướng”.

“Bởi thế nên văn thơ của họ khẳng khái lâm ly, khiến người đọc, kẻ nhu nhược trở lên cứng cáp, kẻ sẵn có khí phách càng hứng khởi thêm. Văn thơ của họ có cái sức mạnh như một quả bom, một tiếng sét”.

Tiếp theo, bài giới thiệu tiểu sử cụ Phan Đình Phùng và bài thơ cụ sáng tác ngày Một tết Mậu Tý (1888), có phần phiên âm chữ Hán và dịch ra thơ lục bát.

Tác giả định viết làm nhiều kỳ, nên cuối bài có chữ  “Còn nữa” không hiểu tại sao, không thấy tạp chí đăng tiếp ở số sau[45]

3.Tiêu chí ca văn chương có giá tr/hay

Đ/c Phan Đăng Lưu xuất bản sách Thi văn… vào năm 1939. Bản thảo có thể được chuẩn bị trước đó ít lâu. Đây là lúc bên Pháp, chính phủ bình dân đã thất bại, chính quyển thực dân Pháp ở Đông Dương chuyển sang chính sách đàn áp, trừng trị những người cách mạng. Đ/c Phan Đăng Lưu là chính trị phạm, cộng sản, bị an trí ở Huế, mỗi bước đi của đ/c đều bị theo dõi. Hiện chúng tôi có hồ sơ về tình trạng này.

Ngoài ra năm 1939 là năm đ/c rất bận rôn, trong không khí nước sôi lửa bỏng của nhiệm vụ chuyển hướng chiến lược của Đảng, (tháng 11- 1939, hội nghị Trung ương VI). Vì những lý do trên, sách Thi văn…không thể thỏa mãn soạn giả và cũng không thỏa mãn độc giả. Chúng ta thấy, bìa đề Quyển nhất, nghĩa là soạn giả rất mong muốn và đồng thời có khả năng tiếp tục quyển nhì, quyển tam,… Nhưng không thể được. Sự tham khảo cũng có hạn, thì giờ đâu mà tra cứu.

Trong hoàn cảnh như vậy đ/c vẫn xuất bản sách Thi văn…, chứng tỏ đ/c xác định, thơ văn yêu nước cách mạng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục lòng yêu nước cho quần chúng nhân dân. Ngay bản thân đ/c, vào giờ phút bi tráng, thiêng liêng nhất của đời mình, giờ bước ra pháp trường, cũng đã dùng câu đối của Trần Hữu Lực, được sưu tập trong cuốn “Thi văn…” để thổ lộ tâm can.

Sau đây là lời Trần Ngọc Điệp, người bạn tù ở cùng xà lim với Phan Đăng Lưu, người chứng kiến phút cuối cùng của ông, sau này kể lại: “Tối khuya hôm ấy, đêm 23 rạng ngày 24- 6, khi bữa cơm cuối cùng dành cho người tử tù được đưa đến xà lim chúng tôi, tôi tin rằng, thế là đến lúc anh phải ra đi. Dưới ánh đèn đỏ đọc, bữa cơm như chan máu và Phan Đăng Lưu không hề đụng đũa. Thời khắc qua đi, nặng nề nghẹt thở. Còn anh, vẫn như thói quen thường ngày, đi đi lại lại trong xà lim, những bước đi trầm lặng, bồn chồn vốn có. Trong tâm trạng bời bời, tôi thầm cầu mong anh nói một điều gì, không phải cho anh, mà cho tôi, cho chúng tôi….Nhưng không, tuyệt nhiên không!...Bỗng nhiên tiếng phanh ô tô hực lên ngoài sân, tiếng giày đinh thô bạo, rồi tiếng xích khóa xà lim rít lên. Cửa bật mở, Phan Đăng Lưu dừng bước, nhìn tôi…Bỗng nhiên, tiếng anh rành rọt, trầm tĩnh vang lên:

Giang sơn dĩ tử, ngô yên đắc thâu sinh, thập niên lai luyện kiếm ma đao, tráng chí thệ phù hồng Tổ quốc;

Vũ dực vị thành, sự hốt nhiên trung bại, cửu tuyền hạ điều binh khiển tướng, hương hồn ám trợ thiếu sinh quân.

(Non sông đã chết, mình há nỡ sống thừa, trên mười năm mài chùi súng gươm, chí cả quyết vùa nền tổ quốc;

Lông cánh chưa đều, việc giữa đường vội hỏng, dưới chín suối điều binh khiển tướng, hồn thiêng ngầm giúp đội thanh niên.)

Và Trần Ngọc Điệp kể tiếp: cái nhìn trang nghiêm, đắm đắm, cái phẩy tay cuối cùng, có thể cả cái nhếch mép thoáng qua…Tất cả đều biến mất khi cửa xà lim sập lại, chỉ còn lại với tôi, giọng đọc trang trọng của anh, đôi câu đối của một chí sỹ hồi đầu thế kỷ. Đó là lời nhắn gửi cuối cùng của anh đối với chúng tôi” [46]                                                                                     

4.Mi quan h văn chương vi lch s và chính tr

 Về vấn đề này, đ/c Phan Đăng Lưu viết: “Đọc thi văn các nhà chí sỹ Việt Nam trong khoảng trên 70 năm nay, chúng ta nhận thấy trong thời gian ấy, tư tưởng chính trị Việt Nam đã trải qua những cuộc biến đổi, ăn rập với cuộc tiến hóa của trào lưu tư tưởng thế giới và quyết định bởi hoàn cảnh khách quan trong xứ, có thể phân tách và chia ra làm ba thời kỳ:

1.Thời kỳ cần vương: Văn chương trong thời kỳ này rặt một giọng cần vương nhương di (cứu viện nhà vua, đuổi giặc ngoại xâm).

2. Thời kỳ chủ nghĩa dân quyền và chủ nghĩa dân tộc: Trong thi ca thường ca tụng Lư thoa, Mạnh đức là những học giả đã xướng lên thuyết dân quyền.

3.Thời kỳ chủ nghĩa xã hội: Từ vài mươi năm lại đây, tư tưởng lại khuynh hướng về chủ nghĩa xã hội. Đảng phái xã hội kế tiếp nhau thành lập; sách báo xã hội đua nhau xuất bản.

Văn thơ các nhà chí sỹ như ông Phan Bội Châu, ông Huỳnh Thúc Kháng cũng luôn luôn săn sóc, nhắc nhủ tới giai cấp cần lao”.

(Phi Bằng - Phan Đăng Lưu, Mấy lời nói đầu, sách Thi văn…,)

Chỉ trong một đoạn ngắn, chúng ta thấy quan niệm của đ/c về văn chương rõ ràng có mấy điểm như sau:

- Văn chương bị chi phối, ảnh hưởng bởi tư tưởng chính trị của thế giới và trực tiếp bởi hoàn cảnh khách quan trong xứ, như thế là có hai mức độ ảnh hưởng khác nhau, không thể đánh đồng.

- Tư tưởng chính trị có ảnh hưởng nhưng không đồng nhất với văn chương và như vậy chính trị có lịch sử phát triển của chính trị, còn văn chương có lịch sử của văn chương.

Đ/c Phan Đăng Lưu đã trình bày quan điểm của mình cách đây 76 năm, trong khoảng thời gian đó có cuộc tranh luận sôi nổi “nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh”.

Cụ Phạm Quỳnh đưa ra luận điểm: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn”. Cụ nghè Ngô Đức Kế thì đấu tranh lại quyết liệt. Còn luận thuyết về mối quan hệ chính trị và văn chương còn được thảo luận dài dài cho đến sau kháng chiến.

Theo chúng tôi, những vấn đề trên đã được đ/c Phan Đăng Lưu có cách lý giải riêng, rành mạch, ngắn gọn mà đầy đủ. Kết thúc bài giới thiệu Thi văn các nhà chí s Vit Nam, đ/c còn khẳng định lại: “Như đã nói trên, tư tưởng chính trị Việt Nam biến đổi tùy theo cuộc tiến hóa của tư trào thế giới và hoàn cảnh khách quan trong xứ. Tuy vậy, một điều chúng ta cần nên nhận rõ là dù thời thế đổi thay, tư tưởng không đồng, song các bậc tiền bối chúng ta vẫn nhằm một mục đích thiêng liêng: tranh tự do độc lập cho dân tộc mình” (My li nói đu, sách Thi văn…,)

Đ/c Phan Đăng Lưu là người nghiên cứu rất sớm kinh tế học Marx qua tài liệu Âu tây, ắt hẳn nắm vững luận thuyết thượng tầng và hạ tầng, mối quan hệ giữa chúng, ảnh hưởng của máy hơi nước và máy in đối với văn hóa nghệ thuật,v.v…. tóm lại là “kinh tế quyết định luận”. Tuy nhiên đ/c không “xài tươi” các thứ đó. mà vận dụng chúng rất sáng tạo và uyển chuyển. Đ/c Phan Đăng Lưu- trí tuệ tuyệt vời.

Sau đây là một số nhận định, đánh giá văn thơ các chí sỹ, của đ/c Phan Đăng Lưu:

- Về cụ Đặng Thế Thân: “văn chương của ông hùng hồn, bi tráng; người đương thời chẳng những phục ông vì cái chí khẳng khái và tính người trầm tĩnh; mà còn phục ông văn tài lỗi lạc nữa (Thi văn…, tr.88)

- Về cụ Hoàng Trọng Mậu: “Lúc ở Tàu, ông Sào Nam viết quyển Việt Nam sơ khảo, đưa cho ông Hoàng Trọng Mậu phê bình,, ông phê bình nhiều câu xác đáng, và sau hết, có kết thúc mấy lời nghe thống thiết” (Thi văn…, tr. 94)

- Về cụ Ngô Đức Kế: thơ ông cũng hay, nhứt là thơ tứ tuyệt “bài nào cũng trầm thống và khẳng khái, nghe rất tự nhiên, như ai làm cũng được, mà kỳ thực ở trong nấu nướng hun đúc rất công phu”, Thi văn…, tr.105)

- Về cụ Lê Đại: thơ ông tao nhã, trôi chảy nhẹ nhàng và có ý hài hước/nghịch ngợm (Thi văn… tr. 132). Ví dụ:

+ Kệ thây chúng nó, thi mà chi, đỗ cũng mà chi; từng đòi phen quen thú phong lưu, nào là rượu đầy bàn, đàn đầy vách, sách đầy án, bạn đầy nhà,nghênh ngang phong nguyệt bốn mùa, ai có lạ gì phường mặt trắng;

Còn có lũ mình, tội cũng vậy, tù mà cũng vậy; may gặp lúc xoay nên thời thế, thử xem miệng như tép, mép như rồng, tiếng như cồng, mắt như đuốc, xốc vác giang sơn một gánh, làm cho xong việc, ta về hỏi thử bạn non xanh.

(Lê Đại- Ở tù mừng bạn thi đỗ, Thi văn… tr. 135- 136)

+ Bốn bể gặp người tri kỷ, bước phong trần mây nước bỗng chia đôi, tôi may về còn sống, bác cũng may sống mà về, thôi chi bằng lên đỉnh non xanh, ba chén rung đùi, mặc kệ ngũ châu kim thế giới;

Trăm năm tính bạn sinh nhai, vòng tuế nguyệt, tuyết sương đà quá nửa, trước lấy nước làm nhà, sau hóa lấy nhà làm nước, kìa chẳng thấy trên thềm tóc bạc, suốt ngày quanh gối, sướng hơn nhất phẩm đại triều đình.

(Lê Đại- Mừng bạn ở tù về làm nhà mới, Thi văn… tr. 136)

- Bàn về cụ Hồ Quý Châu: “Ông Hồ Quý Châu người làng Quỳnh Đôi, tỉnh Nghệ An, người thông minh có tiếng, hay chữ đã sớm, tính khẳng khái, tuy nhà nho mà tư tưởng vượt ra ngoài khuôn sáo Khổng học- PĐN in nghiêng”( Thi văn… tr.59)

- Về cụ Nguyễn Thành: “Ông chuyên về thực học, ít làm văn thơ, song ông là người có chí khí lớn, có tín ngưỡng sâu xa, nên mỗi lần cảm xúc mà ngâm vịnh thì vượt hẳn ra ngoài khuôn sáo, khác hẳn với bọn văn sỹ tầm thường - P.Đ.N. in nghiêng” (Thi văn… tr.64)

- Về cụ Nguyễn thượng Hiền: “Ông mất năm 1927, thọ 61 tuổi. Văn thơ ông lời tao nhã, ý thâm trầm, đọc nghe khoái trá, nhẹ nhàng. ” (Thi văn… tr. 74).

Tóm lại, theo đ/c Phan Đăng Lưu, thơ hay phải vượt ra ngoài khuôn sáo Khổng học, nhận xét đánh giá thơ không phải là tầm chương trích cú, chẻ nhỏ ra theo niêm luật, bằng trắc, âm vận…. Mặt khác, không lấy đôi kính tư tưởng, lập trường mà soi. Đ/c quan niệm, văn chương có giá trị là sự hòa đồng nhuần nhuyễn giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, đem lại một cảm xúc thẩm mỹ mạnh mẽ và sâu sắc: “hùng hồn, trầm thống, khảng khái, bi tráng, lời lẽ thống thiết, ý tứ dồi dào, quan sát một cách sáng suốt rộng rãi, tham khảo đủ ý tứ đông tây, tao nhã, thâm trầm, khoái trá, nhẹ nhàng,…”.

Theo chúng tôi, đây là phương pháp nhận định, đánh giá thi ca theo thi pháp học từ thời Aristote; hay là nói về Á Đông, theo Lưu Hiệp, đòi hỏi sự nhuyễn luyện giữa “tâm” và “long” giữa “dụng tâm” và “điêu long”, ….mà mấy thập kỷ gần đây chúng ta khôi phục lại. Phương pháp tiếp cận trên, trong sách Thi văn… đã được thực hiện cách đây 76 năm mà đến nay vẫn cập nhật.

Phương pháp tiếp cận trên đây khác xa luận thuyết thô thiển được gọi là “hình thức cũ, nội dung xã hội chủ nghĩa”, hoặc là “bình cũ, rượu mới”….., đã chặt đôi không thương tiếc một thân thể thơ ca ra làm nội dung và hình thức, cái được đựng và cái để đựng.

5.Quan tâm đến sinh hot và môi trường ca thơ ca

Một số bài thơ thường có hoàn cảnh ra đời, môi trường tồn tại riêng, đ/c Phan Đăng Lưu thường lưu ý giới thiệu những điều trên khiến cho người đọc hiểu cuộc đời của chí sỹ hơn, hiểu nội dung thơ ca và đồng thời sự tiếp xúc với thơ ca sinh động và chân thực hơn. Sau đây là một số ví dụ:

  • Thơ cụ Huấn Đặng được tặng thuốc lá ở Côn đảo

“Những chính trị phạm ở Côn Lôn hồi ấy, hầu hết là những người có danh phận, nhưng kẻ quan tước thì ông Đặng (Đặng Nguyên Cẩn) to hơn cả, vì trước ông làm đốc học, bởi thế ở đảo, từ lính ma tà cho đến các phạm nhân đều gọi ông là quan đốc. Một hôm, ông cùng với vài người nữa, đương ngồi đan đệm ở nơi hàng ba, thấy người lính ma tà dẫn hai người đàn bà đi qua, có một người trông vẻ mặt cũng sạch, chừng 25 tuổi, nhìn rồi hỏi: ai đây là quan đốc?

Ít hôm sau, một người tù thường cầm một đẫy thuốc lá đưa cho ông và nói, đó là của người đàn bà bữa trước gửi làm qua tặng ông. Nhân đó ông có bài thơ:

Tóc xanh răng trắng, gái thuyền quyên

Dạo bước sen vàng thoảng trước hiên

Động Khẩu vô tình kêu Nguyễn Triệu

Nam Minh có khách biết Hồ Thuyên

….(Trích)” (Thi văn… tr.83)

- Thơ cụ Nguyễn Quyền cắt búi tóc

- “Phen nầy cắt tóc đi tu

Tụng kinh độc lập ở chùa duy tân

……..(Nguyễn Quyền)

Bài này viết lúc ông với ông Phan Chu Trinh rủ nhau đi hớt búi tóc”

 (Thi văn… tr. 128)

- Thơ diễu ông tú Nguyễn Duy Viên.

“Trong bọn tù, có ông tú Nguyễn Duy Viên, người Bình Định, tính nghiền cờ bạc, có lúc không có tiền đánh, song ông cũng cứ ngồi xem suốt đêm. Ông lại có tính thích ăn ớt (hột cay), thường nói:”Ớt cay ngon hơn thịt”. Một bữa ăn nọ, có dọn thịt gà và thịt heo cùng cá khô, có vẻ sang, lại có đĩa ớt trái. Ông Siêu Tùng (Lê Đại) chơi xỏ, nhắc lại câu ông tú thường nói. Ông nầy giận lắm, đành ăn cá khô với ớt vậy. Ông Siêu Tùng có bài thơ nhạo:

Mình sánh Tào Giao tám thước dài

Miệng như nước chảy, lưỡi dao phay

Bình sinh đáo để nghiền hai cái

Xem mãn sòng chơi, xực ớt cay.” (Thi văn…tr. 133)

Ha bài thơ ca bà Hun (Hun Quyn)(1)

Cầu trời cầu biển quản gì công,

Dệt gấm khi nao mượn má hồng.

Đuổi đập kình nghê muôn lớp sóng,

Đứng trơ mưa gió một chùm thông,

Hỏi han ả Lý vừng trăng bạc

Chờ đợi nàng Tô chén rượu nồng,

Đắp lạnh quạt nồng ai đó tá?

Hiếu tình này vẫn hiếu tình chung.

(Nguyễn Quyền, Thi văn… tr.131)

 (1) Bài thơ của bà Huấn tiễn chân bà Hoàng Tăng Bí theo chồng vào Kinh. Ông Hoàng cũng bị bắt một lần với ông Huấn, nhưng được ông Cao Xuân Dục là nhạc phụ ông, lúc ấy làm Thưọng thơ bộ Học, bảo lãnh cho vào ở Huế. Bài thơ tiễn ấy như sau đây:

Chỉ thêu nên gấm dám nài công,

Bạn chị em ta mãnh má hồng.

Mặt nước kìa ai câu bọt bể,

Chùa nhà riêng những quét hoa thông.

Méo tròn thử vẽ vừng trăng bạc,

Cay đắng xin vơi chén rượu nồng.

Say quít lại cười, cười lại bảo:

Ơn riêng nầy chớ phụ tình chung.

 Khóc bà Phan Bội Châu

 - Nghe nói bà gian truân hiền phụ, chồng vắng nhà lo tính vẹn trăm đường, nhà còn tê, chồng hãy còn tê, dâu bể cuộc tàn, vùi đất ngàn thu khôn nát ngọc;

Nhắn hỏi ông thất bại anh hùng, vợ với nước thương yêu cùng một mối, nước như rứa, vợ nay như rứa, non sông khí uất, đập trời một tiếng muốn quăng gươm.

(Lê Đại-, Thi văn… tr. 137)

Mừng bạn ở tù về làm nhà mới

+ Bốn bể gặp người tri kỷ, bước phong trần mây nước bỗng chia đôi, tôi may về còn sống, bác cũng may sống mà về, thôi chi bằng lên đỉnh non xanh, ba chén rung đùi, mặc kệ ngũ châu kim thế giới;

Trăm năm tính bạn sinh nhai, vòng tuế nguyệt, tuyết sương đà quá nửa, trước lấy nước làm nhà, sau hóa lấy nhà làm nước, kìa chẳng thấy trên thềm tóc bạc, suốt ngày quanh gối, sướng hơn nhất phẩm đại triều đình.

(Lê Đại, Thi văn… tr. 136)

6.Chân dung các chí s

Sách Thi văn… đã công bố được 5 tấm ảnh chân dung 5 vị chí sỹ. Việc này phải được đánh giá là một cố gắng quan trọng. Về phương diện kỹ thuật, thời bấy giờ ảnh hiếm và in khó. Vả lại tất cả đều là chân dung của các vị bị gọi là “chính trị phạm”, được trưng một loạt trên sách, ắt hẳn không mát mắt nhà cẩm quyền thực dân và quan lại.

Tuy nhiên hiệu quả của các tấm ảnh chân dung này khá lớn, qua đó chúng ta được chiêm ngưỡng hình tượng những bậc anh hùng của dân tộc, chúng ta càng gần gũi họ hơn, thấm thía thơ ca họ hơn.

Các ảnh chân dung đó là:

- Cụ Nguyễn Thượng Hiền

- Cụ Phan Châu Trinh

- Cụ Ngô Đức Kế

- Cụ Lê Văn Huân

- Cụ Nguyễn Quyền

7. Trường hp đi chí s- c Nguyn Trường T

Đ/c Phan Đăng Lưu vô cùng hâm mộ, tín ngưỡng, sùng bái tất cả các nhà chí sỹ. Vì vậy trong hoàn cảnh gian nan hiểm nghèo đ/c vẫn sưu tập biên soạn được sách Thi văn các nhà chí sĩ Việt Nam. Tuy nhiên chúng tôi đọc thấy một trong những chí sĩ cao cấp là cụ Nguyễn Trường Tộ, được đ/c tôn xưng là mt nhà đi chí s, mt nhà đi chánh tr, đi văn hc:

“Nước ta, giữa đời Tự Đức, ở phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, nảy ra mt nhà đi chí s, vừa lại là mt nhà đi chánh tr, đi văn hc, (P.Đ.N. in đậm), ấy là ông Nguyễn Trường Tộ” (Thi văn… tr.17)

Rõ ràng là đ/c có biệt nhãn với cụ Nguyễn. Vậy thử xem quan niệm của đ/c Phan Đăng Lưu thế nào là đc/ đại chí sỹ, qua trường hợp cụ thể là cụ Nguyễn Trường Tộ.

Theo Phan Đăng Lưu, chí sỹ, - một kiểu người lý tưởng đương thời,- tiêu chí cao nhất và trước hết là yêu nước, cụ thể ở 3 phương diện:

- chí hướng, lý tưởng là “suốt đời cúc cung tận tụy vì dân vì nước” (Phan Đăng Lưu: Văn thơ của các chí sỹ Việt Nam, Tạp chí Đông Phương, số 5 ngày 15- 4- 1939)

- giá trị, phẩm chất là “tinh hoa của dân tộc” (Phan Đăng Lưu: Văn thơ của các chí sỹ Việt Nam, Tạp chí Đông Phương, số 5 ngày 15- 4- 1939)

- hành động “luôn luôn nhằm vào làm cho tổ quốc được vẻ vang, dân chúng được tự do, sung sướng” (Phan Đăng Lưu: Văn thơ của các chí sỹ Việt Nam, Tạp chí Đông Phương, số 5 ngày 15- 4- 1939)

Và cụ thể ở cụ Nguyễn Trường Tộ là:

1. Cụ Nguyễn là người học rất rộng, biết rất nhiều, đã từng du học dài ngày ở Pháp, Ý, có du khảo ở Singapore, Hồng Kông, Mã lai. Thời gian tổng cộng hơn 2 năm. Cụ có tư chất thông minh lỗi lạc, uyên thâm Hán học, giỏi tiếng Pháp và Tây học, đương thời gọi cụ là “Trạng Tộ”. Trí tuệ đó quả là “tinh hoa của dân tộc”.

2. Cụ Trạng không chỉ thuyết chữ nghĩa, càng không phải chỉ có chữ nghĩa Thánh hiền, mà rất dồi dào tri thức thực tiễn. Khối tri thức đó chứa đầy trong 59 bản điều trần gửi vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn. Điều trần rồi lại điều trần liên tiếp, dầu không được trả lời, kiên trì đến nỗi các bộ não đặc sệt bảo thủ, biệt thị tôn giáo, có khi nhúc nhích, nhưng cuối cùng không thực hiện được gì.

Đ/c Phan Đăng Lưu đánh giá cao giá trị ý nghĩa của “ý kiến sáng suốt” cụ Nguyễn, tương đương với Phúc Trạch, Bồ Sơn; nếu được triều đình tham khảo thực hiện thì có cơ chuyển biến được đất nước như Nhật bản: “Phải chi hồi đó vua Tự Đức không khinh rẻ những ý kiến sáng suốt của ông thì chắc rằng nước Việt Nam không phải là nước Việt Nam bây giờ, mà sự nghiệp tiếng tăm ông có thua gì Phúc Trạch (Fukuzawu), Bồ Sơn (Vrayama) nước Nhật” (Thi văn… tr.17),”.

Trong mấy dòng ngắn gọn, đ/c chỉ ra tinh túy chiến lược cứu nước của cụ Nguyễn sau đây: “Bấy giờ, tin rằng không thể lấy võ lực mà chống với người Pháp, ông đề nghị một mặt tạm cầu hòa với họ, đồng thời giao hiếu với các nước Âu Tây, nhứt là nước Anh, để mong lấy nước này kiềm chế nước kia; một mặt chỉnh đốn việc nước như: sửa sang võ bị, hợp các tỉnh, huyện để giảm số quan lại, đánh thuế cờ bạc, thuế rượu, thuế trà Tàu cùng các thứ xa xỉ khác, sửa lại việc học, lập nhà nuôi trẻ và nhà tế bần, cải lương hương chính, cấm địa lý, tướng số, phái người đi du học,v. v... Tóm lại, mục đích cốt bồi bổ lấy thực lực để lo sau này khôi phục giang sơn” (Thi văn… tr.17)

Về việc học, không chỉ có khoa cử từ chương, theo kiểu Tàu,“ Ông xin đặt ra các khoa canh nông, thiên văn, địa lý,, cơ xảo (máy móc),, luật học, sau hết, dùng quốc âm thay cho chữ Hán. Đọc bài trên ta thấy ông là mt nhà đi chính tr. Tiếc thay, mực cạn, bút cùn mà cái tài giúp nước cứu dân, không có chỗ thi thố, đến phải uất ức mà chết” (Thi văn… tr.24)

3. Hơn nữa, bên cạnh khối tri thức thực tiễn, ông là một người thực hành giỏi “Năm 1686, ông Hoàng Kế Viêm, tổng đốc Nghệ An phải nhờ ông mới đào được Kênh Sắt. Nhà thờ Xã Đoài, nhà phước Sài Gòn, cột cờ thành Gia Định đều do ông làm cả. Mỏ than Quảng Yên cũng chính ông tìm ra” (Thi văn… tr.28)

4. Mọi việc cứu nước đều không thành, ngày 10- 10- 1871, cụ qua đời nơi quê nhà (Xã Đoài), ở tuổi 41, sau khi trăng trối lại bằng câu đối “Nhất thất túc thành, thiên cổ hận; Tái hồi đầu thị, bách niên cơ” (Một kiếp sa chân, muôn kiếp hận; Ngoảnh đầu cơ nghiệp, ấy trăm năm Nguồn: Kho lưu trữ MEP)

Giám mục Gauthier, người hết sức quý mến cụ, tích cực dắt dẫn cụ và vô cùng hiểu cụ đã viết lại, trong thư đề ngày 1- 11- 1871: “Người giáo hữu Việt Nam mà tôi đem theo năm 1867, mà người ta gọi là kiến trúc sư,( …) đã là nạn nhân của một âm mưu đầu độc” (Nguồn: Kho lưu trữ MEP)

*

Các chí sỹ Việt Nam là một bộ phận trí thức, yêu nước và cách mạng, trong các chí sỹ, đ/c Phan Đăng Lưu mới có điều kiện nêu lên một đại chí sỹ là cụ Nguyễn Trường Tộ. Như trên ta thấy, đúng là tinh hoa ca dân tc. Các bậc đại chí sỹ thế hệ đương thời còn nhiều, cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, cụ Huỳnh Thúc Kháng,…; và về sau này tiếp bước là các trí thức tân học: Nguyễn Văn Tố, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Khắc Viện, v.v.……

Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức, động viên thành phần tinh hoa này đóng góp to lớn cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc.

TIỂU KẾT

1. Cách đây 76 năm, trong hoàn cảnh rất bận rộn và tràn đầy khó khăn, (nhiều lúc không có tiền ăn) với nhân thân của người tù cộng sản bị an trí, bị ràng buộc đủ thứ, mà đ/c Phan Đăng Lưu cũng quyết để lại cho chúng ta những thi ca huyết lệ cùng với tấm gương yêu nước chói ngời của các chí sĩ; đã trải qua tù đầy khổ ải và một số đã bị hành hình. Chúng ta vô cùng biết ơn các liệt sỹ, chí sỹ và soạn giả của tập thi ca, đ/c Phan Đăng Lưu- cũng là một chí sỹ và liệt sỹ lẫm liệt.

2. Với Thi văn các nhà chí sỹ Việt Nam, đ/c Phan Đăng Lưu đã là người mở đầu sưu tập một dòng thơ ca: thơ ca yêu nước và cách mạng. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, GS Đặng Thái Mai đã nói điều đó và đặc biệt là GS Chương Thâu, đã đề nghị ghi công cho soạn giả tiền phong này:

“Theo tôi, đây là một tập sách mở đầu cho các hợp tuyển “Thơ văn yêu nước và cách mạng” mà lớp con cháu đ/c Phan Đăng Lưu như chúng tôi cũng đã học tập Phi Bằng để sưu tầm biên soạn nên các tập “thơ văn yêu nước”, như anh đã thấy. Có thể nói, Phi Bằng là người mở đầu cho một thể loại tác phẩm văn thơ yêu nước của lịch sử văn học nước nhà. Rất đáng ghi công cho tác giả tiền phong này”[47]

3. Không những chỉ là “hợp tuyển mở đầu” (đồng ý với Chương Thâu), hơn nữa, sách Thi văn…đã chỉ dẫn cho chúng ta một số lý luận văn học cơ bản:

- Thứ nhất là mối quan hệ giữa lịch sử và văn chương, chính trị và văn chương. Văn chương và hai phạm trù liên quan nói trên có ảnh hưởng qua lại chặt chẽ, nhưng văn chương nghệ thuật độc lập tương đối, không đồng nhất.

- Thứ hai là nội dung và hình thức gắn bó nhuần nhuyễn, nội dung được thể hiện qua hình thức, hình thức là của nội dung.

Các vấn đề trên đây không chỉ nói suông mà đã đã được đ/c vận dụng thể nghiệm và mặc dầu trải qua hơn 70 năm, cho đến ngày nay vẫn có giá trị cập nhật.

4. Thơ văn không chỉ trơn trụi mấy dòng chữ nghĩa, mà người tiếp nhận còn cần biết văn cảnh, môi trường sống của chúng. Soạn giả sách Thi văn …đã cho chúng ta biết những điều trên: thơ cám ơn một cô gái trẻ tặng quà ở Côn Đảo, thơ cùng cụ Phan Chu Trinh đi cắt búi tóc- một sự cách tân, thử tài thơ ở trường cụ Thám Đạt,…

Thơ ca Việt Nam đầu thế kỷ trước có đặc điểm là không phải sáng tác để in, lấy tiền nhuận bút và xuất bản lấy danh giá. Thơ văn thời bấy giờ, nhằm mục đích chủ yếu là phục vụ cuộc sống bao gồm một số sinh hoạt như: khóc một người quen/thân qua đời để chia buồn, tỏ nỗi thương tiếc, mừng một thành công của bạn bè (làm nhà mới, thi đỗ,…), viếng một người qua đời, họa một bài thơ của bạn- coi như đáp lễ văn chương,……Đó là thi ca có tính sinh hoạt. Trong thời kỳ hiện đại, thi ca không còn tính sinh hoạt nữa. Sách Thi văn… đã ghi lại đặc điểm tính sinh hoạt của văn chương Việt Nam một thời đã qua, không trở lại nữa và sách sưu tập cũng do đó trở nên hấp dẫn và chân thật hơn.                 

Chương thứ năm

SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH BÁO CHÍ CỦA ĐỒNG CHÍ PHAN ĐĂNG LƯU

Chương này có 3 mục lớn:

+ Hoàn cảnh hoạt động báo chí của đ/c Phan Đăng Lưu.

+ Văn chương báo chí của đ/c Phan Đăng Lưu:

a. Đề tài và thể loại chính

b. Ngôn ngữ, nghệ thuật.

+ Kết luận.

I. Hoàn cnh hot đng báo chí ca đ/c Phan Đăng Lưu.

  1. Hoàn cnh ra báo

Khi nhận nhiệm vụ của xứ ủy “lợi dụng nghị trường”, đ/c nghĩ ngay đến việc Đảng phảỉ chỉ đạo báo chí công khai và trực tiếp nắm một tờ báo. Đ/c đi Vinh tổ chức lực lượng. Sau đây là lời đ/c Ngô Đức Mậu kể lại:

- “Vào khoảng tháng Tư, năm 1936, anh Lưu ở Huế ra (Vinh). Anh bàn với anh Hà Huy Giáp, anh Nguyễn Ngọc Tuyết và tôi (Ngô Đức Mậu) là nên có một tờ báo để mở chiến dịch vận động bầu cử. Nói đến việc xuất bản một tờ báo lúc bấy giờ thì thật là ảo tưởng. Tiền đâu? Ai đứng ra xin phép? Và chắc chi đã xin được? Rồi còn việc in nữa….Hiểu nỗi băn khoăn của chúng tôi anh Lưu cười:

- Các cậu đừng lo, mọi việc đã được chuẩn bị chu đáo. Việc quan trọng bây gìờ là, nếu tờ báo in ở Vinh thì các cậu có đảm nhiệm được không? Nếu chậm gửi tiền ra thì các cậu có cách gì bảo đảm tờ báo ra đúng kỳ hạn, và ai đứng ra chủ trì việc này?

- Chỉ những điều đó thôi thì được- mọi người đều trả lời như vậy

- Thế thì nói để các cậu biết, bọn mình đã mua lại bản quyền tờ báo Sông Hương của Phan Khôi với giá 50 đồng. Sở dĩ y bán bản quyền cho ta vì tờ báo không ai đọc, bị phá sản và tự đóng cửa không thời hạn. Bây giờ nếu in tờ báo đó ở Huế thì người ta lại lầm là của Phan Khôi, không ai thèm đọc. Hơn nữa, bọn nhà in trong đó cũng gây khó khăn cho ta nhiều. Vì thế mình đề nghị cậu (Ngô Đức Mậu) sẽ đảm nhiệm thư ký tòa soạn, liên lạc với nhà in. Có việc gì bí thì hỏi ý kiến anh Giáp (Hà Huy Giáp) và nhờ Tuyết giúp đỡ tài chính khi cần. Bài vở chính thì Tôn Quang Phiệt và mình sẽ gửi ra đầy đủ. Các cậu ở đây liệu cơm gắp mắm, làm sao cho đủ bài vở từng số là được. Mục đích chính của tờ báo là vận động bầu cử. Tất cả bài vở đều xoay quanh vấn đề đó…..

Mọi việc đã ổn thỏa, anh Lưu trở về Huế.”[48]

Một lần khác, đ/c Lưu mời ông Mậu vào Huế để thảo luận về tiếp tục ra báo, lúc này, Sông Hương tc bn đã bị bọn cầm quyền rút giấy phép, các đ/c bàn việc ra báo Dân:

“Tháng 6- 1938, sau khi bị tù ở nhà lao Vinh ra, tôi vào Huế theo thư anh Lưu gọi. Đến nhà số 11 đường Đu- đa đờ la- Grê nơi anh Lưu ở, tôi được anh Lâm Mộng Quang và anh Nguyễn Cửu Thạnh đón tiếp niềm nở. Anh Quang nói với tôi: “Mấy hôm nay, anh Lưu nhắc anh luôn. Bây giờ anh còn đi vắng, chiều mới về. Trước khi đi anh Lưu có dặn, nếu anh đến thì anh Thành đưa anh đi chơi, xem lại cảnh sông Hương, núi Ngự, rồi tôi đưa anh đi xem hát hay chiếu bóng cho thoải mái đã. Sáng mai, anh Lưu và các vị dân biểu sẽ gặp anh bàn công việc”…..Sáng hôm sau tôi dậy sớm, chạy thẳng lên gác hai, nơi anh Lưu và ban biên tập nghỉ. Cảm giác đầu tiên của tôi là ngạc nhiên và bỡ ngỡ. Trong phòng chẳng có gì hết, ngoài ba cái giường vải xếp và một cái tủ cũ rích. Nhân vật trong phòng lúc đó, ngoài anh Lưu còn có ông cử Quế và anh Các. Người nào người nấy đều trần trụi với một cái quần xà lỏn. Chưa kịp chào hỏi nhau tôi buông một câu thỏn lỏn:

- Các vị ăn ở lúi xùi như thế này à?

Anh Lưu vừa cười, vừa đáp lại ngay:

- Ấy! bây giờ thế này, chứ biết đâu có ngày, nhà này sẽ là trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời đấy.

Rồi anh nói tiếp: “Cậu vào đây đúng lúc. Ông Cử muốn gặp lại cậu đấy. Nhưng khoan, để bọn mình mặc quần áo và đợi xôi về kiếm mỗi đứa một nắm đã”.

…..

“Chúng tôi đang say sưa chuyện trò thì anh Lưu giục:

- Nào mời Cụ Cử và ông bạn “cá gỗ” đi làm việc kẻo trưa rồi. Nói xong, anh đọc luôn hai câu thơ Tú Xương:

Chuyn xưa nhc li nhiu câu thú,

Con tr xem chng lm đa ranh.” [49]

…..“Chiều hôm sau, tôi từ giã anh Lưu và mọi người, lên chuyến xe lửa tốc hành về Vinh, vừa vui mừng, vừa tin tưởng. Trước khi ra ga, anh Các đưa cho tôi sáu đồng bạc và tấm thẻ nhà báo, một bên có chữ ký chủ nhiệm Nguyễn Đan Quế, một bên có chữ ký phó khâm sứ Xtốc- Ken.

Anh Lưu nói đùa: “Bùa hộ mệnh đấy. Nhưng làm ăn không khéo, nó nổi khùng lên, thì cũng là tờ giấy lộn thôi”[50]

Qua mấy dòng ngắn ngủi hồi ức của ông Ngô Đức Mậu, chúng ta thấy được cảnh làm báo “bán công khai” của các vị, các đ/c thời bấy giờ. Đặc biệt qua câu chuyện, chúng ta thấy rõ, đ/c Phan Đăng Lưu đã lo lắng giải quyết, khắc phục mọi khó khăn lớn nhỏ của tờ báo, từ khâu cán bộ, đến bài vở, in ấn, tài chính, thẻ nhà báo,…Những việc khó khăn tưởng không vượt qua được, đ/c cũng lo liệu chu toàn. Một lần nữa, chúng ta thấy về tính tình, đ/c là người hoạt bát, xông xáo, vui vẻ, hài hước và chu đáo; đối với công việc, tận tình; đối với anh em, được anh em rất quý mến.

2. Khó khăn tr ngi- vt ln vi nhà cm quyn

Báo Dân đã góp phần đấu tranh thắng lợi ở Viện Dân biểu Trung kỳ, bọn cầm quyền tức giận truy tố hai vị đứng tên xin ra báo là cụ Quế và cụ Các, báo đã phản ánh và tố cáo thực tế cay nghiệt đó:

- “Báo DÂN đã bị chà nát dưới gót sắt cường quyền. Anh em làng báo Nam Kỳ tính sao đây. Ngờ đâu! Ở Trung Kỳ, công lý chẳng được coi ra gì cả. Công lý chỉ là một con nô bộc của cường quyền!

Chúng tôi vừa được tin Bộ Tư pháp đã y án báo DÂN. Thế là từ đây, hai ông Quế, Các, nếu không muốn ở tù phải nạp tất cả 140 đồng phạt và bị tước hết công quyền, mất chức dân biểu!

Nói một sự thật, một sự thật không thể chối cãi, in sai một chữ đã có cải chính mà bị truy tố, bị phạt, bị tước công quyền, thì thật là một sự áp đặt vượt hẳn ra ngoài phạm vi tưởng tượng của người ta!

Vụ án báo DÂN, như thế chẳng những là một tràng nguyền rủa xả mạnh vào pháp luật Nam triều và chính sách bảo hộ của người Pháp ở Đông Dương mà thôi, mà còn là một vết nhơ ấn mạnh trên mặt báo giới Đông Dương.” (Bài số 36 - II. 96 bài báo).

      Tuy nhiên, xứ ủy và đ/c Lưu không đầu hàng, đ/c tìm cách ra tờ báo mới lấy tên Dân:

- “Sau khi báo Dân bị đình chỉ, đ/c Phan Đăng Lưu có sáng kiến chủ trương ra một tờ báo mới lấy tên Dân Tiến, biên tập ở Trung Kỳ, đưa vào Sài Gòn in và phát hành, vì ở đây đang được hưởng quyền tự do báo chí theo luật do quốc hội Pháp thông qua ngày 29- 7- 1881.

……Báo Dân Tiến vẫn do Phan Đăng Lưu phụ trách và là cây bút chính về các vấn đề chính trị, xã hội.….

Báo Dân Tiến vượt qua được rào cản về giấy phép, nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong việc lưu hành báo trên đất Nam Kỳ và tài chính, nên sau khi ra được 5 số phải ngừng hoạt động. Kiên trì thêm một lần nữa, đ/c Phan Đăng Lưu xoay sang tờ báo mới, lấy tên là Dân Muốn, cũng in và phát hành ở Sài Gon, tòa soạn ở số 196, đại lộ Galieni. Báo ra được 2 số rồi ngừng, vì những lý do như báo Dân Tiến.”[51]

- “Nhận thức rõ báo chí và văn học là công cụ đấu tranh sắc bén, Phan Đăng Lưu vừa xây dựng, chỉ đạo các tờ báo, vừa trực tiếp đào tạo, đoàn kết tập hợp lực lượng báo giới, đặc biệt là các trí thức trẻ, bồi dưỡng họ, hướng dẫn họ ….Bản thân đồng chí là cây bút chủ lực viết các bài chính luận, tiểu phẩm văn học,… Các tờ Sông Hương tục bản ra được 14 số (từ ngày 19- 6- 1837 đến ngày 14- 1- 1937); báo Dân ra được 17 số (từ ngày 6- 7- 1938 đến ngày 7- 10- 1938); báo Dân tiến ra được 5 số (từ ngày 27- 10- 1958 đến ngày 12- 12- 1939); báo Dân muốn ra được 2 số (ngày 20- 12- 1938 và ngày 25- 1- 1939). Người Huế và bạn đọc cả nước thời bấy giờ thấy xuất hiện liên tục các bài báo sắc bén của Phan Đăng Lưu với hàng loạt bút danh: Sông Hương, Dân, Dân muốn, Phi Bằng, Bằng Phi, Tân Cương, Lý Toét, BCH, QB, SH, KD, Mục Tiêu, Thương Tâm, KĐ, Phan Thị Hồng Anh,…ở cả báo chí xuất bản Huế và Sài Gòn.”[52]

Chúng ta thấy rõ, làm báo đấu tranh với âm mưu của thực dân Pháp và Nam triều thật khó khăn, hiểm nghèo. Tuy nhiên, nhờ nghị lực, quyết tâm rất cao, nhờ trí tuệ sáng suốt, tài năng sáng tạo, đ/c Phan Đăng Lưu đã trăm phương nghìn kế, ra cho được báo, để thực hiện chủ trương “lợi dụng dân biểu, tham gia bầu cử”

II. Văn chương báo chí ca đ/c Phan Đăng Lưu

1. Đ tài và th loi

Văn chương báo chí hiện thu thập được là 96 bài, tạm phân ra các đề tài và thể loại sau đây, sự phân chia này chỉ có tính quy ước, nhằm tiện nắm bắt vấn đề:

“Với quyền hạn hẹp hòi của Viện Dân biểu ngày nay mà mong rằng các ông sẽ thay đổi công cuộc xứ này trong chốc lát là một điều mong ước quá hão huyền. Trái lại, nếu yên trí rằng các ông cũng sẽ chẳng làm gì được hơn ai, như thế hóa ra là một thái độ bi quan.” (96 bài báo - Bài 15)

Thứ ba là, nhân dân ta chưa được thực hiện quyền dân chủ.

Trước tình trạng đó có thể hoặc là bỏ mặc, không quan tâm, hoặc là tẩy chay. Nhưng đ/c Phan Đăng Lưu và tập thể của mình đã quyết đinh lợi dụng cơ quan dân biểu của kẻ địch: “Đường lối chỉ đạo sách lược của Trung Ương Đảng là: không tẩy chay tuyển cử, mà tham gia tuyển cử; không gạt bỏ nghị trường mà lợi dụng nghị trường. Xứ ủy Trung Kỳ là cấp chấp hành đầu tiên chủ trương ấy năm 1937 đúng vào kỳ hạn bầu cử  sớm nhất trong cả nước ở thời kỳ này” [53] Đây là một quyết định có tinh thần trách nhiệm vô cùng cao với xã hội, với lịch sử và với quần chúng nhân dân. Nhưng mặt khác quyết định này chứa đựng một tinh thần dũng lược vô song, là nhận đối đầu với kẻ thù độc ác, tàn bạo; là sẵn sàng lao vào gian nan, hiểm nguy.

“Phan Đăng Lưu là người được Xứ ủy phân công trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh hết sức sôi động ấy” [54] Như thế nghĩa là đ/c Phan Đăng Lưu đứng ra gánh lấy hầu hết công cuộc phức tạp, gian truân và hiểm nguy này.

Lại còn phải khắc phục khó khăn về tư tưởng nội bộ nữa. Không ít đồng chí vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng “tả khuynh” “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” từ thời Xô viết Nghệ Tĩnh (1930- 1931), mặc dù đã được uốn nắn, nhưng không khỏi băn khoăn trước chủ trương liên hiệp. Để xóa bỏ mọi thắc mắc, mặc cảm, tạo sự thống nhất về nhận thức tư tưởng, đi đến hành động, trong hàng ngũ Đảng viên, cán bộ, cảm tình Đảng… đ/c Phan Đăng Lưu đã kiên trì giải thích chính sách của Đảng trong tình hình mới.[55]

Và như vậy, để nhận nhiệm vụ “lợi dụng nghị trường”, đồng chí phải huy động các tổ chức, phải chú tâm đến đại bộ phận mọi công việc, từ A đến Z, từ gốc đến ngọn.

Các công việc chính đó gồm:

- Đối với Viện dân biểu;

- Đối với chính phủ Pháp và Nam triều;

- Đối với dân chúng cử tri.

2.2.1. Đi vi Vin dân biu

Quan trọng nhất là nhân sự, đ/c đã vận động thuyết phục ông Hoàng Văn Khải đồng tình nhận nhiệm vụ Viện trưởng và sau đó vận động để ông được trúng cử chức Viện trưởng.

Ông Hoàng Văn Khải là một nhân sỹ dân chủ, sinh năm 1876 ở tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Tân Việt cách mệnh đảng, bị thực dân Pháp bắt, kết án tù, đày ra Côn Đảo. Thời kỳ vận động dân chủ, xử ủy Trung Kỳ chủ trương tranh thủ ông. Ông tham gia trong mặt trận dân chủ. Xứ ủy giới thiệu ông ra tranh cử vào Viện dân biểu, được phiếu cao; sau đó lại vận động cho ông giành ghế Viện trưởng Viện dân biểu cũng thắng lợi (96 bài báo - Bài số 26)

Một nhân vật khác rất quan trọng là ông Phan Thanh. Phan Thanh lúc này đang bị tước quyền công dân vì đã viết bài đăng báo L’Annam của Phan Văn Trường, xuất bản ở Sài Gòn, công kích thực dân Pháp và bọn tay sai. Trong dịp gặp Ngô Đình Diệm để bàn giải pháp liên danh, hợp tác giữa phái dân chủ của Đảng và phái “84” của họ Ngô, đ/c Phan Đăng Lưu đề nghị Ngô Đình Diệm ra quyết định khôi phục quyền công dân cho Phan Thanh và một số tù chính trị, để anh em được ứng cử vào Viện dân biểu. Họ Ngô kêu là việc này khó quá. Đ/c cười nói: “Ngài là thượng thư Bộ Lại mà không làm nổi việc nhỏ nhặt ấy thì làm sao có thể tính chuyện đòi Pháp thi hành hòa ước 1984 được”[56]. Cuối cùng Ngô Đình Diệm phải đáp ứng yêu cầu của đ/c Lưu. Một tuần sau, Ngô Đình Khôi- Tổng đốc Nam –Ngãi- ban hành thông tư khôi phục quyền công dân cho Phan Thanh (Từ đây, có nhiều tù chính trị khác cũng được khôi phục quyền công dân). Phan Thanh ghi tên ứng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, Được Mặt trận dân chủ ủng hộ, giành được số phiếu rất cao và trúng cử ngay vòng đầu. Sau đó, Viện Dân biểu bầu anh vào Hội đồng kinh tế, tài chính Đông Dương[57] Tiếng nói của Phan Thanh có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đấu tranh ở Viện dân biểu đòi tự do dân chủ, đòi cơm áo cho nhân dân[58]

Đ/c Phan Đăng Lưu qua báo chí đã động viên, khích lệ các vị Hội đồng đấu tranh cho quyền lợi của dân, đ/c chỉ ra, muốn đấu tranh có hiệu quả cần “đứng chung thành một chiến tuyến”:

- “Quốc dân hết lòng mong mỏi về các ông, xin các ông chớ để cho quốc dân phải thất vọng như bao lần thất vọng trước.

Các ông (có thể) cứ trả lời một cách dễ dàng: Quyền hạn Viện dân biểu hẹp hòi như thế, bảo làm nên được việc gì?

Chúng tôi thấy rõ, muốn làm được những việc như thế, trước nhất các ông phải có một mặt trận thống nhất. Dẫu các ông có chỗ quan niệm khác nhau, sinh hoạt khác nhau, quyền lợi khác nhau, nhưng đến vấn đề cải cách dân viện và chế độ bầu cử, cùng những sự lợi ích quốc dân khác, thời các ông nên đứng chung thành một chiến tuyến duy nhất.” (96 bài báo - Bài số 14)

Khi bắt đầu có hiệu quả, đ/c cổ vũ, khuyến khích, động viên, khích lệ các đại biểu dân chủ để họ vững tâm tiếp tục đi con đường đấu tranh vì quyền lợi công chúng:

- “Thái độ của các ông dân biểu đối với dự án thuế đinh, thuế điền trong kỳ Hội đồng năm nay đã làm cho dân chúng cảm động vô cùng. Họ cảm động vì xưa nay họ chưa từng thấy người ta bênh vực họ một cách mạnh mẽ thành thực như vậy” (96 bài báo - Bài số 25)

- “ Viện dân biểu Trung Kỳ khóa này thiệt là xứng đáng với cái danh của nó là đại biểu cho dân. Vẫn biết rằng, quyền hạn của chế độ đại nghị ở xứ ta còn eo hẹp lắm. Nhưng trong cái quyền hạn ấy mà biết cách tiến hành cho kiên quyết, cho minh chánh, thì ảnh hưởng của nó không phải là nhỏ.

Trước những vấn đề sanh mạng của dân chúng, các ông nghị Trung Kỳ đã hy sinh những tư tưởng đảng phái, những tiểu khí tư tâm, mà thống nhất lại tất cả để cương quyết đối phó với dự án tăng thuế đinh điền của Chánh phủ. Thật đáng khen ngợi vô cùng.

Giá trị của Viện dân biểu Trung Kỳ năm nay chính là ở đó.

Mà lực lượng của Viện dân biểu Trung Kỳ năm nay cũng chính là ở đó.

Giá trị ấy, lực lượng ấy sở dĩ mà có là một phần do ở lương tâm của các ông nghị, nhưng còn một phần lớn hơn nữa là do phong trào thôi thúc và ủng hộ của dân chúng.

Trước 297 lá đơn kêu cứu với 5.905 người khắp các tỉnh Trung Kỳ ký tên, điểm chỉ; trước 74 bức điện tín của hầu hết tầng lớp dân chúng đã đánh tới cho Viện; trước những cuộc biểu tình rất có trật tự ở thành thị và thôn quê; các ông nghị Trung Kỳ đã nhận thấy phận sự thiêng liêng của mình trong cái giờ nghiêm trọng này vậy.” (96 bài báo - Bài số 23)

Để giữ vững và phát huy thắng lợi, đ/c Phan Đăng Lưu, tổng kết và nhấn mạnh “thái độ và tư cách của các ông nghị viên”:

Thái đ và tư cách các ông ngh viên

1. Phi thành thc

Các ông nghị phải là cái ống truyền thanh của dân chúng mà mình thay mặt. Các điều thấy khổ ở dân gian, các điều nguyện vọng của dân chúng, phải thành thực đề đạt lên chính phủ. Không được vì sợ oai quyền, ham danh vị mà bỏ bổn phận của mình.

2. Phi nhit thành vi các vic công ích

Những việc xẩy ra trong thôn quê hay thành thị, có quan hệ đến tính mệnh, tài sản của dân, các ông nghị phải can thiệp một cách đắc lực. Hoặc là chuyện kiện tụng điền thổ, hoặc là chuyện nhà thương chánh hay kiểm lâm ức hiếp, hoặc về chuyện kẻ cai trị lạm quyền, các ông nghị phải điều tra, can thiệp, gây dư luận lên để đề đạt ý nguyện dân chúng.

3.Phi làm vic c ngoài các ngày hi ngh

Từ xưa đến nay, các ông nghị phần nhiều ngoài mấy ngày hội đồng ở Viện rồi về nhà nằm yên không biết dân nước là gì nữa. Từ khóa này, đã làm nghị viên, phải để thì giờ làm việc dân. Nghị viên hạt nào phải điều tra tình hình, chính trị, xã hội, kinh tế, cai trị hạt ấy, để kiếm phương bổ cứu những sự khuyết điểm.

4. Ngh viên phi nhn cái đa v mình

Các ông nghị phải biết mình do mấy ngàn dân cử lên là có cái trách nhiệm nặng nề lắm. Không trọng cái phẩm giá mình tức là khinh rẻ cái phẩm giá quốc dân. Đối với người hành chính phải có thái độ đứng đắn, cái cử chỉ vững vàng, chứ đừng sợ sệt, rụt rè như một kẻ dưới quyền.”

(96 bài báo - Bài số 11)

Đ/c còn giúp đỡ các ông nghị về phương pháp làm việc:

- “Các bản thính cầu, chất vấn, cốt tài liệu cho đầy đủ, chứng cứ cho phân minh, số mục cho kỹ lưỡng, nghiên cứu cho chắc chắn, diễn giải cho mạch lạc. Một bản thỉnh cầu hay một cuộc chất vấn như thé mới có giá trị, mà người ta không trả lời “vong mạng” được.

Thương nước và hăng hái làm việc cho dân là một điều đáng quý lắm rồi. Nhưng chưa đủ, còn phải biết cách làm việc cho có hiệu quả nữa.” (96 bài báo - Bài số 19)

2.2.2. Đi vi Chính ph Pháp và Nam triu

Đ/c Phan Đăng Lưu không lạ gì bản chất các âm mưu đàn áp và bóc lột tàn tệ nhân dân ta, của nhà cầm quyền Pháp và Nam triều, nhưng đ/c vẫn kiên trì tìm mọi cơ hội để đấu tranh, lôi kéo. Và lại đưa ra những lập luận trên báo chí của Mặt trận dân chủ, đ/c đã chỉ đạo và gợi ý phương thức đấu tranh của các dân biểu tiến bộ và nhân dân.

- “Những nhà cầm quyền thường cũng nhận sự đói khổ của dân xứ này, sao khi dự định ngân sách quên nghĩ rằng tăng thuế điền thổ là đặt thêm lên vai đám dân nghèo khổ ấy một gánh nặng nữa.

Những nhà cai trị thường nói đến việc khuyếch trương nông nghiệp, sao lại quên mất rằng tăng thuế quá nặng nề sẽ làm cho nông dân cùng khổ không thể nào được khí cụ tốt và phân bón”. (96 bài báo - Bài số 22)

Đ/c còn nhấn mạnh tình thế chiến tranh và âm mưu của phát xít Nhật để kêu gọi sự hợp lực đấu tranh:

 - “Báo Dân một lòng thành thật, cũng như đã bày tỏ cùng Chánh phủ những nguyện vọng của dân chúng, cũng như đã chỉ trích những sự lạm quyền, nhưng bao giờ cũng tỏ một thái độ thành thực, minh bạch, trông mong cho hai dân tộc Pháp- Nam hợp tác với nhau trong những giờ nghiêm trọng mà quân đế quốc lùn đang dòm dỏ ở Hải Nam, bay liệng ở gần biên giới Bắc Kỳ vậy” (96 bài báo - Bài số 34)

- “Chắc các ngài cũng dư biết, suốt một tuần nay, cả thế giới bồi hồi trước tình hình nguy cấp ở châu Âu, mà khói lửa chiến tranh có thể xảy ra một mai, một chiều. Còn như ở Viễn Đông thì chúng tôi không cần nói, các ngài cũng thấy đạn trái phá đang nổ cạnh nhà chúng ta….

Trước tình hình nguy cấp như thế mà Chánh phủ lại đưa ra một dự án có tính chất tăng thuế. Chúng tôi thiết nghĩ, đó là một điều, nếu chúng tôi không nói là thất sách, thì cũng là bất hợp thời “ (96 bài báo - Bài số 26).

Và sức mạnh và vũ khí đấu tranh có hiệu lực nhất là quần chúng:

- “Trong 10 ngày họp hội đồng, chúng tôi đã tiếp được hơn 300 lá đơn kêu cứu với 5.906 người khắp các tỉnh Trung Kỳ điểm chỉ và ký tên. Chúng tôi lại còn tiếp 64 bức điện tín và nhiều tin tức về các cuộc biểu tình ở thành phố và thôn quê, để chứng tỏ rằng dân chúng tôi đã nghèo khó quá, không thể nào nộp thuế thân được nữa”. (96 bài báo - Bài số 26)

2.2.3. Đi vi dân chúng, c tri

Đối với cử tri, đ/c giúp cho bà con hướng bầu đại biểu, trên tinh thần đoàn kết rộng rãi, lấy tiêu chuẩn trong sạch, yêu nước thương dân để lựa chọn:

“Trong lúc này không nên phân biệt ai là quốc gia, ai là cọng sản, ai là cấp tiến, ai là hòa bình, ai là tư bản, ai là vô sản, không cần phân biệt làm gì. Trong lúc này, chúng ta chỉ cần biết ai là người trong sạch; ai là người thiệt lòng yêu nước, thương dân; ai là người muốn làm việc cho dân, cho nước, thời những người ấy, ta sẽ bầu họ vào nghị trường. Các bạn cử tri chỉ nhắm cái đích ấy mà bàu cử, thế là một cái phước lớn cho nước nhà rồi vậy.” (96 bài báo - Bài số 9)

Đ/c bày tỏ lòng tin tưởng ở sự sáng suốt của nhân dân, mặc dầu luôn luôn bị bưng bít thông tin:

- “Đọc những bản nguyện vọng và điện văn của dân chúng khắp nơi, gửi cho các ông nghị, ai cũng nhận ra rằng dân chúng ngày nay đã giác ngộ, những việc quan hệ đến quyền lợi của họ, họ đều hăng hái tham gia thảo luận” (96 bài báo - Bài số 24)

 2.2. 5. Kết qu nhim v đu tranh ngh trường

- “Dưới sự chỉ đạo thông minh nhạy bén của Phan Đăng Lưu, báo Dân đã góp tiếng nói mạnh mẽ, kết hợp với phong trào quần chúng và đấu tranh trong nghị trường, làm thất bại dự án thuế thân và dự án tăng thuế điền thổ của Khâm sứ Trung Kỳ. Đây là một sự kiện lớn trong đời sống chính trị ở Trung Kỳ thời đó. Chính quyền thực dân cũng biết rõ báo Dân chỉ là sự nối tiếp Sông Hươnng tục bản nên ngày 7- 10- 1938, Toàn Quyền ký quyết định thu hồi giấy phép của báo Dân sau khi báo ra được 17 số và truy tố người phụ trách tờ báo, thực chất là để trả thù vụ chống dự án tăng thuế. Tại phiên tòa ngày 13- 10- 1938, hai ông Nguyễn Đăng Quế và Nguyễn Xuân Các bị phạt 5 tháng tù treo và mất chức trong dân biểu”[59]

- “Đồng chí Phan Đăng Lưu đã sử dụng linh hoạt diễn đàn đấu tranh công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí và văn học nghệ thuật được coi là mặt trận chủ công, nổi bật là các báo: Sông Hương tục bản, Dân, Dân tiến, Dân muốn,…Bằng việc huy động tổng hợp, đồng bộ các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp, cuộc đấu tranh vào Viện dân biểu do Phan Đăng Lưu làm Tổng tư lệnh, đã thắng lợi rực rỡ đến mức tuyệt đối. Tất cả 18 ứng cử viên do Đảng đưa ra tranh cử đều trúng ngay từ vòng đầu và đều nắm các chức vụ trong Viện từ Viện trưởng, Viện phó đến phần lớn các Ủy viên Ban Thường trực. Đánh giá về thắng lợi này, Đảng ta ghi rõ: “ 18 căng đi đa ở Trung Kỳ xu hướng về Mặt trận bình dân, được trúng cử là những thắng lợi rất vẻ vang của Đảng ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Ddd, t6, tr.271.). Đây là thắng lợi thực sự to lớn, vang dội, lần đầu tiên xuất hiện ở nước ta, dưới thời thống trị của thực dân Pháp.” [60]

Trong thắng lợi trên đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do đ/c Phan Đăng Lưu trục tiếp phụ trách, mặt trận báo chí dân chủ góp một quan trọng trong chiến dịch đấu tranh chung.

2.3. Đ tài tình hình thế gii

Mt vn kiến thc rng, tri ra xuyên quc gia và mt trình đ tư duy, sâu sc, vch trn bn cht các s kin quanh co.

Đ/c đã vạch rõ bản chất của phát xít gắn liền với chiến tranh:

- “Những nước đối nội thì phản động, đối ngoại thì khiêu khích như thế người ta gọi là những nước phát xít.

Vì vậy, nên khi nào nói đến chiến tranh người ta liên tưởng đến phát xít. Phát xít và chiến tranh không bao giờ rời nhau. Những nước muốn phá hoại hòa bình của nhân loại, ngày nay chính là những nước phát xít.” (96 bài báo - Bài số 39)

 Và đ/c còn tiên đoán rất sáng suốt rằng cuộc chiến tranh sau này thế nào cũng hóa thành thế giới chiến tranh:

- “Lúc này, trên thế giới, quyền lợi các liệt cường đều dính líu với nhau và chằng chịt lấy nhau, chẳng khác nào một cái váng nhện. Vì lẽ ấy nên cuộc chiến tranh sau này thế nào cũng hóa thành thế giới chiến tranh” (96 bài báo - Bài số 39)

 Đ/c còn nắm vững tiểu sử và bản chất của những tên cầm quyền Pháp qua đó chỉ trích cách dùng người của chính quyền Pháp quốc - “Người ta to nhỏ nói đến những tên như ông Sa- ten, ông Grap- phơi, ông Pagie, và cả - ôi ngạc nhiên- ông Payruytông nữa, một vị quan có não phát xít mà bây giờ người ta định giao cho trọng trách cầm tay lái chiếc thuyền Đông Dương đang bị kình ngạc phát xít Nhật bao vây.” (96 bài báo - Bài số 41)

 và gợi ý chính sách cai trị của Pháp ở Đông Dương:

- “Trong tình thế ngày nay, đưa đến cho dân chúng một ông Toàn quyền nhân từ bác ái là một sự cần. Nhưng cải cách cái chế độ cai trị cái xứ này lại là một sự cần hơn nữa “(96 bài báo - Bài số 41)

 Đ/c hiểu sâu sắc thế giới tư bản trong bài số 49, tác giả ghi lại đầy đủ các chi tiết về sự nghiệp làm giàu của ba ông vua dầu lửa, (Catman, Rôccơphelơ, Đêtectinh ), và với một giọng văn rất sinh động pha chút trào phúng, rất hấp dẫn, đ/c đã vạch rõ các mánh khóe cạnh tranh của họ để lật đổ nhau, để cướp giật tài nguyên của các quốc gia, đặc biệt là gây chiến tranh tàn khốc để giành giật, cướp đoạt “cái chất nước có mùi hôi” ấy. Trong đó có những chuyện bí hiểm, kỳ thú như: chàng thám tử người Anh, Rayly, lừa Đacxy đoạt được tờ điều ước khai mỏ dầu của vua Ba Tư ký; việc nữ gián điệp Ghetct’ruydơ Ben, thạo tất cả các thứ tiếng Arập, suốt mấy tháng cưỡi lừa đi khắp nơi mua chuộc các tù trưởng, và tôn Phâyxan lên làm vua. Ông này hàng phục Anh, trao cho Anh toàn quyền khai thác, điều hành đất nước, mình làm vua bù nhìn, nhận mỗi tháng 4 triệu đồng (!).

 Đồng chí đã vạch ra hàng ngàn mưu mô, mánh khóe, thủ đoạn của những tập đoàn tư bản lũng đoạn và cuối cùng kết luận: “Vậy đó, các nước lớn đánh nhau để cướp của cải, dầu, than, sắt, kẽm, đồng, bông,… Hàng trăm, hàng nghìn người lính Tây, lính bản xứ, thợ thuyền hàng ngày bỏ xác để làm giàu, làm mạnh cho các ông chủ nhà băng, ông chủ xưởng. Song trong cuộc đấu tranh ấy, biết bao nhiêu của cải bị phá hủy, dầu bị dốt cháy, mỏ bị sập, đồng áng bị phá phách.” “(96 bài báo - Bài số 49)

Qua việc tổng thống Mỹ Rôdoven lên án các nước phát xít, đ/c ghi nhận mặt tốt, nhưng đồng thời đ/c chỉ ra mặt thứ hai đàng sau đó là quyền lợi của nước Mỹ. Đ/c tỉnh táo nhắc nhở chúng ta “ khi nghe các ông đại tư bản nói chuyện nhân đạo thì cũng phải hỏi vì sao mà có thái độ nhân đạo ấy để khỏi sai lầm về sau”:

 “Lần này tổng thống Rôdơven đã lên án các nước phát xít, đã vạch mặt nạ bọn giết người vô cớ xâm chiếm những nước không gây gổ gì với chúng cả; vô cớ chém giết nhân dân không dự vào chiến tranh bao giờ; vô cớ bắn vào các tàu buôn ghe đánh cá; vô cớ đã dẫn nhân loại vào con đường chiến tranh thảm khốc vô cùng…”

“Tuy vậy, chúng ta phải nên để ý, sau những câu nhân đạo và công lý của Rôdơven, vẫn ẩn núp cái quyền lợi của Mỹ ở Tàu bị bọn quân Nhật mon men đoạt cướp. Ngày xưa, Uynxơn tuyên bố thuyết dân tộc tự quyết, rồi đến hội nghị Hoa Thịnh Đốn, qua hiệp ước Kenlôgơ, bao nhiêu cái chánh sách tử tế đối với Tàu không ngoài cái lý do đánh đổ quyền lợi của Nhật ở Tàu đi để mình giữ lấy phần thắng. Cho nên khi nghe các ông đại tư bản nói chuyện nhân đạo thì cũng nên hỏi cái lý do vì sao mà có thái độ nhân đạo ấy, có thế mới tránh những sai lầm về sau” (96 bài báo - Bài số 55)

Riêng một chủ trương bất can thiệp, đ/c vạch ra bản chất lèo lá của từng nước tư bản che dấu đàng sau đó:

“Chính sách bất can thiệp với Tây ban Nha là một chính sách gian trá. Dùng chữ bất can thiệp để chỉ thái độ của liệt cưòng đối với nội chiến Tây Ban Nha thật không đúng chút nào hết. Do nơi miệng của Hitle và Mutxolini thốt ra thì bất can thiệp nghĩa là, chỉ có “chúng ông mới có quyền can thiệp”. Do nơi miệng nhà ngoại giao Hồng mao (Anh) thì nó lại có cái nghĩa: “Ai can thiệp mặc ai, chúng mình đừng can thiệp”. Do nơi miệng người Pháp thì, oái ăm thay- bất can thiệp lại nghĩa là trói tay phái dân chủ!

Chính sách bất can thiệp, như người ta đã thi hành từ trước đến nay và người ta đương thi hành đó, thật là một chánh sách nhượng bộ và đầu hàng. Kết quả chỉ giúp cho bọn phát xít được thêm vây cánh, để cho chúng kéo dài sự áp bức dân chúng, để cho chúng chiếm những vị trí trọng yếu, để giành phần thắng lợi trong cuộc chiến tranh do chúng gây ra sau này, để cho chúng kéo nhân loại lui về thời đại dã man mấy trăm năm về trước.” “(96 bài báo - Bài số 56)

2.4. Th loi đc hiu- biếm văn

Sự phân chia này có tính quy ước và chỉ có giá trị tương đối.

2.4.1.Thế gii nhân vt ca biếm văn

*Mấy ông dân biểu

- Vô trách nhiệm, tham tiền:

- Hút xách, cờ bạc

- Tham nhũng của công

- Gian lận trong bàu cử

* Mấy ông chủ bút báo:

- Nịnh Tây, nịnh quan trên

* Các quan tỉnh, Cụ Thượng, quan Bố, quan Án, quan Phán, quan Đề, thầy Thừa, thầy Đội,….: toàn một bọn hèn nhát, nô lệ Tây, sợ Tây và cả chó Tây

*Một vị hoàng phái nam, gọi là “mệ”, kênh kiệu, rỗng tuyếch, diễn thuyết ở Viện dân biểu, về một đề tài to lớn “Vấn đề Thái Bình Dương”, “bằng một dọng các mệ đúng 100%”

*Một Ủy ban điều tra người Tây từ Tây sang: lừa dối dân Nam

*Chương trình phòng thủ: vạch trần sự bất tài, mà thích huyênh hoang rỡm, cùa quan lại Huế: lực lượng phòng thủ là các ông đồng bà đồng khăn chầu áo ngự lòe loẹt và đội âm binh hàng mã.

*Chủ trương mặc triều phục áo gấm: xa xỉ mà không khả thi.

2.4.2. Ngh thut ca biếm văn

Ba mươi bảy bài biếm văn trên đây là ba mươi bảy kiểu dạng khác nhau, mà mỗi bài lại lôi cuốn người đọc từ phút đầu tiên cho đến giây cuối cùng. Sau đây là một số trường hợp tiêu biểu:

“Con chó ca c s hay dân ăn tin quan”.

(96 bài báo - Bài số 86)

 Ngay đầu bài đã gợi tò mò. Ở cái xứ phong kiến thuộc địa này, người dân nô lệ nhiều tròng, chỉ có quan ăn tiền dân, làm sao mà dân ăn được tiền quan, thật là lạ đời. Mà theo chú thích được ghi ở trong bài “Chuyện này bảo đảm có sự thật 100%”.

Câu chuyện được tác giả dẫn dắt từ chuyện lạ, buồn cười này đến chuyện lạ, buồn cười khác.

- Một tỉnh ở Trung Kỳ có cụ Sứ nuôi con chó giống Tét nơ (Terre Neuve), to xấp xỉ bằng con bò con. Cụ Thượng qua chơi cụ Sứ, vuốt ve con chó để lấy lòng chủ. Bất ngờ, cụ Sứ tặng cụ Thượng con chó quý.

- Cụ Thương cay đắng mang con chó về và buộc phải chăm sóc nó theo lời chủ cũ dặn. Mỗi ngày ít nhất 2 kg thịt bò, tối cháo phổi lợn, ngày nào cũng phải tắm xà bông thơm và cho nó chạy để tiêu cơm.

- Nuôi được một tháng, cụ Thượng bức bối quá nghĩ mẹo gửi qua quan Bố.

- Được 15 ngày, quan Bố phải chuyến qua quan Án

- Quan Án chỉ nuôi được 10 ngày.

- Nguy hiểm là mới gần 2 tháng mà con chó gầy giơ xương. Cụ Sứ mà trông thấy thì chết cả lũ

Các quan tỉnh đều lo sợ chó đến tay mình.

Kết thúc đột ngột là cụ Thượng lừa một “thằng dân” cho nó con chó “để chăn bò”. Ông dân này tinh ma, nói, chó này chỉ “ăn bò” thôi. Cụ Thưởng phỉnh: “Thế thì cho mày thịt nó đi”. Ông dân lại làm cao: “Giống chó Tây tanh lắm”. Cuối cùng cụ Thượng phải đút lót cho “thằng dân” năm đồng bạc Đông Dương.

Đánh tráo khái nim “mt n” đ đ kích nhng k la đo, di trá.

(96 bài báo - Bài số 92)

“Còn chuyện mặt nạ ở thành Bari người ta đã phát cho dân rồi., nhưng ở đây không thiết lắm. Vì mặt nạ thì ở mình đây đã nhiều người có rồi. Xin kể ra đây một vài biểu hiện thông dụng:

Mặt nạ quốc gia (miệng nói theo quốc gia chủ nghĩa mà trong lại bán nước mà ăn)

Mặt nạ nhân đạo (bộ tịch cho đến lời ăn tiếng nói, nhân đạo lắm, mà trong bụng chỉ lo chuyện bóp cổ dân)

Mặt nạ xã hội (thề sống thề chết theo lời đảng, vào đến nghị trường đã lo trở giáo như một vài ông nghị ở Bắc Kỳ)

Mặt nạ cách mạng (nói và viết cực kỳ “tả”, mà lại chia rẽ để phá hoại lực lượng dân chúng.

Mặt nạ trung lập (ở ngoài thì tuyên bố không đảng phái, mà trong tối lại kéo bè kéo cánh để chửi bới lung tung)

      …

     Dùng phép chơi ch - “Dân” đ nói vai trò ca nhân dân.

      (96 bài báo - Bài số 94)

 “Dân có hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu, vô số, muốn mây thì mấy. Này, à thử nghe nhé:

Dân là một, dân tiến là hai nhé, dân thanh là ba nhé, dân nguyện là bốn nhé, dân chúng là năm nhé, dân ý là sáu nhé, dân chủ là bảy nhé, dân quyền là tám nhé,v.v …

Nói đảo ngược thì nào là tân dân, quốc dân, cường dân, lao dân, bình dân, nạn dân,v.v…

Nếu bộ tự vị Tàu mà hết chữ thì đã có tiếng mẹ đẻ mình, tiếng An Nam đó. Này: dân kêu, dân cười, dân đi, dân chơi, dân bíu, dân la, dân khóc, dân hét, dân dậy,.v.v…

Dân có vô số. dân ở đâu cũng có. Dân trăm hình vạn trạng. Dân sống mãi. Dân tiến mãi”

Ch ra s khác nhau gia cái cười ca quan và dân.

(96 bài báo - Bài số 78)

“Những xứ như xứ này, người ta chỉ nghe tiếng cụ cười, tiếng quan cười, nhiều hơn tiếng dân cười.

Tuy vậy, trong những buổi yến tiệc suốt ngày, chiếu bạc thâu canh, tiếng quan réo như pháo nổ, thì trong lũy tre xanh, trong đồn điền hầm xưởng, dân khóc ra mặt, rồi cũng phải tươi cười.

Nhưng cái cười của quan khác với cái cười của dân nhiều lắm.

Quan cười như bắp rang, như bánh tráng rán, như hoa đào nở. Gặp người trên quan cười mị; gặp chị hầu non, quan cười tình, gặp bạn đồng liêu quan cười ria mép; gặp thằng dân đỏ, quan cười tỏi, cười hành. Thiệt quan cười trăm cách mà không cách nào giống cách nào.

Chớ còn như dân, thì hẳn chỉ có một cách cười. Đố anh biết cách gì? Cách cười ra nước mắt gừng vậy thôi.”

 

Chương trình phòng th Huế, chng quân Nht bng âm binh

      (96 bài báo - Bài số 87)

“Tàn quân thua liểng xiểng, phải chạy về đến phố Lở, chùa Ông định nghỉ …Liền một phát súng rơm nổ. Một nữ tướng vọt ra, đứng trên mạn thuyền, mình mặc áo vàng theo kiểu đàn ông, vai mang kiếm, tay cầm song đao, sau lưng có cây cờ hiệu với 4 chữ: “Thiên y Thánh mẫu”.Ai cũng biết là bà cụ Thượng nổi danh ăn hiếp chồng. Bà dẫn đạo âm binh từ trên điện Hòn Chén đưa về theo chương trình mai phục ở đó.

Bà hét lên một tiếng thì các ông quân mường, quân mọi, quân chín, quân mười, ông ngã ba đường cái, bà thủy, bà hỏa, cô nàng, kéo nhau ra, ôi thôi, nào chùy, nào kiếm, nào đao, nào cung, đánh chém, đâm đuổi, địch quân chết lăn chiêng như kiến cỏ, không còn một tấm mén nào sống sót.

Thế là ta dụng chước “động như thoát thố” và đã thắng trận một cách phi thường. Trăm họ sẽ ca khúc khải hoàn và lo bề an cư lạc nghiệp.”

2.4.3. Ngôn ng.

Trong biếm văn, ngoài ngôn ngữ thông dụng là văn xuôi, nhiều loại ngôn ngữ khác như thành ngữ, tục ngữ, thơ ca, vân vần dân gian,…được dùng xen kẽ.

- 2.4.3.1.Thành ng và tc ng

*2. 4.3.1.1.Nguyên dạng

+ Người ta thường bảo nhau: lão ấy “bo hoàng hơn nhà vua

nữa (96 bài báo – bài số 75)

 + “Còn mấy anh chị khác thì cũng vui vẻ, chứ không đến nỗi gặp các “ông chú m o nhn mm”, miễn là ông Cảnh ăn ở cho phải đạo làm dâu, nghĩa là đừng ăn vụng, nói thầm là được” nữa (96 bài báo - tr.380- 381)

 + Ông T.N.T.khi ra ứng cử đã đọc cho dân Quảng Ninh, Lệ Thủy nghe một bảng chương trình mấy trang đặc sệt, toàn là chuyện ích quốc lợi dân. Có nhiều người nghe, đến bây giờ đương còn ngớp mắt…Nói “mười voi không được bát xáo” (96 bài báo - Bài số 67)

+ “Đằng này, có ông ba hoa đưa cái chuyện “trng cây sng, bng cây chết” trên mặt báo, ngang nhiên, tự thị, trước mấy ngàn con mắt độc giả, như kẻ “múa gy vườn hoang”. Cái lối lì lợm ấy, K.Đ. tôi thật phục sát đất”. (96 bài báo – Bài số 83)

 + ”Ô hô! Ô hô! Ủy ban điều tra! Ủy ban điều tra! “Sinh bt phùng thi, t vô đa táng”, làm cho dân xứ này dở khóc, dở cười, nhìn nhau méo mặt” (96 bài báo – Bài số 78)

 + Vì thế cho nên tục ngữ có câu: “chó Thánh sa tiếng Thánh” ” (96 bài báo – Bài số 75)

 + Tràng An bảo hoàng hơn cả Patrie annamite. “Va đánh trng va ăn cướp” (96 bài báo - Bài số 76)

 + Những cái ghế “ma chê qu hn” ai nghe đến cũng chạy cả ((96 bài báo - Bài số 74)

 + Không phải dân trọng các ông “b nng chng tri, gp trăng dưới nước” (96 bài báo - Bài số 17)

 + Chớ còn báo Dân đó, có lão K.Đ.tuy nói cà xấc và “ngng ngng như cng th công” (96 bài báo - Bài số 85)

+ Cụ Thượng từ cũng khó từ, lãnh cũng khó lãnh, “đng cay như ngm qu b hòn”, cũng đành đưa cục nợ đời ấy về nhà vậy. (” (96 bài báo - Bài số 86)

 + Có thằng dân kia lại vào hầu kiện, cụ lớn như “ánh sáng xé mây”, đã tìm ra được một kế tuyệt diệu. (96 bài báo - Bài số 86)

 + “Tĩnh như x n, đng như thoát th (96 bài báo - Bài số 87)

 + Thiệt rầu quá “Con cua nói có, con v nói không”, đi lui đi lại xì ra một cái “đít cua” vô chủ. (96 bài báo - Bài số 91)

+ Các ngài lại lạ chi cái thói đời: “đen như mc, bc như vôi ấy.

(96 bài báo - Bài số 96)

*2. 4.3.1.2.Có chế biến

+ “Ô hô! Thiên ký sinh Qung há sinh cái b râu ca c c Hoàng” (96 bài báo - Bài số 90)

+ “Ngạn ngữ có câu: “ra đi là chết mt đi mt phn”. Ông T. B. V. đến bỏ Nghệ An mà đi, thế là ông chết không những một phần mà là nhiều phần lắm đấy. Than ôi!” (96 bài báo - Bài số 61)

+ ”K.Đ. tôi phục ông quá, ước gì sang năm báo Dân tôi ăn lễ tuổi, K.Đ tôi sẽ gửi tặng ông cùng cả tòa soạn báo Thời vụ, mỗi ông một cái mề đay “Bc đu bi dân” để các ngài đeo cho sướng, khoái chưa?” (96 bài báo - Bài số 83)

+ ” Cho biết chữ của Thánh Hiền dạy: “Hu sinh kh …gm mt” là phải lắm (96 bài báo - Bài số 75)

+ Có lẽ ông N. V. nghĩ: “Đã có chút thân (tý thôi) cùng tri đt, nên đ danh gì vi núi sông” (96 bài báo - tr.343)

*2. 4.3.1.3.Thành ngữ, tục ngữ mới

+ Nhưng ngó cũng có “bng công bng, có lòng nhân hu” lắm mà (96 bài báo - Bài số 85)

+ Hai cái tệ ấy đã làm người đại diện của chính phủ khi trả lời các bản thỉnh cầu, chỉ trả lời theo kiểu “xe la tc hành” qua chuyện thì thôi” (96 bài báo - Bài số 19)

2.2.Ngôn ng chuyên ngành (hu bóng):

“Bà hét lên một tiếng thì các ông quân mường, quân mọi, quân chín, quân mười, ông ngã ba đường cái, bà thủy, bà hỏa, cô nàng,… kéo nhau ra,…..” (96 bài báo - Bài số 87)

2.3.Thơ ca và văn vn

*2.3.1.Nguyên dạng

- Nào mời Cụ Cử và ông bạn “cá gỗ” đi làm việc kẻo trưa rồi. Nói xong, anh đọc luôn hai câu thơ Tú Xương:

Chuyn xưa nhc li nhiu câu thú,

Con tr xem chng lm đa ranh.” (Ngô Đức Mậu, tr.106- 197)

+ Bọn con nít nhà quê chúng tôi thường hát:

Ch ăn cá, em mút xương

Ch nm giường, em nm đt

Ch ăn mt, em liếm ve

Ch ăn chè, em liếm bát.

Té ra phận làm em cũng chẳng khác gì phận làm dân, chỉ rành cả đời mút xương, nằm đất, liếm ve với liếm bát. (96 bài báo - Bài số 78)

*2.3.2. Phỏng tác,

+ “Tưởng chng ba ch mà chơi ra

Bng chc nên quan đã sướng chưa?” (96 bài báo - Bài số 85)

+ “Phen này báo đã ra đi báo

Thi s lng, ra báo cn nhau” (Tản Đà)

Phỏng thơ Tàn Đà:

“Ví chăng báo thiệt ra đời báo

Thời sổ lồng, ra báo cắn ai”.

(96 bài báo - Bài số 95)

*2.3.3.Sáng tác

1. Li khuyên các c tri

Các cử tri ơi! Ở đời nhiều thứ nghị viên

Nghị thì giết heo đãi khách, nghị thì xuất tiền mua thăm.

Làm ông Nghị, trên thì đưa đãi sắt cầm, dưới thì phải tốn kém đến bạc trăm, bạc ngàn.

Các cử tri ơi! Lại nhiều ông Nghị nhờ quan.

Ép dân bỏ phiếu để được đội ơn cao dày,

Đánh lừa một hạng người ngay,

Mà mưu tư lợi cho dầy túi tham.

Các cử tri ơi! Nếu bọn này trúng cử ra làm

Thì một mai họ sẽ được phẩm hàm, giàu sang.

Họ mang chức tước về làng,

Họ xây nhà gạch, họ mang bài ngà.

Các cứ tri ơi! Họ có ngó gì đến quyền lợi chúng ta.

Sưu cao, thuế nặng, họ mà mất chi.

Đến kỳ hội nghị họ đi.

Họ chè chén, họ có nhớ gì đến đám bình dân.

Các cứ tri ơi! Em đây phận gái tảo tần,

Cái quyền bầu cứ chưa đến phần cái hạng nữ lưu.

Ngõ lời em hết sức yêu cầu

Cầm lá thăm cho xứng đáng phải biết bầu cho ai.

Các cử tri ơi! Vì ta, ta kiếm lấy người

 Rượu chè, cờ bạc, ta phải bỏ ngoài, xem khinh,

Sao cho xứng lá phiếu mình,

Bình dân trong nước còn đợi các anh đó mà.

Các cử tri ơi! Đúng như ai chè rựơu khề khà,

Đem thăm bán quách như tụi Chà và trong Nam,

 Đừng như ai, thấy bạc mà ham

 Một đồng, 5 - 7 cắc mà để tiếng tăm suốt đời.

Anh em ơi! Ghi lẩy mấy lời!

(GÁI QUÊ Báo SÔNG HƯƠNG, tục bản. SỐ 4, ngày 10- 7- 1937.

Bài số 63)

2. Góp... nht... chuyn tm phào,

Phen mô chứ phen ni, ông nghị xe tẩu N. Q. T., nguyên chí sĩ tiên sanh không muốn về xứ Quảng Nam nữa, vì ông cũng biết trước:

Mt phen ông ngh xách áo ra đi

Có v quê t, biết nói chi bây gi?

Nói hút sách, nói bc c

Dân xin ông xin ch x ngón oong đơ, thêm phi

(Mấy câu này hát theo điệu giã gạo Quang Nam, nghĩ hay đáo để)

(Báo SÔNG HƯƠNG, tục bản. Số 4, ngày 10- 7- 1937. Bài số 63)

3.“Cua” ai đem b vin này

(“Cua” từ chữ discours, tiếng Pháp có nghĩa là diễn văn)

K.Đ. thy tình cnh y cm kích quá mà ngâm rng:

a, a “cua” mô mà l ra?

C Li va nghe toát m hôi

Ông Cnh nhìn qua càng ngã ngữa

C Vin trưởng đc thêm ú

Quan khách nhìn nhau càng b ng

Vin nói rng “cua” trước khác “cua” sau

B cãi: mt chm, mt câu cũng không sa

Than ôi! Vic đi quá lôi thôi

“Cua” năm ngoái đã mt ri

“Cua” năm nay càng mt na

K.Đ. tôi vn k n, người dưng

Nhưng mi nghe qua cũng hơi a vía.

 (Viết theo điệu thơ mới)”

 (K.Đ. Báo Dân số 19, ngày 30- 9- 1938. Bài số 91)

+ “K.Đ. tôi vốn không phải thi sỹ, nhưng đối cảnh sinh tình, cũng phải ngâm rống lên mấy câu:

4. Tết Tây bun lm ch em ơi

Ch li qua sông đã biết ri

Ví th ngày mai tri lp quách

Sang năm con biết món chi coi” (96 bài báo - Bài số 84)

(K.Đ.Báo Dân số 4 ngay 29- 7- 1938)

+ “Một đại thi sỹ nọ cảm hứng đã ngâm mấy câu thơ:

Nhy đm ăn tic, ông Tây sướng

Liếm cho, leo đu, đa tr

Tri nng, li riêng phường chó chết

Bi lm, khó chết lũ buôn xe” (96 bài báo - Bài số 84)

5. Ý kiến mt người dân.

Cùng các ông Nghị,

Tranh ghế nghị viên mòn túi bạc,

Quay vào thường trực để xoay xu

 Nhưng nghị trường có kẻ trí, có người ngu

Đâu có phải rặt một đám lu bù vì danh lợi.

Ngày họp hội đồng nay sắp tới,

Các nghị tồi họ mớỉ trở đủ tải hay,

Nào nghị nghiền, nghị gật, nghị nhảy, nghị say,

 Nghị cờ bạc, nghị giơ tay hùa với chúng

 Các thứ nghị ấy là nghị viên lợi quyền dân (?).

Nếu xét mình hèn nhát chẳng nên thân.

Thì khuyên chớ ra tranh phần thường trực.

 Đừng thấy đồng tiền to mà ức,

Máu mủ dân nuốt ực dễ gì đâu?

Dân chúng tôi thành thực yêu cầu:

Bọn bợ đít, hoạt đầu và lòn cúi,

Ra ứng cứ, xin quý ngài thẳng tay đánh đuổi

 Quyết một lòng đng cử tụi ấy làm chi,

Chúng tôi xin nói “mét xì”

(Báo SÔNG HƯƠNG, tục bản. Số 12, ngày 7- 10- 1937. Bài số 77)

Nhn xét v ngôn ng ngh thut ca biếm văn

Về ngôn ngữ nghệ thuật, chúng tôi đã liệt kê được, qua phần biếm văn, rất nhiều kiểu: thành ngữ và tục ngữ, ngôn ngữ chuyên ngành, thơ ca và văn vần dân gian,…Trong số đó xét về xuất xứ có loại nguyên dạng, có loại chế biến, và có loại sáng tác. Các kiểu ngôn ngữ trên hấp dẫn, thú vị và có sức thuyết phục vì:

- có vần, nhịp điệu, hình ảnh;

- một bộ phận được đúc kết và lưu truyền lâu đời trong dân gian, rất gần guĩ, thân thiết với dân chúng, trở thành chân lý mặc nhiên, không phải chứng minh.

Nhà báo Phan Quang đã rút ra nhận xét tương tự: “Phan đăng Lưu uyên thâm cả về Hán học, Tây học, song văn của ông không mang tính bác học mà bao giờ cũng bình dị. Đọc lại 400 trang tuyển tác phẩm báo chí của ông, (Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu, tiểu sử, tác phẩm, NXB Thuận Hóa, 1998), hầu như không hề thấy ông sử dụng điển cố Đông Tây, hơi văn thường thoải mái, giọng điệu bình dân, mà không kém phần trí tuệ. Tôi nghĩ, có lẽ một phần do hoàn cảnh phải đối phó với nhà cầm quyền thực dân và bươn chải để sống nhờ độc giả, song cái cơ bản hơn, sâu xa hơn, chắc chắn là xuất phát từ căn cốt một nhà cách mạng liên hệ máu thịt với nhân dân lao động.”[61]

Đúng là đ/c Phan Đăng Lưu là “một nhà cách mạng liên hệ máu thịt với nhân dân lao động”, nên đã dạy nhà thơ Tố Hữu “lấy ngôn ngữ quần chúng” và bản thân mình đã thực hiện như vậy.Đây là ý kiến của Tố Hữu:

“Chính anh (Phan Đăng Lưu), một hôm bảo tôi:- Thế thì cậu cứ dấn lên! Chỉ có điều là phải chú ý: hãy ở gần với đời sống, với quần chúng lao động, với công nhân, với nông dân. Cậu phải lấy ngôn ngữ của quần chúng, cậu phải viết dễ đọc, dễ hiểu và đừng quá dài, chớ có khó…” [62]

III. Tiu kết

1.“ đ/c Phan Đăng Lưu, s nghip cách mng luôn gn bó hu cơ vi s nghip báo chí và văn hóa- văn ngh. Nếu làm cách mng gii phóng dân tc, phc v nhân dân là mc tiêu lý tưởng cao đp nht ca đng chí, thì s dng báo chí và văn hc đến tm sâu bn cht nhân văn li là vũ khí sc bén hu hiu đ thc hin mc tiêu lý tưởng cao đp y. mi quan h nhân qu này, s nghip báo chí, văn hc ca đng chí có giá tr lý lun và thc tin sâu sc đ trên đó góp phn xây dng nn móng ca văn hc cách mng, khái quát nhng quan đim khoa hc, ca nhng người cng sn Vit Nam, v trí thc, v văn ngh s và nn văn hc ngh thut; m đường cho văn hc ngh thut phát trin.”[63]

2.Cuộc đời và hoạt động của đ/c Phan Đăng Lưu rất phong phú đa dạng và luôn luôn sôi động: 39 năm tại thế, 18 năm cách mạng, hơn 7 năm tù đày,….Trong số đó, thời gian trực tiếp đấu tranh báo chí không nhiều (1936- 1939), nhưng đ/c đã đóng góp to lớn cho Cách mạng. Riêng về nghề báo, đ/c đã đóng góp to lớn về “tư duy báo chí”, “phong cách làm việc” (Phan Quang) và kỹ thuật, ngôn ngữ, nghệ thuật làm báo. Sau đây là ý kiến của nhà báo Phan Quang về vấn đề trên.:

“Quãng đời hoạt động của Phan Đăng Lưu với tư cách là nhà báo với nội dung trọn vẹn của hai từ ấy, như đã nói, không dài. Nhưng đó là những năm tháng gặt hái được nhiều kinh nghiệm, mở rộng thanh thế của báo chí cách mạng, gây ảnh hưởng to lớn trong nhân dân, trước hết là trong các tầng lớp trí thức, công chức, học sinh. Tư duy báo chí cũng như phong cách làm việc của ông rất đáng cho các nhà báo chúng ta ngày nay học tập, suy ngẫm.”[64]

 3. Đúng ra về báo chí của đ/c Phan Đăng Lưu, như trên đã ghi, có nhiều đề tài, và văn chương báo chí của đ/c thay đổi bút pháp, phong cách theo đề tài:

- Tố cáo hành động dã man của kẻ địch ở nhà tù thì chọn những tội ác tiêu biểu nhất, ghi rõ thời gian, địa điểm, tên những người bị hại, “khi cần ngòi bút của ông sắc như gươm” (Phan Quang). Nhờ thế mà nhiều phen chúa ngục phải thua, ví dụ cuộc tuyệt thực 8 ngày ở nhà tù Buôn Ma thuột;

 “…Chiều hôm ấy, tên giám binh và bác sỹ Cô- ly- nô vào, có một số cai đội người Đê đi theo. Với thái độ ôn hòa, tên Công sứ hỏi lại nguyện vọng, anh em kể lại rõ ràng từng khoản một. Hắn nhận tất cả và hứa sẽ giải quyết đầy đủ. Nói xong chúng cho lính tháo cùm và khuyên anh em ăn dần dần, không nên ăn nhiều có hại vì vừa nhịn đói lâu ngày.”[65]

- Về tình hình thế giới thì tri thức mênh mông trải ra trên toàn cầu, qua một sự kiện, có nhiều sự kiện liên quan được dẫn để minh chứng. Đặc biệt, đ/c đã vạch ra bản chất được dấu kín, ngụy trang dưới vỏ hòa bình, dân chủ, nhân đạo,…của các hành động của bọn tư bản, đế quốc, phát xít.

- Khi kể chuyện thì từ chỗ đặt tên, đến lời mở đầu đều đưa ra mâu thuẫn, chỉ ra vấn đề lý thú, lôi cuốn người đọc từng bước cho đến kết thúc là cởi nút.

- Biếm văn là một thể loại đặc hiệu, có những điểm riêng như đã nêu ở trên đây.

4. Ở phần mở đầu, chúng tôi đã nêu lên sự đóng góp to lớn của đ/c Phan Đăng Lưu về nhiều mặt. Riêng về báo chí, đ/c là “một là một chiến sỹ tiền phong”:

“Không chỉ là một nhà tổ chức, nhà lãnh đạo xuất sắc, đồng chí Phan Đăng Lưu còn là nhà báo, nhà lý luận sắc sảo, một chiến sỹ tiên phong của nền báo chí và văn học cách mạng Việt Nam”[66]

Tôi đồng ý với PGS.TS Nguyễn Thế kỷ: “Trong trang sử vàng của cách mạng Việt Nam, báo chí Việt Nam, Phan Đăng Lưu có một vị trí đáng kính trọng. Ông mãi mãi được nhớ đến, được ghi công như là một lãnh tụ xuất sắc của Đảng ta, nhân dân ta, một nhà báo trung kiên, ưu tú.”[67]

Tuy nhiên, về sự nghiệp báo chí của đ/c Phan Đăng Lưu, chúng ta nghiên cứu được quá ít, cần phải bỏ nhiều công phu hơn nữa:

“Sự nghiệp báo chí của Phan Đăng Lưu rất cần được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu sâu sắc và toàn diện hơn.”[68]

KT THÚC

1. Kết lun

Ở phần trên, chúng ta đã đi qua 5 chương:

- Chương th nht: Sơ lược cuộc đời và tiểu sử đ/c Phan Đăng Lưu- những điều ít được công bố.

- Chương th hai: Đ/c Phan Đăng Lưu với sự nghiệp chuyển hướng chiến lược của Đảng.

- Chương th ba: Công việc bồi dưỡng tri thức chính trị- kinh tế học cho cộng đồng của đ/c Phan Đăng Lưu.

- Chương th tư: Công việc giáo dục lòng yêu nước qua “Thi văn các nhà chí sỹ Việt Nam”.

- Chương th năm: Đ/c Phan Đăng Lưu và sự nghiệp đấu tranh báo chí.

Qua đó, chúng ta có thể rút ra một số điểm tóm tắt về đ/c Phan Đăng Lưu như sau:

Đ/c là “một trí tuệ uyên bác” (Tố Hữu), là “trí thức cách mạng tiêu biểu” (Lê Duẩn), “là một trí tuệ, một nhân cách” (Võ Nguyên Giáp), giác ngộ chủ nghĩa Cộng sản; đã đảm nhiệm xứ ủy Trung kỳ, trung ương ủy viên, rồi Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi đ/c Nguyễn Văn Cừ bị bắt (17- 1- 1940) đ/c Phan Đăng Lưu đảm đương công việc Tổng bí thư/ Bí thư trung ương. Sau khi đ/c Võ Văn Tần, Trung ương ủy viên cuối cùng bị bắt (21- 4- 1940), đ/c Phan Đăng Lưu tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, giành nhiều thắng lợi. Ở hội nghị VII, đ/c từ chối nhiệm vụ Quyền bí thư, giới thiệu đ/c Đặng Xuân Khu, lúc bấy giờ là xứ ủy viên Bắc Kỳ, để mình nhận đi vào chỗ “sớm muộn cũng bị địch bắt” (lời đ/c Phan Đăng Lưu)

Cuộc đời hoạt động của đ/c rất phong phú, đa dạng, sôi động:

- từ bỏ đời làm cán sự kỹ thuật canh nông “vinh thân phì gia”, dấn thân vào hoạt động cách mạng gian khổ và hiểm nguy, 18 năm, từ đảng Tân Việt đến đảng Cộng sản;

- 7 năm bị tù ở Buôn Ma Thuột;

- thời kỳ Mặt trận dân chủ, đ/c đã vận động và lãnh đạo công cuộc đấu tranh trong và ngoài Viện dân biểu Trung kỳ, rất thắng lợi;

- đã vận động và lãnh đạo có kết quả phong trào mặt trận thống nhất phản đế 1936- 1940.

Về tri thức, đ/c uyên thâm văn hóa Á đông, đã qua 10 năm đèn sách, thông thạo tứ thư ngũ kinh, “đã đi thi hương cùng các cụ chống gậy, khi còn để tóc trái đào” (lời cụ thân mẫu); và về sau, lưu loát Trung văn, nhờ đó đ/c đã đóng vai người Hoa để hoạt động ở Chợ Lớn; uyên bác văn hóa Âu Mỹ, qua tiếng Pháp (rất giỏi, “tự vị sống”) và tiếng Anh; giỏi cả tiếng Ê đê.

Ngoài ra đ/c giỏi bơi lội, leo trèo, viết chữ Hán rất đẹp, được bà con Nam Bộ tôn là “ông đồ mỹ tự” (theo nhà văn Sơn Tùng).

Về tính tình, đ/c rất điềm đạm, giản dị, cởi mở, vui vẻ, hài hước, thân thương, có sức thuyết phục cao đối với mọi tầng lớp, kể cả từ tên cướp ở Ninh Hòa- Phú Yên, đến các vị đại thân sỹ và thượng lưu trí thức.

Với một cuộc đời như vậy, đ/c Phan Đăng Lưu đã hy sinh vì Tổ quốc, tại pháp trường thực dân, phong kiến, ngày 26- 8- 1941, lúc 39 tuổi đời.

*

Đ/c Phan Đăng Lưu là một người mà trí tuệ, tài năng, đạo đức, phẩm chất,… hiếm có. Đ/c đã để lại cho chúng ta một tấm gương sáng ngời, và một kho tàng kinh nghiệm vô cùng quý báu về nhiều mặt:

- cùng tập thể, chủ động vạch ra đường lối chuyển hướng chiến lược sáng suốt năng động, sau Xô viết Nghệ Tĩnh thất bại, và chỉ đạo vận động thực hiện thắng lợi,

- tham gia và lợi dụng các tổ chức công khai của địch để đấu tranh giành quyền lợi cho nhân dân,

- đấu tranh trong nhà tù đế quốc,

- chuẩn bị bạo lực cách mạng để giành lại độc lập, tự do, từ tay chính quyền địch; chuẩn bị cho giai đoạn tiền CM và CM tháng Tám,

- sử dụng công cụ văn chương và báo chí để đấu tranh cách mạng.

2. Đ/c Phan Đăng Lưu là một trí thức, có trí tuệ uyên bác, đã từ yêu nước, căm thù bọn xâm lược, thương dân; cháy bỏng quyết tâm cứu dân, cứu nước, đi đến giác ngộ chủ nghĩa cộng sản; về mặt tổ chức, đ/c đã đi từ đảng Tân Việt đến đảng Cộng sản.

Đi vi k thù:

Trong hoàn cảnh nào, môi trường nào đ/c cũng đánh bại âm mưu của chúng, giành lại thắng lợi cho cách mạng; trong đó có thể kể đến hai môi trường tiêu biểu có tính đối lập:

- Ở nhà tù Buôn Ma Thuột, man rợ vào loại nhất, đ/c đã đánh bại cơ bản âm mưu dùng người Thượng để giết hại tù nhân người Kinh; đã tố cáo được chế độ nhà tù dã man; đã giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh tuyệt thực 8 ngày,….

- Thời kỳ Mặt trân dân chủ  ở Trung Kỳ, đ/c đã thành công trong đấu tranh báo chí, “tham gia bầu cử, lợi dụng nghị trường” đem lại kết quả 100%.

Đi vi cách mng:

Trong những khúc quanh, bước ngoặt của lịch sử, ở những thời điểm nhiều sự kiện, nhiều thái độ đối lập nhau phức tạp, lẫn lộn trắng đen, đúng sai,…đ/c đã phân biệt đúng sai môt cách rất rạch ròi, sáng suốt, và vô cùng chính xác.

Có thể kể một số trừờng hợp sau đây:

- Dứt khoát hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ, trong hoàn cảnh không khí xung quanh, sôi nổi, rạo rực, quyết liệt yêu cầu nổi dậy. Sau đó, qua ý kiến của Hội nghị Trung ương VII và qua thực tiễn, khởi nghĩa bị dìm trong bể máu, và sự nhận khuyết điềm, kỷ luật của các đ/c xứ ủy Nam Kỳ,…chứng tỏ chủ trương hoãn là rất sáng suốt.

- Đ/c rất tích cực và chủ động trong công cuộc chuyển hướng chiến lược của Đảng, nhờ sự chuyển hướng này, Đảng ta, dân tộc ta từng bước giành được thắng lợi cho đến đại khải hoàn là cách mạng tháng Tám.

- Hội nghị Trung ương VII là hội nghị được mở ra do đ/c Phan Đăng Lưu sáng kiến, móc nối, triệu tập, chủ trì, trình bày báo cáo và tổng kết. Hội nghị đã giải quyết được ba nhiệm vụ lớn là:

+ Tái lập Ban chấp hành, từ chỗ chỉ có một mình đ/c Phan Đăng Lưu là ủy viên chấp hành kiêm ủy viên Thường vụ.

+ Cử đ/c Đặng xuân Khu làm quyền Tổng bí thư.      

+ Chuyển địa điểm Trung ương từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ.

Những chủ trương lớn này đã cứu vãn Đảng về mặt tổ chức.

Tóm lại, đ/c Phan Đăng Lưu là một người lãnh đạo KIÊM TOÀN NHÂN, TRÍ, DŨNG. Thiết tưởng, chế độ nào, triều đại nào cũng cần minh quân.

2. Kiến ngh

Xin lấy lời đại tướng Võ Nguyên Giáp làm kiến nghị:

"Tôi là lớp đàn em, học trò của Phan Đăng Lưu. Anh Lưu là người cộng sản lỗi lạc, mẫu mực. Cần làm cho mọi người dân, nhất là thế hệ trẻ hiểu biết rõ hơn về một con ngưòi, một trí tuệ, một nhân cách đã có những đóng góp lớn cho cách mạng Việt Nam, để phấn đấu tu dưỡng rèn luyện theo gương Bác Hồ và những chiến sĩ cách mạng tiền bốì như Phan Đăng Lưu"[69] [70]

3. Nhng d kiến đành đ li cho đi sau

Đồng chí Phan Đăng Lưu, một khối lượng tri thức đồ sộ, một bộ não cường ký hiếm có, một trí tuệ năng động và sáng suốt tuyệt vời, một lối sống hết sức gần gũi, thân thương,…; đã phải ra đi lúc mới 39 tuổi đời, gác lại bao nhiêu dự kiến tốt đẹp về dân tộc, về nhân dân và Đảng; về các vấn đề đường lối chiến lược, kinh nghiệm đấu tranh, xây dựng đội ngũ,…ai mà biết được.

Duy chỉ có về sưu tầm sáng tác, nghiên cứu, tư liệu còn để lại rõ, ngoài các tập Thi văn các nhà chí s Vit Nam tp sau tp I, đ/c còn dự định biên soạn:

- Ngc Buôn Ma Thut với đ/c Lê Văn Hiến [71]

- Vit Nam cn đi cách mng gin s cùng đ/c Trần Huy Liệu1

Chúng ta tin rằng nếu còn thì giờ dương thế, đ/c Phan Đăng Lưu ắt hoàn thành khẩn trương, với chất lượng cao các dự kiến trên, như đã được chứng minh trong cuộc đời của đ/c, mà chúng ta đã biết.

Nhưng rồi “sự hốt nhiên trung bại” (Trần Hữu Lực), do đó, ngày nay, chúng ta phải tiếp bước, để góp phần an ủi hương linh tiền nhân./.

          

 Hà Ni, 16h, ngày 8 tháng 8 năm 2016

P.Đ.N

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

- Bùi San (1978): Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 04 (181) tháng 7 và 8 năm 1978.

- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập.

- Đinh Xuân Lâm (2010): Về thông tin “Phan Đăng Lưu là Ủy viên Trung ương Đảng từ 1939 đến 1941 và cũng trong thời gian này là Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Trung ương Đảng”, Văn hóa Nghệ an, số 170 ngày 10- 4- 2010.

- Hoàng Quốc Việt (1985): Chặng đường nóng bỏng (hồi ký), NXB Lao động, H.

- Hoa Trung (biên) (1929): Kinh tế học tiểu sử (Quyển hạ), Tủ sách Quan hải tùng thư, nhà in Tiếng dân, đường Đông Ba, Huế.

- Hoàng Tùng (2002): Trường Chinh- một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, H., 2002.

- Hồng Phi: Những ngày cuối cùng của đồng chí Phan Đăng Lưu, trong ngục tù đế quốc (ký ức), (Tài liệu lưu trữ tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ký hiệu 3B, tr.4.)

- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Nguyễn Văn Cừ - Tiểu sử,[1]Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên (theo Quyết Định số 1721-QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6 - 2009): Phan Đăng Lưu – Tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015.

- Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ (2001): Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM.

- Lưu Phương Thanh (1986): Đồng chí Phan Đăng Lưu, một cán bộ lãnh đạo kiên cường và sáng suốt, Sài Gòn giải phóng, số 22- 1- 1986

- Nghị quyết của Ban Trung ương Đảng ngày 6,7,8 Novembre 1939, Phụ Lục I Khỏi nghĩa Nam kỳ.

- Nghị quyết hội nghị VI ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939 (Thường được gọi là hội nghị lần thứ VI của Trung ương), Phụ lục 1, sách Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ.

- Ngô Đức Mậu ( 1995): Những lần gặp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, NXB Văn hóa thông tin, H,, tr. 190.)

- Ngô Nhật Sơn (1987): Đồng chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh,

- Nguyễn Ái Quốc (1941): Lời kính cáo đồng bào ngày 6- 6- 1941, Phụ lục 10, sách Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ.

- Nguyễn Thành (1998): Phan Đăng Lưu tiểu sử- tác phẩm, NXB Thuận Hóa.

- Nguyễn Văn Khoan,chủ biên (2015): Thượng Chi- Phạm Quỳnh, NXB Văn học, H, 2015.

- Nguyễn Văn Khoan (2007): Đi tới mùa xuân- Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB công an Nhân dân, 2007. “Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử”, đăng trên tờ Sinh hoạt nội bộ ở Việt Bắc, ký tên X.Y.Z., (Bác Hồ)

- Phi Bằng (bút danh) (1939): Thi văn các nhà chí sỹ Việt Nam, NXB Tân Thanh, Huế.

- T. C. (1939):Tự chỉ trích, Tài liệu lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam

- Tân Cương (bút danh) (1937): Xã hội tư bản, NXB Tư tưởng mới, (Tua ran) Đà Nẵng.

- Tân Cương (bút danh) (1937): Thế giới cũ và thế giới mới,, NXB Tư tưởng mới, (Tua ran) Đà Nẵng,.

- Tôn Quang Duyệt (1975): Phan Đăng Lưu- Một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc kiên cường, một người trí thức cách mạng tiêu biểu,Tạp chí nghiên cứu sử học, số 163, tháng 7 và 8 năm 1975.

- Trần Giang, Nam kỳ khởi nghĩa, 23 tháng 11- 1940.

- Tuyên bố 1940 Đảng Cọng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7.

- Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 26- 6- 1940

- Vũ Văn Thuấn, chủ biên (2015), Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối: Phan Đăng Lưu –Tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, H.

- Văn kiện Đảng toàn tập, Nghị quyết của hội nghị Trung ương ngày 6,7,8,9- 11- 1940.

- Văn kiện Đảng toàn tập (tập 2) (1998), NXB. Chính trị Quốc gia.

- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2004), Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc Thông nhât Việt Nam, tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia./.

 

 

 

ảnh lễ cải táng đ

 

ảnh mộ P Đ L tại nghĩa trang Liệt sỹ  Tp

 

ảnh PĐL, mật thám Pháp chụp, 1929

                               Tượng đài đ/c Phan Đăng Lưu tại huyện lỵ Yên Thành- Nghệ An

 

 

1 Về ngày hy sinh của đồng chi Phan Đăng Lưu, nhiều sách báo viết rất khác nhau, 24-5-1941 là ngày trên báo Tiếng dân, ứng với ngày giờ 26-4 năm Tân Tỵ.

[1] Chúng tôi đã thống kê được 14 tài liệu, kể cả bia mộ , ghi rõ đ/c Phan Đăng Lưu là Thường vụ ban Chấp hành Trung ương Đảng, xin ghi tóm tắt xuất xứ một số trường hợp: - Hoàng Tùng, Mt lãnh t tr tui,- Trần Giang:Lch s khi nghĩa Nam K, - Báo Nhân dân s 3- 2- 1965,tr.2, - Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, tr.403, - Minh Thi: báo Lao động số 8- 4- 2001, - Sách Lê Duẩn tiểu sử, tr.110, - Sách Trn Quc Hương nhân cách và kỳ tích,- Tp chí nghiên cu lch s Đng số tháng 9- 10- 1972,- Sài Gòn gii phóng ngày 22- 1- 1986,- Bia mộ đ/c Phan Đăng Lưu tai nghĩa trang liệt sỹ TP HCM,v. v…..

[2] Đinh Xuân Lâm:V thông tin Phan Đăng Lưu là y viên Trung ương Đng t 1939 đến 1941 và cũng trong thi gian này là y viên Thường v Ban chp hành Trung ương Đng, Văn hóa Nghệ an, số 170 ngày 10- 4- 2010.

[3] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.241

[4] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.243

2 Phan Đăng Lưu, tiu s - tác phm: Nguyễn Thành, Nxb. Thuận hóa, 1998, tr.58.

3 Hoàng Tùng: Trường Chinh mt nhân cách ln, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, tr.118.

4 Nguyễn Thị Ngọc Hải: Trn Quc Hương, người thày, Nxb. Công an nhân dân, H.2003, tr.37.

[5] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.312.

[6] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.313

[7] Nguyễn Thị Hồng Tâm, tức Mười Lụa- tài liệu lưu ở nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu

[8] Văn kiện Đảng toàn tập (tập 2), NXB. Chính trị Quốc gia, 1998, tr. 274- 283. Chuyển dẫn theo Nguyễn Văn Khoan (chủ biên): Chương Chi Phm Quỳnh, Nxb. Văn học, 2015, tr.87.

[9] Uy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhât Việt Nam, tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia, 2004, tr. 104.

[10] Nguyễn Văn Khoan (chủ biên): Thượng Chi- Phm Qunh, NXB Văn học, H, 2015, tr.87- 88.

[11] Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, các tác giả: PGS Trần Thành, Hoàng Tùng, PTS Nguyễn Văn Khoan, PGS Trình Mưu, PGS- PTS Phạm Xanh, PTS Nguyễn Thanh Tâm, Lê Doãn Hợp: Đng chí Lê Hng Phong, mt lãnh t xut sắc ca Đng, NXB CTQG,II, 1997, tr.85 và 91, chuyển dẫn theo Nguyễn Văn Khoan.

[12] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 523.

[13] T ch trích: Văn kiện Đảng toàn tập, tr.645 (Tài liệu lưu tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam)

[14] Chú thích: mặt A là một phương diện của vấn đề, măt B là phương diện đối lập của vấn đề đó.

[15] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 456.

[16] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 456.

[17] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 233.

[18] Lưu Phương Thanh: Đồng chí Phan Đăng Lưu, một cán bộ lãnh đạo kiên cường và sáng suốt, Sài Gòn giải phóng, số 22- 1- 1986 (ô Thuấn tr,225)

[19] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 484.

[20] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 485.

[21] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 486.

[22] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 501.

[23] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 490.

[24] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 50.

[24] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 238.

 2. Trần Giang, Nam kỳ khởi nghĩa, 23 tháng 11- 1940, tr. 30

 

[26] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ, Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 507.

[27] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 248 và Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, SDD, t.7, tr. 12- 14

[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, SDD, t.7, tr. 12- 14.

[29] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 249- 250.

[30] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 442.

[31] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 422.

[32] Văn kin Đng toàn tp, Nghị quyết của hội nghị Trung ương ngày 6,7,8,911- 1940, tr. 77.

[33] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên (theo Quyết Định số 1721- QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6- 2009): Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.309)

[34] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 66, chú thích.

[35] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr.70, chú thích.

[36] Toàn bộ mục sự thành công của hội nghi VII là của: Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên (theo Quyết Định số 1721-QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6- 2009): Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.310- 315. Tham khảo: Phan Đăng Thuận, luận văn tốt nghiệp Đại học Vinh, ngành Sử, đề tài về Đồng chí Phan Đăng Lưu.

[37] Ngô Nhật Sơn: Đng chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh, 1987, tr.14

[38] Chu Văn Biên, hồi ký: Trong sách Theo đường kách mnh, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng và Hội Văn nghệ Nghệ An xuất bản, 1970.

[39] Ngô Nhật Sơn: Đng  chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh, 1987, tr.22.

[40] Ngô Nhật Sơn: Đng  chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh, 1987, tr.39.

[41] Ngô Nhật Sơn: Đng  chí Phan Đăng Lưu, Nxb. Nghệ Tĩnh, 1987, tr.40-41.

[42] Có ý kiến nói rằng: cuốn sách này có Lê Nhiếp cộng tác với Phan Đăng Lưu (chú thích của Nguyễn Thành)

[43] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối: Phan Đăng Lưu tiu s, NXB Chính trị Quốc gia , 2015, tr. tr.390.

[44] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu tiu s- tác phm, NXB Thuận Hóa, 1998,tr. 50

2 Đến đây xem trở lại với bút danh Bằng Phi và Phi Bằng. Sách “Thi văn các nhà chí sĩ Việt Nam” ghi bút danh là Phi Bằng. Ở trên chúng tôi đã dẫn 5 ý kiến nói rõ Phi Bằng là Phan Đăng Lưu. Đến đây xuất hiện một tác giả bút danh là Bằng Phi cũng viết “Văn thơ của các chí sĩ Việt Nam”. Bằng Phi là ai? Là Phan Đăng Lưu. Trong bài báo số 54 “Thư tàu bay”, của Phan Thị Hồng Anh gửi Phan Đăng Lưu (báo Sông Hương tục bản, số 13, ngày 7-10-1937) người viết gửi cho Bằng Phi. Trong “Tiểu dẫn” tòa soạn ghi “Phan Đăng Lưu theo lời một người con gái Việt Nam, tên là Phan Thị Hồng Anh” từ Nam Kinh, Trung Quốc, viết thư gửi cho Bằng Phi.

[45] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu tiu s- tác phm, NXB Thuận Hóa, 1998,tr.49, 50, 51.

[46] Trần Ngọc Điệp: Tm gương khí tiết mt người công sn, tài liệu lưu tại nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu     

[47] GS Chương Thâu: Thư gửi Phan Đăng Nhật ngày 8- 12- 2015, lưu ở nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu.

[48] Ngô Đức Mậu: Nhng ln gp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, Nxb. Văn hóa – Thông tin, H, 1995, tr.192- 193.

[49] Ngô Đức Mậu: Nhng ln gp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, NXB Văn hóa –Thông tin, H, 1995, tr.106- 197.

[50] Ngô Đức Mậu: Nhng ln gp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, NXB Văn hóa –Thông tin, H, 1995, tr.202.

[51] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 214- 215.

[52] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 320- 321.

[53] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu , tiu s- tác phm, NXB. Thuận Hóa, 1998, tr. 40)      

[54] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu , tiu s- tác phm, NXB. Thuận Hóa, 1998, tr. 41

[55] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB. Chính trị Quốc gia, H, 2015,  tr.155.

[56] Ngô Nhật Sơn: Đng chí Phan Đăng Lưu. Nxb. Nghệ Tĩnh 1987, tr. 35.

[57] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu , tiu s- tác phm, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 41- 42.

[58] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.181.

[59] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.181.

[60] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.305.

[61] Phan Quang: Phan Đăng Lưu, nhà báo cách mng, Thương nhớ vẫn còn, t.1,NXB Trẻ, 2004, tr. 169.

[62] Tố Hữu: Máu và hoa- con đường ca nhà thơ T Hu, Tác phẩm mới, số 57, tháng 1- 1976, tr.81

[63] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.322- 323.

[64] Phan Quang: Phan Đăng Lưu, nhà báo cách mng, Thương nhớ vẫn còn, t.1,NXB Trẻ, 2004,tr. 166.

[65] Tôn Quang Duyệt: Phan Đăng Lưu, mt chiến s cng sn li lc, kiên cường, mt trí thc cách mng tiêu biu, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 1975, số 4(163), tr. 54.

[66] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.5.

[67] Nguyễn Thế Kỷ:Phan Đăng Lưu, người cng sn, nhà báo ưu tú, Nhân dân cuối tuần, số 47 (877), ngày 20- 11- 2005.

[68] Phan Quang: Phan Đăng Lưu, nhà báo cách mng, Thương nhớ vẫn còn, t.1,NXB Trẻ, 2004,tr. 166.

21- PĐLTS

[70] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.313.

[71] Sau khi Lê Văn Hiến cho xuất bản thiên phóng sự nổi tiếng: Ngc Kôngtum nhà xuất bản Tư tưởng mới, Phan Đăng Lưu giúp cho Lê Văn Hiến chuẩn bị viết tiếp cuốn “Ngục Buôn Ma Thuột”. Công việc mới bắt đầu tiến hành thì mật thám đến khám nhà, tịch thu hết tài liệu, đành phải gác lại, rồi công tác khẩn trương cuốn hút đi nên không có thì giờ và điều kiện để trở lại.

(Theo lời kế của Nguyễn Văn Hiến, chú thích của Nguyễn Thành, sách Phan Đăng Lưu, tiu s- tác phm, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr.49)

1 “…Đã từ lâu, vì nhu cầu của thời đại, vì tính thích nghiên cứu về sử học, nhất là say sưa về những chuyện cách mạng gần đây, tôi ôm một mộng lớn là viết một quyển sử cách mạng Việt Nam từ thời Pháp thuộc.

Cho được thực hiện cái mộng lớn ấy, nhất định là sức một người không thể làm nổi, mà phải một nhóm người có đủ tài liệu và năng lực. Chẵng những thế, sau khi được đọc mấy quyển sử thế giới, viết theo một quan điểm mới của những sử gia mới, những sử gia theo chủ nghĩa Mác, tôi càng hăng hái muốn có một quyển sử Việt Nam viết theo một bút pháp mới. Như vậy, một nhóm người cùng nhau biên tập mà tôi ao ước, vừa con phải có một quan điểm chung về lịch sử. Gần đây, chung quanh tôi, những người nhận xét sự việc theo quan điểm mới, không phải là ít, nhưng tìm một người cộng tác vẫn rất khó.

Năm 1937, tôi đã gặp anh Phan Đăng Lưu, lúc ấy làm bí thư cho cụ Phan Sào Nam ở Huế. Chúng tôi đã đụng đầu nhau giữa cái mộng lớn, và trong khi chờ đợi có những đ/c khác hợp tác thêm, chúng tôi đã hẹn nhau trong việc tiến hành và phân công……Cuối năm 1940, trong khi nằm ở nhà tù Sơn La, tôi được tin đ/c Phan Đăng Lưu, người cộng tác duy nhất của tôi, bị giặc Pháp bắn chết trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa.”

(Trần Huy Liệu: Bn d tho Vit Nam cn đi cách mng gin s, Báo Cứu quốc, số 11, ngày 15- 10- 1948)

 

 

Bài trích từ sách  “Phan Đăng Lưu-thân thế sự nghiệp và sưu tập tác phẩm”, NXB Tti thức, H, 2017, 540 trang.

 

 

MỞ ĐẦU

1. Bài này dài 110 trang, ngoài Mở đầu và Kết thúc, gồm 5 chương như sau:

- Chương th nht: Đại cương cuộc đời và sự nghiệp đ/c Phan Đăng Lưu- một số tư liệu ít được công bố.

- Chương th hai: Đ/c Phan Đăng Lưu với sự nghiệp chuyển hướng chiến lược của Đảng.

- Chương th ba: Công việc bồi dưỡng tri thức chính trị- kinh tế học cho cộng đồng của đ/c Phan Đăng Lưu.

- Chương th tư: Công việc giáo dục lòng yêu nước qua “Thi văn các chí sỹ Việt Nam”.

- Chương th năm: Đ/c Phan Đăng Lưu và sự nghiệp đấu tranh báo chí.

Phụ lục.

2. Tôi may mắn là được đọc kỹ từ các bản gốc của hầu hết tài liệu về đồng chí Phan Đăng Lưu, lại may mắn được gặp gỡ nhiều vị hoạt động đương thời và được những người ruột thịt của đồng chí, chuyện trò nhiều lần, trong nhiều thời gian. Mặc dầu vậy, nhưng nay bắt tay viết Lời nói đầu sách “Đồng chí Phan Đăng Lưu- một trí thức cách mạng tiêu biểu (Thân thế sự nghiệp và sưu tập tác phẩm), tôi không khỏi thực sự lo lắng vì thấy mình non kém trước sự nghiệp một bậc vĩ nhân, do đó chỉ dám coi đây là một bản thu hoạch khi học tập tấm gương tiền nhân.

 

Chương thứ nhất

ĐẠI CƯƠNG CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

ĐỒNG CHÍ PHAN ĐĂNG LƯU - MỘT SỐ TƯ LIỆU ÍT ĐƯỢC CÔNG BỐ

1. Đồng chí Phan Đăng Lưu là hậu duệ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và Thái tổ Mạc Đăng Dung, quê ở xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, từ ga Chợ Sy, cách thành phố Vinh 40 km, về phía Bắc, đi về phía Tây, theo “đường 38” chừng 11km thì đến nơi.

Đồng chí sinh ngày 5 tháng 5 năm 1902 (28 tháng 3 năm Nhâm Dần, theo số tử vi do cụ thân sinh để lại); con cụ Phan Đăng Dư và cụ bà Trần Thị Liễu.

Đ/c sở hữu một “một trí tuệ uyên bác” (Tố Hữu), “là một trí tuệ, một nhân cách” (Võ Nguyên Giáp) là “trí thức cách mạng tiêu biểu” (Lê Duẩn), giác ngộ chủ nghĩa Cộng sản; đã đảm nhiệm xứ ủy Trung kỳ, trung ương ủy viên, rồi Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi đ/c Nguyễn Văn Cừ bị bắt (17- 1- 1940) Phan Đăng Lưu đảm đương công việc Tổng bí thư/ Bí thư trung ương. Sau khi đ/c Võ Văn Tần, Trung ương ủy viên cuối cùng bị bắt (21- 4- 1940), đ/c Phan Đăng Lưu tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, giành nhiều thắng lợi. Ở hội nghị VII, đ/c từ chối nhiệm vụ Quyền bí thư, giới thiệu đ/c Đặng Xuân Khu, lúc bấy giờ là xứ ủy viên Bắc Kỳ, để mình nhận đi vào chỗ “sớm muộn cũng bị địch bắt” (lời đ/c Phan Đăng Lưu)

Cuộc đời hoạt động của đ/c rất phong phú, đa dạng, sôi động:

- từ bỏ đời làm cán sự kỹ thuật canh nông “vinh thân phì gia”, dấn thân vào hoạt động cách mạng gian khổ và hiểm nguy, 18 năm, từ đảng Tân Việt đến đảng Cộng sản;

- 7 năm bị tù ở Buôn Ma Thuột;

- thời kỳ Mặt trận dân chủ, đ/c đã vận động và lãnh đạo công cuộc đấu tranh trong và ngoài Viện dân biểu Trung kỳ, rất thắng lợi;

- đã vận động và lãnh đạo có kết quả phong trào mặt trận thống nhất phản đế 1936- 1940.

Về tri thức, đ/c uyên thâm văn hóa Á đông, đã qua 10 năm đèn sách, thông thạo tứ thư ngũ kinh, “đã đi thi hương cùng các cụ chống gậy, khi còn để tóc trái đào” (lời cụ thân mẫu); và về sau, lưu loát Trung văn, nhờ đó đ/c đã đóng vai người Hoa để hoạt động ở Chợ Lớn; uyên bác văn hóa Âu Mỹ, qua tiếng Pháp (rất giỏi, “tự vị sống”) và tiếng Anh; giỏi cả tiếng Ê đê.

Ngoài ra đ/c giỏi bơi lội, leo trèo, viết chữ Hán rất đẹp, được bà con Nam Bộ tôn là “ông đồ mỹ tự” (theo nhà văn Sơn Tùng).

Về tính tình, đ/c rất điềm đạm, giản dị, cởi mở, vui vẻ, hài hước, thân thương, có sức thuyết phục cao đối với mọi tầng lớp, kể cả từ tên cướp ở Ninh Hòa- Phú Yên, đến các vị đại thân sỹ và thượng lưu trí thức.

Với một cuộc đời như vậy, đ/c Phan Đăng Lưu đã hy sinh vì Tổ quốc, tại pháp trường thực dân, phong kiến, ngày 24-5-19411, lúc 39 tuổi đời.             

*

Đ/c Phan Đăng Lưu là một người mà trí tuệ, tài năng, đạo đức, phẩm chất,… hiếm có. Đ/c đã để lại cho chúng ta một tấm gương sáng ngời, và một kho tàng kinh nghiệm vô cùng quý báu về nhiều mặt:

- cùng tập thể, chủ động vạch ra đường lối chuyển hướng chiến lược sáng suốt năng động, sau Xô viết Nghệ Tĩnh thất bại, và chỉ đạo vận động thực hiện thắng lợi,

- tham gia và lợi dụng các tổ chức công khai của địch để đấu tranh giành quyền lợi cho nhân dân,

- đấu tranh trong nhà tù đế quốc,

- chuẩn bị bạo lực cách mạng để giành lại độc lập, tự do từ tay chính quyền địch; chuẩn bị cho giai đoạn tiền CM và CM tháng Tám,

- sử dụng công cụ văn chương và báo chí để đấu tranh cách mạng.

2. Đồng chí Phan Đăng Lưu là một vị lãnh đạo cao cấp trong Đảng Cộng sản Đông Dương vi nhiu chc trách và nhim v:

- Ủy viên ban lâm thời xứ ủy Đảng CS Đông Dương Trung Kỳ: được chỉ định vào giữa tháng 8 năm 1936.

- Ủy viên Ban Chấp hành Đảng CS Đông Dương: được bầu ngày 3- 9- 1937 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng ở Hóc Môn, Bà Điểm, Gia Định.

- Ủy viên Thường vụ: được bầu tại hội nghị đại biểu cả ba xử ủy, vào tháng 3 năm 1938, trong Ban chấp hành mới, do đ/c Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng bí thư.[1]

Xin ghi rõ ý kiến sau đây của GS Đinh Xuân Lâm, ủy viên ban biên soạn sách Phan Đăng Lưu- tiu s.:

“Nếu như chưa có thêm những thông tin, tư liệu gì mới và căn cứ vào các hồi ký bài viết của các tác giả có trách nhiệm, có người trực tiếp hoạt động trong phong trào và có tư cách là những nhân chứng lịch sử, cũng như những người có điều kiện tiếp cận và khai thác hồ sơ tư liệu của Đảng; chúng ta có thể xác định các mốc lớn sau đây:

+. Từ tháng 3 năm 1938 Phan Đăng lưu đã được “bầu” vào Ban chấp hành Trung ương Đảng.

+.Và cũng từ tháng 3 năm 1938, Phan Đăng Lưu đã được bầu là ủy viên thường vụ Ban chấp hành Trung ương Đảng….Sẽ còn phải trao đổi thêm về thông tin này, nhưng chúng ta có quyền tin vào ý kiến của Nguyễn Như Hạnh, bí thư xứ ủy Nam Kỳ và ý kiến của Hoàng Tùng, nguyên ủy viên ban Bí thư là những người có trách nhiệm trước Đảng và là những nhân vật cốt cán của Đảng.

Cũng nên lưu ý là, khi Hoàng Tùng, viết “Phan Đăng Lưu là ủy viên thường vụ”, thì bấy giờ Lê Duẩn, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt,…chắc đều biết ý kiến này của Hoàng Tùng, mà không có ý kiến “phản biện”, điều đó có ý nghĩa là đã công nhận, đã chấp nhận rằng sự việc là có, là đúng sự thật”[2]

- Đ/c Phan Đăng Lưu là Ủy viên Thường vụ đảm trách nhiệm vụ Tổng bí thư/ Bí thư Trung ương: cuối tháng 4 năm 1940, đ/c Võ Văn Tần, Ủy viên thường vụ bị địch bắt, đ/c Phan Đăng Lưu là Ủy viên Thường vụ duy nhất, ngoài ra cũng không còn Ủy viên Trung ương nào nữa; đ/c phải đảm nhiệm việc lãnh đạo Đảng, với nhiệm vụ, cương vị Tổng bí thư/bí thư Trung ương.

“Sau ngày 17- 1- 1940 (đ/c Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt), Phan Đăng Lưu là người trực tiếp phối hợp với Võ Văn Tần giải quyết mọi việc của Đảng: từ điều hành các xứ ủy Bắc, Trung, Nam đến điều hành các bộ phận văn phòng, tuyên truyền, tổ chức,, Mặt trận,…và các đảng bộ ở Miên và Lào; tìm cách bắt liên lạc với Quốc tế Cọng sản và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Công việc thật nhiều và rất nặng nề. Tuy vậy, dưới sự lãnh đạo, điều hành trực tiếp của Phan Đăng Lưu, trên cơ sở phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với đồng chí Võ Văn Tần –Bí thư xứ ủy Nam Kỳ, với Xứ ủy và thành ủy Sài Gòn- Chợ Lớn,…đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ”[3]

“Hội nghị xứ ủy mở rộng kết thúc chưa lâu thì vào ngày 21- 4- 1940, đồng chí Võ Văn Tần bị địch bắt tại một cơ sở ở đồn điền cao su làng Tân Xuân, quận Hóc Môn, Gia Định” [4]

Trong tình thế đó, trong ban lãnh đạo Đảng cộng sản Đông Dương, đ/c Phan Đăng Lưu tất yếu phải thay đ/c Nguyễn Văn Cừ, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam, và đ/c đã hoàn thành nhiệm vụ rất xuất sắc.

3.T chi bí thư Trung ương, mà đi vaò ch “sm mun cũng b đch bt”. Trong thời gian bấy giờ ở Bắc Kỳ còn có các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Đặng Xuân Khu/Trường Chinh, Hạ Bá Cang, Trần Đăng Ninh chỉ đạo công tác của Đảng, nhưng thực tế là làm công việc của Xứ ủy Bắc Kỳ. Bởi vậy trong chuyến ra Bắc lần này (tháng 10- 1940) đồng chí Phan Đăng Lưu cần bàn với các đồng chí nói trên về lập lại Ban chấp hành Trung ương.

Hội nghị VII, do đ/c Lưu chủ trì, đã cử ra Ban chấp hành Trung ương và Trung ương bầu Tổng bí thư. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thành cho biết: “Có ý kiến đề nghị Phan Đăng Lưu làm Tổng bí thư. Anh xin rút, với lý do là sẽ về Nam, đại diện của Trung ương trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở Nam Kỳ, đã ít nhiều nắm được tình hình.”2. Đồng chí Hoàng Tùng cũng khẳng định: “Phan Đăng Lưu được đề cử làm Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương lâm thời. Ông không nhận, nói: tôi sớm muộn cũng bị địch bắt. Vả lại trong tình hình hiện nay Ban chấp hành Trung ương cần phải ở miền Bắc, gần Hà Nội, trung tâm chính trị của chính quyền thực dân.”3. Lão đồng chí Trần Quốc Hương nhớ lại: “Đồng chí Phan Đăng Lưu lúc đó ở miền Nam ra họp, được hội nghị đề cử làm Bí thư Ban chấp hành Trung ương lâm thời nhưng đồng chí không nhận. Đồng chí nói, tình hình như thế này Trung ương nên ở ngoài Bắc, tôi trở về miền Nam, sớm muộn cũng sẽ bị địch bắt”4.

PGS Vũ Văn Thuấn đánh giá cao việc đ/c Phan Đăng Lưu, không nhận Tổng bí thư mà đề cử đ/c Trường Chinh thay.

“Góp phần đề cử thành công đồng chí Trưòng Chinh vào chức vụ Quyền Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương 7 là công lao lớn của Phan Đăng Lưu trong suốt quá trình góp phần xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ cho Đảng, cho cách mạng nước ta.”[5]

“Việc đánh giá và s dụng đúng đắn, sáng suốt cán bộ của Phan Đăng Lưu là sự kiện đồng chí góp phần đề cử đồng chí Trường Chinh làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng tại Hội nghị Trung ương 7. Đây là hành động cao thượng xuất phát từ lợi ích của Đảng”.[6]

4. Đ/c Phan Đăng Lưu hc trường quân s Hoàng Ph

Việc đ/c Phan Đăng Lưu học trường quân sự Hoàng Phố được xác định do hai tư liệu sau đây:

Tài liu 1, tài liu mt thám Pháp.

Vào những năm 20 của thế kỉ trước, Tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng (gọi tắt là Tân Việt) được thành lập ở trong nước. Tân Việt ngày càng phân hóa sâu sắc dẫn tới hình thành hai xu hướng: Một là cải tổ Tân Việt theo hướng quốc gia liên hiệp. Hai là xu hướng hợp nhất với Thanh niên. Phan Đăng Lưu là một trong những người tích cực nhất ủng hộ việc hợp nhất giữa Tân Việt với Thanh niên. Bởi vậy, ông được cử sang Quảng Châu để bàn chuyện hợp nhất với Tổng bộ Thanh niên.

- Theo tài liệu của Mật thám Pháp còn lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam thì trong thời gian ở Quảng Châu với sự giúp đỡ của Đinh Tế Dân - một sĩ quan người Việt, giáo viên Trường quân sự Hoàng Phố - Phan Đăng Lưu được nhận vào học ở trường này.

 

Ngun tài liu:

Hồ sơ lưu trữ tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam STT: 1, số hộp 23.

Văn phòng công tác chính trị và Tổng nha cảnh sát.

Thông tri về lịch sử những hoạt động chính trị ở Đông Dương thuộc Pháp

Tài liệu: tập số 1

“Tân việt cách mạng đảng” “Đảng cách mạng của Thanh niên Annam” (1925- 1930)

Ni dung

“Ngày 9- 12- 1928, Đào Xuân Mai, bí thư Tân Việt Nam Kỳ, vô tình bị bắt cùng với môt số giấy tờ của Đảng Tân Việt. Năm người gồm Trần Phạm Hổ và vợ, Trần Ngọc Danh, Hà Huy Tập và Bình sợ lộ cùng xuống tàu bỏ chạy

Hai đại biểu Phan Đăng Lưu và Lê Liên Vũ lợi dụng cơ hội này để hoàn thành sứ mệnh. Đi theo nhóm 5 người bỏ chạy, họ xuống thuyền ngày 15- 12- 1928 và đến Hồng Kông ngày 20 tháng này. Để những người khác tiếp tục đi Thượng Hải, 2 người trở lại Quảng Đông, Một sự kiện bắt ngờ đã đặt họ vào tình huống vô cùng lúng túng. Chính quyền Quảng Đông bắt tất cả các đảng viên TNCMĐCH, kết án họ tuyên truyền cộng sản. Trong lúc chờ đợi khả năng gặp những người cần đàm phán, 2 người ở lại Hoàng Phố để liên lạc với một số sinh viên Việt Nam, của trường quân sự nơi đây. Họ được một người Việt Nam, (ông Đinh Tế Dân, giảng dạy ở trường Hoàng Phố, nhận cho ở lại đây hơn một tháng )” (tr. 48)

“Đến Quảng Đông ngày 22- 12, Phan Đăng Lưu và Lê Liên Vũ không tìm được Võ Hải Thu. Họ quyết định tự giới thiệu với các người Việt Nam ở trường quân sự Hoàng Phố, họ được Đinh Tế Dân cho tạm trú từ ngày 25- 12- 1928 đến 31- 1- 1929. Li dng cơ hi được tm trú, h đăng ký hc trường quân s này. Ngày 1- 2- 1929 họ chuyển sang nhà trọ Đại đồng học lư, ở trước mặt Đại học Sun Yat Sen- Tụn Trung Sơn.” (Chú thích ở trang 49)

Tài liu 2, thư ca ông Trn Ngc Đip

- Trong bức thư của ông Trần Ngọc Điệp, người bạn tù của đ/c Phan Đăng Lưu, từ Đak Lak, đề ngày 28- 3- 1988, gửi cho cụ Phan Đăng Tài, em trai của đ/c Phan Đăng Lưu, có đoạn như sau: “Có một chi tiết là anh Lưu rất giỏi tiếng Trung Quốc, vì anh vốn giỏi chữ nho. Anh có cho tôi biết là anh đã tốt nghiệp quan II trường Không quân Trung Quốc. Lúc bấy giờ, như anh Đàm Quang Trung (sau anh Lưu), anh Lê Hồng Phong, đều học trường Hoàng Phố” (Thư lưu tại nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu)

5. S man r ca k thù đi vi đ/c Phan Đăng Lưu, bt Catina

Xin mô tả cách chúng tra tấn anh Phan Đăng Lưu, sau khi dùng đủ mọi cách tra tấn “thông thường” như đánh đập, lộn mề gà, cho uống nước xà bông v.v... mà không khai thác được điều gì nơi anh, sau đó chúng dùng phương pháp đặc biệt để tra anh bằng cách đinh cút đóng vào 10 đầu ngón tay anh rồi lấy thước gõ vào từng cái, tôi thấy anh bất ngờ thét lên một tiếng đồng thời đập mạnh bàn tay xuống bàn, 10 cây đinh ngập lút vào 10 đầu ngón tay anh khiến bọn chúng la hoảng vội kêu bác sỹ đến nhổ đinh ra. Cách này cũng không đạt kết quả mong muốn, chúng lại dùng phương pháp khác là trói chặt tay và thân người anh vào một cái ghế, chúng nhúng hai bàn chân vào một cái thau nước ấm chứa đầy trùng (giun), hai bàn chân anh bị đánh dập nát lở loét những con trùng liền chui vào các vết lở loét gây đau đớn không tả xiết, lúc đó tôi thấy anh Phan Đăng Lưu nghiến răng, trợn mắt, da mặt anh chuyển từ màu đỏ sang tím rồi sang màu xanh, mắt anh nhìn bọn chúng lóe lên ánh căm thù, đến khi đau đớn quá mức, anh dãy dụa rồi ngất đi, người ngả bật ngửa ra sau, hai bàn chân anh bật lên còn dính lúc nhúc hàng trăm con con trùng (giun) đang rúc chặt vào da thịt anh, lúc đó chúng liền sai một người tù đến rứt từng chùm trùng (giun) ra như người ta nhổ mạ, trùng rứt ra đến đâu thì tại chỗ mà trùng (giun) vừa đục khoét chui vào ấy máu phụt ra như vòi rồng bắn vào vách tường phòng tra tấn. Lúc ấy tôi (Mười Lụa) choáng váng, mắt tối sầm không còn thấy gì, hồi lâu tôi mới tỉnh lại. Tại chỗ giam, chúng còng chung 5,6 người trong một cây sắt dài và tôi bị còng gần chỗ anh Lưu, khi anh về chỗ, tôi hỏi anh đau đớn như thế nào khi trùng (giun) chui vào chân, anh nói các kiểu tra tấn cực hình đó của chúng, anh đã chịu đủ nhưng chưa thấy kiểu nào đau đớn bằng lúc trùng (giun) rúc vào chân mình, nó đau xé tim ra từng mảnh, lúc đầu mình cắn răng chịu đựng nhưng tới khi đau đớn quá mức thì bất tỉnh, không còn hay biết gì nữa[7].

         

Chương thứ hai

Đ/C PHAN ĐĂNG LƯU VỚI SỤ NGHIỆP CHUYỂN HƯỚNG

CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG CUỐI THẬP KỶ 30 (THẾ KỶ XX)

Chương này có 4 đoạn:

+ Nguồn gốc của khẩu hiệu “Đào tận gốc trí phú địa hào”

+ Sự chỉ đạo của đ/c Nguyễn Ái Quốc.

+ Chuyển hướng chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương.

+ Tiểu kết.

I. Ngun gc ca khu hiu “đào tn gc trí, phú, đa, hào” là t quc tế cng sn.

Chúng ta đã biết đến khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Cội nguồn của khẩu hiệu chiến lược đó là Quốc tế Cộng sản. Các đ/c đã dã nhiều lần chỉ thị cho Đảng Cộng sản Đông Dương thi hành chiến lược trên:

“Để “văn kiện hóa” chỉ thị của mình, để giúp Trần Phú có cơ s “pháp lý”, ngày 13 tháng 10 năm 1930, Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, bấy giờ có trụ sở Thượng Hải - Trung Quốc đã có thư gửi Đảng Cộng sản Đông Dương khoanh vào những điểm trọng tâm như sau:

1. Động lực cách mạng ở Đông Dương là giai cấp công nhân và nông dân. Đồng minh trực tiếp của bọn đế quốc là địa chủ, phong kiến, kỳ hào, tư sản dân tộc. Giai cấp tiểu tư sản và tầng lớp trí thức xét trong toàn bộ sẽ dao động...

  1. Cốt lõi của cách mạng điền địa là triệt để tiêu diệt bọn địa chủ. Đừng rơi vào sai lầm nguy hiểm là phân địa chủ thành loại “tốt” và “xấu”[8].

Ngày 3 tháng 8 năm 1934, sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh,(với khẩu hiệu mang đầy đủ quan điểm của Quốc tế Cộng sản “trí, phú, địa, háo, đào tận gốc, trốc tận rễ” thông qua chỉ đạo trực tiếp của ủy viên Trung ương Đảng Nguvễn Phong Sắc tại Trung Kỳ) bị đàn áp; Nguyễn Ái Quốc bị “mất tích”, khởi nghĩa Yên Bái thất bại; Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho Đảng Cộng sản Đông Dương “khắng định lại tính chất và nhiệm vụ cách mạng Đông Dương, chỉ rõ động lực chủ yếu cách mạng Đông Dương là giai cấp vô sản, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng hiện nay là nhen lên và tổ chức ở khắp nơi cuộc đấu tranh của nông dân đòi ruộng đất...”[9]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhiều lần yêu cầu và cũng đã được Quốc tế Cộng sản cung cấp tài chính “buộc” phải chấp hành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, nhưng cũng sớm thấy “có gì đó không đúng với thực tiễn xã hội, thực tiễn cách mạng Việt Nam”. Về phần mình, qua nhìn nhận tình hình Đông Dương, trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới sắp xảy ra do phát xít Đức khởi xướng, Quốc tế Cộng sản cuối cùng cũng đã thay- đổi ý kiến, tức là chấp thuận quan điểm mới, chính xác của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề các dân tộc thuộc địa đấu tranh cách mạng giành 'giải phóng dân tộc.[10]

 Đồng chí Lê Hồng Phong, trong bài tham luận tại Đại hội quốc tế Cộng sản lần thứ VII, ngày 28- 7- 1935 còn phát biểu rằng: “tàn dư của cương lĩnh các nhóm cộng sản cũ đã máy móc chia giai cấp địa chủ thành hạng đại và trung”[11]

II. Tư tưởng ch đo ca đng chí Nguyn Ái Quc

Trong lúc đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc không đồng tình với quan điểm trên. đ/c đã uốn nắn “những biểu hiện của biểu hiện “tả” khuynh”:

“Chính quyên Xô viết được thiết lập ở Nghệ Tĩnh khi cả nước chưa có tình thế cách mạng, lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, trong hàng ngũ lãnh đạo xứ ủy và các đảng bộ địa phương đều có biểu hiện của sự ấu trĩ “tả khuynh”, vì vậy mặc dù Trung ương Đảng và đ/c Nguyễn Ái Quốc kịp thời chỉ đạo uốn nắn, nhưng cuối cùng XVNT vẫn bị kẻ thù dìm trong biển máu. Tuy nhiên, sức sống của XVNT đã được khẳng định” (T đin bách khoa Vit Nam, t.4, NXB Từ điển bách khoa, H. 2005, tr. 1033). Trong lời kính cáo đồng bào ngày 6- 6- 1941, đ/c Nguyễn Ái Quốc đã để lên hàng đầu “các bậc phú hào yêu nước thương nòi”.

 

KÍNH CÁO ĐỒNG BÀO CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN ÁI QUỐC

Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sỹ! Mong các ngài noi gương phụ lão đời Trần trước họa giặc Nguyên xâm lấn, đã nhiệt liệt hô hào con em tham gia sự nghiệp cứu quốc.

Hỡi các bậc phú hào yêu nước thương nòi! Hỡi các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương!

Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy.

………

Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm; người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề…….

         Ngày 6 tháng 6 năm 1941

                  NGUYỄN ÁI QUỐC[12]

III. Đường li chuyn hướng chiến lược ca Trung ương Đng CSĐĐ giai đon 1935- 1940

Trung tâm của đường lối chuyển hướng chiến lược thời kỳ này được tổng hợp chủ yếu trong nhóm các văn kiện Hội nghị Trung ương VI (ngày 6,7,8 Novembre/tháng 11 năm 1939) và Hội nghị Trung ương VII (ngày 6,7, 8,9, Novembre/tháng 11 năm 1940) và một số văn kiện khác hình thành một nhóm văn kiện.

Nhóm văn kiện trên gồm:

- Tự chỉ trích (20 tháng 7 năm 1938, ký tên T.C)

- Nghị quyết hội nghị VI ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939

- Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản Đông Dương tháng 11 năm 1939

- Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 26- 6- 1940

- Văn kiện hội nghi VII (ngày 6,7,8,9,11- 1940)

Tiếp theo, chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt nội dung của các văn phẩm trên, nhấn mạnh tư tưởng chuyển hướng chiến lược.

3.1.T ch trích ghi tên tác gi T. C..T ch trích, bn mà chúng tôi có là Tài liu lưu ti Bo tàng Cách mng Vit Nam, ghi tên tác gi là T.C., có ch khác ghi Trí Cường,viết ngày 20 Juillet (tháng By) 1939.

Tóm tắt nội dung:

+ Trong cuộc tuyển cử ở Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, Mặt trận dân chủ của nhóm Dân chúng thất bại, trong lúc đó số tờ rốt kít đắc cử ở quân nhì. Có hai bài thái độ và nội dung đối lập:

Anh Nguyễn Văn Tạo chủ trương “đánh đổ đảng Lập hiến; anh T.B. chủ trương “không đánh đổ một đảng phái nào, một giai cấp nào của người bản xứ”.

Cuốn sách nhỏ của T.C dài 26 trang, gồm các ý chính sau đây:

+ Trước hết phải nhận thế nào là tự chỉ trích Bôn sơ vich.

+ Một bài học nữa về cuộc tuyển cử, cần vạch rõ.

+ Các đảng phản động người bản xứ làm tay sai cho phát xít và đế quốc.

+ Mặt trận thống nhất ở bên trên và mặt trận thống nhất ở bên dưới

+ Trong một giai cấp có nhiều đảng.

+ Người cộng sản là chiến sỹ thực tế, không phải bọn chính trị cận thị.

+ Căn cứ vào hành động để xét đoán người cách mệnh.

+ Địa vị và năng lực của các đảng phái cải lương.

+ Thái độ đối với đảng Lập hiến.

+ Cần phân biệt bọn phản động với bọn cô độc hèn nhát để kéo kẻ có thể đồng minh.

+ Nhưng cũng cần phân biệt thái độ bọn cải lương lừng khừng, hèn nhát.

+ Muốn thực hiện mặt trận dân chủ phải khuyếch trương cuộc vận động của dân chúng.

+ Phân biệt kẻ nguy hiểm nhiều với kẻ nguy hiểm ít.

“Kết lun: Chúng ta phải chiến thắng những xu hướng sai lầm trong hàng ngũ: xu hướng “tả khuynh”, cô độc, nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng, và xu hướng thỏa hiệp hữu khuynh, lung lay trước những tình hình nghiêm trọng, nhãng quên hoặc che lấp sự tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin, lăm le rời bỏ những nguyên tắc cách mệnh

Cho được đảm bảo sự thực hiện Mặt trận dân chủ thống nhất, chúng ta cần tranh đấu tẩy trừ những xu hướng tả khuynh lẫn xu hướng hữu khuynh trong hàng ngũ.

- Thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động!

- Củng cố hàng ngũ để chóng thực hiện sự thống nhất các lớp nhân dân”[13]

Trên đây là tóm tắt nội dung, tuy nhiên, chiều sâu phương pháp luận của văn bản này là phép biện chứng của tư duy, được thu gọn trong bảng biểu “Mối quan hệ biện chứng của hai mặt đối lập”, mà chúng tôi sẽ trình bày tiếp theo sau đây:

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA HAI MẶT ĐỐI LẬP

(Qua nghiên cu trường hp T ch trích)

STT

Ni dung vn đ

Mt A[14]

Mt B

X lý quan h

1.

Vấn đề tư tưởng

(tr.623)

“Một sự “bớt tập trung”(décentralisation) là có thể và cần thiết. Phải cần để cho sáng kiến và sự hoạt động theo sáng kiến (activité autonome) của các đảng viên được phát triển” (tr.623)

“Nhưng không phải đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng- dù cho đúng- đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gây mối hoài nghi lộn xộn trong quần chúng, gây mầm bè phái chia rẽ trong hàng ngũ Đảng” (tr. 623- 624)

“Anh Tạo và mấy anh chủ trương bộ biên tập Đông phương tạp chí có lẽ đã dư biết điều này, tôi rất mong các anh thành thật nhận cái sai lầm về chỗ chỉ trích sai nguyên tắc ấy” (tr. 624)

2.

Nguyên nhân thất bại (ở Hội đồng quản hạt) (625)

“Một phần tại chính sách đàn áp của địch, tại các phần tử tư bản tự do còn do dự, yếu ớt,”(tr.625)

“Nhưng phải nhận phần chính là tại ta chưa đủ sức lãnh đạo quảng đại quần chúng, thúc giục các đảng phái, nhân vật cấp tiến liên hiệp hành động, tại phong trào quần chúng chưa đủ mạnh để làm cho họ tin và mạnh dạn tham gia MTDC” (tr. 625)

“Ta còn phải làm việc nhiều nữa, làm việc không ngớt để lan rộng ảnh hưởng Đảng trong những tầng lớp dân chúng rất đông đúc chưa giác ngộ, để lôi kéo những đám quần chúng lớn lao xưa nay vẫn nằm yên hay lãnh đạm, rụt rè, tham gia vào sinh hoạt chính trị…, làm cho Đảng thành một Đảng chân chính của quần chúng, tiến lên thực hiện MTDC thống nhất” (tr.625- 626)

3.

Phân biệt giai cấp và đảng (633)

“Anh T.B.không nhận rõ trong một giai cấp có nhiều tầng lớp và có thể có nhiều đảng phái, chớ không nhất thiết chỉ có một đảng…; một đảng không nhất thiết đại biểu cho cả một giai cấp, mà nhiều khi đại biểu cho một tầng lớp (couche) của giai cấp ấy” (tr.633)

“Vì thế ta có thể đồng thời đánh đổ đảng phái phản động của những phần tử đại địa chủ tư sản và liên minh với tất cả cá đảng phái cải lương; và như vậy vẫn có thể kéo được một bộ phận lớn của tư sản bản xứ đi về phe MTDC.” (tr. 633)

 

4.

Đảng Lập hiến (638)

“Đánh đổ bọn lãnh tụ phản động Chiêu, Liêm và tất cả cái chủ trương, cái xu hướng lập hiến (theo kiểu Chiêu, Liêm) nghĩa là quỵ lụy đầu hàng đế quốc” (tr.638)

“Còn đối với các từng lớp địa chủ và tư sản bản có xu hướng lập hiến, hay nói chung có xu hướng cải cách thì phải chỉ cho họ rõ thái độ phản động hoặc hèn nhát của bọn lãnh tụ, khuyến khích họ thống nhất hành động với các lớp nhân dân để đòi cải cách, vì chỉ có con đường ấy mới đòi được tự do bình đẳng. Con đường đầu hàng chỉ đưa đến phá sản và bị khinh khi” (tr.638)

 

5

Phân biệt thống nhất bên dưới và thống nhất bên trên (632)

“Đối với những đảng phái có tính chất và chương trình ít nhiều cải cách, Đảng CSĐD chủ trương thống nhất hành động, vẫn tán thành liên minh với đảng ấy” (tr. 632)

“Nếu trong các đảng ấy có bọn lãnh tụ phản động làm tay sai cho đế quốc, cho phản động thuộc địa, thì dù cho người ngoại quốc hay người bản xứ tổ chức, Đảng CSĐD cũng chủ trương đánh đổ những bọn phản động ấy” (tr.632)

“Cố nhiên là Đảng Cộng sản Đông Dương sẽ luôn luôn vạch rõ mặt nạ của những tổ chức phản động ấy để kéo những lớp nhân dân nào còn theo lầm ảnh hưởng chúng về phe MTDC, cũng như Đảng Cộng sản Pháp chống Đảng Hỏa thập tự, đồng thời cố kéo lấy đám quần chúng lầm theo bọn De La Rocque. Đó là chính sách Mặt trận thống nhất ở bên dưới chớ không thống nhất dưới lẫn trên như đối với đảng cải lương hay cách mệnh” (tr.632)

6

Về lãnh tụ cải lương (637)

“Sự quan hệ giữa “lãnh tụ” cải lương và “quần chúng” theo họ đã mong manh như thế, cái vai tuồng của đảng phái cải lương trong sinh hoạt chính trị trong xứ đã yếu ớt như thế, nên đứng về người chiến sỹ thực tế (réaliste), xét mối tương quan lực lượng các giai cấp để định chiến thuật cách mạng tuy không khinh thường và xua đuổi mấy tay lãnh tụ cải lương” (tr.637)

“Tuy vẫn tìm cách liên hiệp hành động với họ, song ta cũng đừng quá tôn trọng họ, quá tâng bốc họ một cách không đáng” (tr. 637)

 

7.

Phân biệt các kẻ nguy hiểm (643)

“Người cộng sản, khi đặt chiến thuật tranh đấu phải phân biệt kẻ nguy hiểm nhiều với kẻ nguy hiểm ít. Xét về ảnh hưởng chung trong quần chúng, bọn lãnh tụ lập hiến rõ mặt phản động Khá, Chiêu, Liêm làm tay sai cho phản động thuộc địa, có thể ít nguy hiểm hơn bọn tờ rốt kít…tuy lung lay, hèn nhát, nhưng còn có ý muốn đòi cải cách,, còn có đôi chút tính chất tiến bộ” (tr. 643)

“Bọn tờ rốt kít giả danh cách mệnh, làm tay sai cho phát xít, còn che đậy lừa gạt quần chúng được” (tr.643)

“Nhưng phân biệt như thế không phải để tâng bốc hay theo đuôi kẻ nguy hiểm ít để ôm ấp mãi mãi cái nguy hiểm ít (moindre mal) như bọn cải lương. Người cộng sản phân biệt nguy hiểm nhiều với nguy hiểm ít là cốt lợi dụng với mâu thuẫn trong dinh lũy quân thù tập trung hết mũi nhọn chống kẻ nguy hiểm hơn hết để dự bị lực lượng cho cách mệnh” (tr. 643)

 

Tình hình chính trị xã hội lúc bấy giờ rất phức tap, rối ren. Trong Đảng, nhiều luận điếm sai trái xuất phát từ những đồng chí có hiểu biết. Thường vụ thấy cần chỉnh đốn tránh sai lầm tả khuynh đồng thời tránh hữu khuynh.

Muốn vậy, phương pháp tư duy trước hết là các đ/c lãnh đạo không được cứng nhắc, một chiều, phải rèn luyện tư duy biện chứng. Sau đây là một số ví dụ:

1. V mt tư tưởng:

- Mặt A: Trong Đảng cần dân chủ, bớt tập trung

- Mặt B: Không được đưa cá nhân lên trên đi đến đối chọi, đả kích Đảng.

2. Nguyên nhân tht bi Hi đng qun ht:

- Mặt A: Chính sách đàn áp của địch.

- Mặt B: Tình trạng còn yếu của lãnh đạo chúng ta.

3. Đi vi đng Lp hiến:

- Mặt A: bọn cầm đầu, phản động, cần đánh đổ

- Mặt B: những đảng viên ở dưới, kể cả địa chủ, cần tranh thủ.

Đồng chí Phan Đăng Lưu đã từng trải nghiệm nhiều trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, nhờ có tư duy năng động, biện chứng nhận định chính xác, giải quyết đúng đắn, mà đồng chí đã thoát khỏi những tình huống khó khăn, hiểm nghèo:

- Ở nhà tù Buôn Ma Thuột, đ/c đã phân biệt bọn chúa ngục và những người lính Đê, và tách họ ra, học tiếng Đê để thuyết phục.

- Trong công cuộc đấu tranh ở Viện dân biểu Trung Kỳ, đ/c đã phân biệt đấu tranh quyết liệt với bọn dân biểu tay sai; thuyết phục huy động nhũng người yêu nước, vì dân, nhờ đó mà “thắng lợi 100%”

- Về khởi nghĩa Nam Kỳ phải được xét dưới hai góc độ. Một là Nam Kỳ phải cùng cả nước vũ trang khởi nghĩa. Về phương diện này, Đ/c Phan Đăng Lưu đã tích cực chuẩn bị. Đ/c đã soạn thảo tài liệu chiến tranh du kích và gửi đi huấn luyện cho các địa phương. Nói xa hơn, khi sang Trung Quốc, đ/c đã tranh thủ học trường quân sự Hoàng Phố và đã đỗ quan hai hàng không (Trần Ngọc Điệp), cũng là một sự chuẩn bị cá nhân cho vũ trang khởi nghĩa.

Hai là thời gian nổi dậy. Nhưng nổi dậy ngay trong năm 1940- 1941 thì đ/c kiên quyết không tán thành, đã tìm mọi cách để trì hoãn hoặc ngăn trở. Việc ra hỏi Trung Ương cũng là một biện pháp. Có người nói: Trung Ương ở đây rồi chứ ở đâu nữa mà hỏi. Đúng là đ/c có thể tự quyết định, nhưng như thế, đ/c đoán biết có thể gây phản ứng mạnh mẽ và gây phân liệt trong nội bộ, rất bất lợi.

Để chống tả và đồng thời hữu khuynh, điều quan trọng là xây dựng trong Đảng, đặc biệt là trong lãnh đạo một nếp tư duy biện chứng. Các đ/c chúng ta mặc dầu tinh thần cách mạng cao, nhưng do hoàn cảnh khách quan chi phối, nên thường bị thói quen suy nghĩ và hành động cứng nhắc, đem đến những chủ trương sai lầm, rất có hại cho cách mạng và nhân dân. Khẩu hiệu “đào tận gốc trí, phú, địa, hào” nói trên là một trong muôn vàn ví dụ. Về sau, Khởi nghĩa Nam Kỳ sở dĩ thất bại nặng nề mà đ/c Phan Đăng Lưu không tài nào ngăn được là do tư duy được gọi là “chm bm”:

 - “Xứ ủy chỉ tính toán chằm bẳm vào khả năng duy nhất là khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định ở cơ ở cơ quan yết hầu, đầu não của kẻ địch. Thực tế diễn ra hoàn toàn khác!”[15]

- “Nhưng sử dụng lực lượng binh lính địch phải tính toán cả hai mặt khả năng và hiện thực. Chỉ chm bm mặt khả năng mà không tính toán mặt không trở thành hiện thực, chính đó là sai lầm của cơ quan lãnh đạo khởi nghĩa Nam Kỳ “ [16]

“Chm bm” là một tư duy cục mịch, thiếu uyển chuyển, không năng động, không tự chuyển hóa, ta thường thấy ở những người lao động ít cởi mở, cố chấp, đó chính là không nhận thức được và không chấp nhận mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt đối lập của sự vật. Thái độ này được mệnh danh cho sự sai lầm của những người lãnh đạo Khởi nghĩa Nam kỳ là có lý, mà trước đó một năm (1939)  đ/c T.C đã nêu ra để cảnh tỉnh là rất cần thiết.

Để độc giả hiểu rõ hơn văn kiện “Tụ chỉ trích” (viết tắt là TCT), chúng tôi xin cung cấp thêm một số tư liệu về:

- Hoàn cảnh ra đời của văn kiện.

- Mục đích và nhiệm vụ của văn kiện.

TCT được tác giả, với bút danh T.C “viết ngày 20 Juillet (tháng Bảy) 1939”. Đây là văn kiện viết sớm nhất, có tính mở đầu, trong nhóm văn kiện, chỉ đạo chuyển hướng chiến lược.

Nguyên cớ trực tiếp và cụ thể là cuộc tranh luận trong nội bộ hai cán bộ cộng sản là đ/c Nguyễn Văn Tạo và đ/c T.B.

Ông Tạo nêu lên chủ trương “đánh đổ đảng Lập Hiến” (bài đăng ở Đông Phương Tp chí số 6), ông T.B. ngược lại chủ trương: “không đánh đổ một đảng phái nào, một giai cấp nào của người bản xứ” (đăng ở báo Dân chúng số 67, 68, 69).

Trước một vấn đề có tính chiến lược đấu tranh của Đảng như vậy, mà hai đ/c có hai ý kiến trái ngược nhau. Và công chúng, “dư luận độc giả, quốc dân, nhất là các đ/c cộng sản vẫn đang xôn xao bàn luận…không thể chờ lâu hơn được nữa, vì các độc giả, các đ/c trong xứ đương xôn xao thảo luận, nhiều ngưới phân vân lộn xộn” (TCT, tr. 621) về vấn đề trên. Đ/c T.C., “cũng như tất cả các đ/c khác, thấy có trách nhiệm phải tham gia vào cuộc tranh luận của anh T.B. và anh Tạo, phải định rõ thái độ đối với những ý kiến mà các anh ấy đã đưa ra” (TCT, tr.620).

Trước khi văn kiện này được công bố, đ/c T.C, đã viết hai bản khác để tham gia thảo luận (bản tháng 5- 1938 và bản tháng 6- 1938). Hai bản trên đều được gửi đến tòa soạn báo Dân chúng nhờ đăng. Nhưng cả hai đều không được đáp ứng và không có hồi âm. “Bất đắc dĩ, T.C. phải gửi in cuốn này vào Tp sách dân chúng”. (T.C.T., tr.620)

Đến đây, chắc hẳn độc giả muốn biết qua về hai vị Nguyễn Văn Tạo và T.B.

 Nguyễn Văn Tạo là người Việt Nam duy nhất là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp… Ông còn là một nhà báo cộng sản rất nổi tiếng ở cả Việt Nam và Pháp nửa trước thế kỷ XX

Trong Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Nguyễn Văn Tạo tham gia lãnh đạo ủy ban Hành chính Nam bộ lâm thời do Giáo sư Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Tháng 1- 1946, nhà báo Nguyễn Văn Tạo đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ tháng 12- 1946. Trong điều kiện vô cùng ác liệt, khó khăn của cuộc kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và Trung ương Đảng, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tạo đã cùng Chính phủ ra sức chỉ đạo cuộc trường kỳ kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn. … Đến năm 1965, Bộ trưởng Nguyễn Văn Tạo được Trung ương điều sang Văn phòng Chính phủ, giữ chức Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng…

Bộ trưởng Nguyễn Văn Tạo qua đời ngày 16- 8- 1970, sau một cơn đau nặng. Ghi nhận những đóng góp to lớn của ông đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, năm 2002, Đảng và Nhà nước đã truy tặng đồng chí Nguyễn Văn Tạo Huân chương Hồ Chí Minh. Năm 2009, ông được truy tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Nguyễn Văn Tạo để lại một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, đạo đức và lương tâm của người làm báo.

(Trần Duy Hiển:

Về nhân thân tác giả T.B, hiện nay chúng tôi chưa biết, xin sẽ tìm cách bổ sung sau. 

  • Sự phát biểu đối lập nhau, có tính tranh luận, của hai tác giả cộng sản về một vấn đề chính trị chiến lược trên đây là hiện tượng khá tiêu biểu về tư tưởng trong nội bộ Đảng; diễn ra vào thời điểm tình hình đất nước diễn biến phức tạp, nhiệm vụ lịch sử của Đảng ngày càng nặng nề hơn. Hơn bao giờ hết, “để bảo đảm sự thực hiện Mặt trận dân chủ thống nhất, Đảng cần phải tẩy trừ những xu hướng tả khuynh lẫn xu hướng hữu khuynh trong hàng ngũ, cần phải:

- Thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động!

- Củng cố hàng ngũ để chóng thực hiện sự thống nhất các lớp nhân dân!” (TCT,tr.645).

3.2. - Ngh quyết hi ngh VI ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939 (Thường được gi là hi ngh ln th VI ca Trung ương)

Chun b hi ngh và đóng góp ca đ/c Phan Đăng Lưu

Trong tháng 10- 1939, đ/c Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn cùng Ban Chấp hành Trung Ương họp bàn kế hoạch        chuẩn bị cho Hội nghị Trung Ương lần thứ sáu. “Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn giúp tổng bí thư khẩn trương biên soạn tài liệu Chính sách mới của Đảng- Văn kiện chính thức của hội nghị trung ương lần này” [17]

“Tháng 11- 1939, trong hội nghị Trung ương lần thứ VI, cũng tại Bà Điểm, với tư cách là Ủy viên thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Phan Đăng Lưu đã đóng góp tích cực vào việc đề ra chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng.”[18]

Trung ương Đảng tiến hành hội nghị lần thứ VI từ ngày 8- 11- 1939, đến ngày 6- 11- 1939, tại xã Tân Thới Nhất (Bà Điểm, Gia Định, ngay “vành đai đỏ “ của thành phố Sài Gòn- Chợ Lớn. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Văn Cừ chủ trì, dự họp có đồng chí Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần,….

Tóm t

Nghị quyết dày 50 trang 13x16, gồm các mục chính sau đây:

  1. Tình hình thế giới
  2. Tình hình Đông Dương
  3. Chính sách của Đảng Cộng sản Đông Dương

Do tình hình thế giới và Đông Dương thay đổi, Đảng ta phải thay đổi chính sách. Những điềm thay đổi chính là; không phải là Mặt trận dân chủ nữa, mà là Mặt trận Thống nhất phản đế Đông Dương. Không phải đấu tranh giai cấp quyết liệt “đào tận gốc” mà: “liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, liên hiệp tất cả các giai cấp các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc.”:

“Căn cứ vào những biến đổi quốc tế và trong xứ và sự biến chuyển mới của phong trào cách mệnh thế giới và Đông Dương, Đảng ta phải thay đổi chính sách.

Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay không thích hợp nữa. Ngày nay phải thành lập Mặt trận thống nhất phản đế Đông Dương(M.T.T.N.P.Đ.Đ.D): là hình thức liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương dưới nền thống trị đế quốc Pháp, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc, để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, chống xâm lược phát xít, đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc; đòi hòa bình cơm áo, thực hiện nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương, với quyền dân tộc tự quyết”[19]

Đối với vấn đề ruộng đất, chỉ mới tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Chính quyền cách mạng không phải là xô viết công nông binh, (như Xô viết Nghệ Tĩnh nêu lên) mà là chính phủ Cộng hòa dân chủ.

“Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyến lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết. Vì vậy, trong khi chủ trương M.T.T.N.D.T.P.Đ. Đ.D, cách mạng tư sản dân quyền trong lúc này chỉ mới tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Một điều khác nữa Mặt trận phản đế chưa đưa khẩu hiệu lập chính phủ “Xô- viết công nông binh”, là hình thức chính phủ riêng của dân chúng lao động, mà đưa khẩu hiệu “chính phủ liên bang Cng hòa dân chủ Đông Dương”[20]

Đảng sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản, tư sản trung tiểu địa chủ, Không coi “địa chủ, phong kiến, kỳ hào, tư sản dân tộc là đồng minh trực tiếp của bọn đế quốc”; cũng không coi “giai cấp tiểu tư sản và tầng lớp trí thức xét trong toàn bộ sẽ dao động”; không chủ trương “triệt để tiêu diệt bọn địa chủ”; không quan niệm rằng: “phân loại địa chủ thành loại “tốt” và “xấu” là “sai lầm cực kỳ nguy hiểm”.

“Công nông phải đưa cao cây cờ của dân tộc lên, vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và những tầng lớp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ còn có căm tức đế quốc, vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ ít nhiều có tinh thần chống đế quốc” [21]           

Nghị quyết hội nghị VI đặc biệt quan tâm đến các dân tộc Miên, Lào và dân tộc thiểu số, đã có những chủ trương rất thiết thực, cụ thể như: tổ chức ban chuyên môn, phải cho người học chữ, tiếng dân tộc; về cán bộ dân tộc, Đảng quyết tâm bố trí, dầu vì vậy “mà đình trệ công tác ít nhiều ở địa phương cũng phải làm”, và Nghị quyết còn cẩn thận lưu ý “đừng có nói rồi bỏ đấy như trước đây”.

Cách đây 76 năm, một nghị quyết thấu đáo, triệt để như vậy về dân tộc thiểu số, chứng tỏ tấm lòng quan tâm “thủy chung như nhất” và sâu sắc biết bao của Đảng đối với các dân tộc.

“Ta đã thấy vận mạng và sự giải phóng của các dân tộc Đông Dương có liên quan mật thiết thì ta phải đặc biết chú ý sự vận động các dân tộc Miên, Lào và các dân tộc thiểu số, phải nghiên cứu những phương pháp cụ thể để thực hành nhiệm vụ ấy, đừng có nói rồi bỏ đấy như trước. Bây giờ ban Trung Ương cũng như xứ ủy, phải tổ chức ban chuyên môn về vấn đề dân tộc thiểu số, phải cho người học chữ, học tiếng các dân tộc ấy để tuyên truyền vận động họ, phải tìm đủ mọi cách tìm mối liên lạc và gây cơ sở ở Miên, Lào và dân tộc thiểu số như Thổ, Thượng,v..v..Dù cho sự rút bớt cán bộ để phụ trách công tác này mà đình trệ công tác ít nhiều ở địa phương cũng phải làm”[22]        

Về tuyên truyền, Nghị quyết ra chỉ thị phải học tiếng dân tộc, có sách báo bằng chữ dân tộc. Phải chăng đây là sự phản ánh bài học thực tế sâu sắc mà chính đ/c Phan Đăng Lưu đã sáng kiến và thực hiện rất có hiệu quả thời ở nhà tù Buôn Ma Thuột, với việc học, dạy tiếng Đê và ra “Doãn Đê tù báo”

“Sự tuyên truyền các dân tộc khác như Miên Lào, các dân tộc thiểu số như Thổ, Ra- đê,v.v…trong lúc này là rất quan hệ, vì bọn đế quốc đương ra sức thực hành chính sách chia rẽ dân tộc, lấy dân tộc này đàn áp dân tộc kia. Phải có những đội chuyên môn tuyên truyền các dân tộc, phải học tiếng các dân tộc ấy, phải tìm ra các sách báo bằng chữ của họ để tuyên truyền cổ động cho mau lẹ”[23]

Vai trò Hi ngh TƯ VI        

Những trích đoạn trên đây “cho thấy Hội nghị Trung ương tháng 11- 1939 (hội nghị VI) đã đánh dấu bước chuyển hướng đúng đắn, sáng tạo về chỉ đạo chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, về sách lược và phương pháp đấu tranh, mở đầu cho thời kỳ đấu tranh mới của của cách mạng nước ta. Các hội nghị Trung ương tháng 11- 1940 (hội nghị VII) và tháng 5- 1941 (hội nghị VIII), đã hoàn chỉnh sự chỉ đạo chiến lược này, đề ra những hình thức tổ chức, đấu tranh sát hợp, tích cực chuẩn bị và kịp thời nắm vững thời cơ, phát động cuộc tổng khởi nghĩa. Chính đây là nguyên nhân cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng tháng Tám vĩ đại năm 1945”[24]

3.3.Tuyên ngôn ca Đng Cng Sn Đông Dương tháng 11 năm 1939

Sau Hội nghị, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu và Lê Duẩn ra Tuyên ngôn của Đảng Công sản Đông Dương, tháng 11- 1939.

“Giữa tháng 11 năm 1939, đ/c Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn ra Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương, kêu gọi toàn dân đoàn kết, liên hiệp với Miên, Lào… ra sức đấu tranh chống đế quốc, để giải phóng các dân tộc Đông Dương).[25]  

Tuyên ngôn đã quán triệt tinh thần của Hội nghị VI, tha thiết kêu gọi hô hào tất cả các dân tộc bị áp bức Đông Dương, không phân biệt giai cấp đảng phái, tôn giáo liên hiệp lại, thành lập MẶT TRẬN THỐNG NHẤT DÂN TỘC PHẢN ĐẾ ĐÔNG DƯƠNG. Đảng cộng sản tình nguyện là một đội quân trung thành của Mặt trận ấy.

“Đảng cộng sản chúng tôi thiết tha hô hào tất cả các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, bất kỳ Kinh, Miên, Lào và các dân tộc thiểu số, bất kỳ giai cấp, đảng phái, tôn giáo nào, miễn là chống đế quốc chiến tranh, chống ách xâm lược, mau mau liên hiệp lại, lập thành MẶT TRẬN THỐNG NHẤT DÂN TỘC PHẢN ĐẾ ĐÔNG DƯƠNG…..; kẻ xuất công, người xuất của ra sức tranh đấu chống đế quốc chiến tranh và giải phóng các dân tộc Đông Dương ra khỏi đế quốc Pháp.”[26]

3.4.Tuyên ngôn ca Đng Cng sn Đông Dương ngày 26- 6- 1940

“Ngày 26- 6- 1940, để khẳng định sự lớn mạnh không ngừng và vai trò lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời để cổ vũ tinh thần đoàn kết đấu tranh của nhân dân cả nước, Phan Đăng Lưu đã dự thảo và chỉ đạo tuyên truyền bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương.” [27]

Tuyên ngôn 1940 do đ/c Phan đăng Lưu dự thảo và chỉ đạo tuyên truyền, đưa lên hàng đầu “các bậc thượng lưu trí thức yêu mến giống nòi”, “các nhà tư sản, địa chủ, phú hào ái quốc”

“Đứng dậy! Hỡi các bậc thượng lưu trí thức yêu mến giống nòi!

Đứng dậy! Hỡi các nhà tư sản, địa chủ, phú hào ái quốc!

Đứng dậy! Hỡi công nông binh dũng cảm!

Đứng dậy! Hỡi các lớp dân chúng cần lao!

Đứng dậy! Hỡi các chị em phụ nữ các giới!

Đứng dậy! Hỡi ai không cam tâm làm nô lệ!

Đứng dậy! Hỡi tất cả tù nhân khốn nạn của bần cùng!”

……Và kẻ của, người công, giúp cách mạng mau hát khúc khải hoàn”[28]

“Nắm vững Nghị quyết Trung ương VI của Đảng, với tinh thần chuyển hướng kịp thời, mau lẹ và vững vàng, kiên quyết trong nguyên tắc, mèm dẻo, uyển chuyển trong chỉ đạo, Phan Đăng Lưu đã góp nhiều công sức, trí tuệ và tài năng cho phong trào cách mạng cả nước, trước hết là cho cách mạng Nam Kỳ, vững bước tiến lên, nhất là trong điều kiện các đồng chí nguyễn Văn Cừ (tổng bí thư), Lê Duẩn (Thường vụ Trung ương), Võ Văn Tần (Thường vụ trung ương, kiêm bí thư xứ ủy Nam Kỳ), cùng nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng lần lượt bị địch bắt, giam hãm, tù đày. Tuy trong cơ quan lãnh đạo ở Tân Xuân (Hóc Môn, Gia Định) chỉ còn lại Phan Đăng Lưu lãnh đạo, nhưng phong trào đấu tranh của quần chúng cách mạng trong thời kỳ này diễn ra liên tục trên cả nước”[29]

Các văn kiện trên đây là tư tưởng ca tp th mà đ/c Phan Đăng Lưu là son gi ch lc: Ban lãnh đạo hội nghị VI (1939) gồm tổng bí thư và thường vụ, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu và Lê Duẩn, chỉ đạo tập thể.

      Đường lối chuyển hướng chíến lược của Hội nghị VI, với tinh thần đoàn kết mọi lực lượng yêu nước đã trở thành sức mạnh cách mạng to lớn. Sức mạnh này đã bộc lộ rõ trong cơn bão táp Khởi nghĩa Nam kỳ, nhiều người thuộc các giai cấp, tầng lớp đã tận tình hy sinh, cống hiến:

“Cùng với công nông chiếm đa số, từ lúc chuẩn bị cho đến khi nổi dậy, người ta thấy có cả lớp dân nghèo thành thị, học sinh, thầy giáo, nghệ sỹ, nhà buôn, tư sản, nhân sỹ trí thức có tiếng tăm như bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, nhà bác vật Lưu Văn Lang, nhà tư sản Kha Vạn Cân,…

Đối với tầng lớp phú nông, địa chủ, vì cuộc khởi nghĩa, theo đường lối của Đảng, nêu cao tinh thần dân tộc, chỉ đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của địa chủ phản động và bọn đế quốc thống trị  cho nên, trừ một số ít địa chủ lâu đời gắn bó với đế quốc, đi theo đế quốc; trong khởi nghĩa còn có địa chủ ở một số địa phương, nhất là con cái địa chủ phú nông tham gia và tích cực đóng góp vào cuộc nổi dậy chống chính quyền địch” [30] “Trong cuộc khởi nghĩa toàn tỉnh Mỹ Tho có 75 địa chủ đã đứng vào hàng ngũ những người nổi dậy, hoặc đóng góp tiền, lương thực cho nghĩa quân “[31]         

3.5.Văn kin hi nghi VII (10- 1940) và s đóng góp ca đ/c Phan Đăng Lưu ti hi ngh.

3.5.1.Văn kiện hội nghị VII

Văn kiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương ngày 6,7,8,9- 11- 1940 (Hội nghị VII) dàì 62 trang, gồm các phần chính sau đây:

- Tình hình quốc tế

+ Cuộc đế quốc chiến tranh hiện thời và thế giới tư bản.

+ Phong trào cách mạng và cuộc vận động chống đế quốc chiến tranh

Kết luận phần tình hình quốc tế Nghị quyết viết: Thế giới tư bản là thế giới đầy thịt tan xương nát, vang dội “những tiếng khóc than” thì thế giới Xã hội chủ nghĩa là thế giới nhân đạo được sống hòa bình và hạnh phúc. Cái mâu thuẫn ấy càng thúc giục vô sản giai cấp các nước tư bản và các dân tộc bị áp bức mau nổi dậy đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, nối gót Liên Xô tiến bước trên con đường tiến bộ và tự do.”

- Tình hình Đông Dương

+ Tình hình kinh tế Đông Dương

+ Tình hình chính trị Đông Dương

+ Tình hình sinh hoạt của nhân dân và cuộc vận động dân tộc độc lập ở Đông Dương.

Kết luận phần tình hình Đông Dương là: “Xem đó thì đủ biết chúng ta chưa đứng trước một tình thế trực tiếp cách mạng. Song những biến cố xẩy ra sẽ đẩy nhân dân Đông Dương đến một tình thế phải tranh đấu quyết liệt để sống. Hàng ngũ quân thù ngày thêm rối bét: Nhật gầm ghè Pháp, phái Đờ Gôn chống phái Đờ Cu. Đế quốc chủ nghĩa ngày càng áp bức nhân dân thêm. Tinh thần dân tộc của nhân dân ta ngày càng bị bọn phát xít Pháp và quân phiệt Nhật chà đạp. Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy, Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sự mệnh thiêng liêng: lĩnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập.”

Như vậy, một cao trào cách mạng nhất định nổi dậy là một tất yếu khách quan, “Đảng chuẩn bị để gánh lấy sứ mệnh thiêng liêng lĩnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”, cũng là một tất yếu khách quan, không phải là chủ quan, duy ý chí. Nhưng trái lại, một thực tế nữa “chúng ta chưa đứng trước một tình thế trực tiếp cách mạng.” Chính vì vậy, đ/c Phan Đăng Lưu tha thiết và quyết tâm đề nghị hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ. Tuy nhiên các đồng chí lãnh đạo xứ ủy Nam Kỳ không kiên quyết ngăn cản xu thế sai lầm, chủ quan, nóng vội này, mà vẫn phát động khởi nghĩa. Đáng tiếc và đau đớn thay, sự chủ quan đã đem đến thất bại thảm hại, cách mạng bị dìm trong biển máu!

- Tình hình Đảng và các hội quần chúng

+ Tình hình Đảng

+ Tình hình hội quần chúng

- Cách mạng Đông Dương vẫn là cách mạng dân quyền

- Mặt trận thống nhất phản đế

Nghị quyết giải thích rõ: “Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế là sự liên minh giữa các lực lượng cách mạng phản đế, không phân biệt giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, mục đích là thực hiện việc thống nhất hành động giữa các lực lượng ấy, đặng tranh đấu tiến lên võ trang bạo động đánh đổ đế quốc Pháp, Nhật và các lực lượng phản động ngoại xâm, diệt trừ phong kiến và các hạng phản bội quyền lợi dân tộc, làm cho Đông Dương được hoàn toàn giải phóng…”[32]

Tóm lại. nghị quyết có sức thuyết phục mạnh mẽ, sâu sắc vì:

- Các lập luận đều được xây dựng trên những thực tế phong phú hiển nhiên, các tình hình chi tiết, các số liệu rõ ràng, đầy đủ.

- Triết lý cơ bản của Nghị quyết là chủ nghĩa duy vật Mác- Lênin về xã hội, lịch sử và kinh tế; và phương pháp luận cơ bản là phép biện chứng duy vật. Các lý luận này được vận dụng uyển chuyển, sáng tạo, sát hợp với tình hình thực tế.

Đồng chí Phan Đăng Lưu biên soạn Văn kiện của Hội nghị VII, trong thời gian và hoàn cảnh như sau:

- Thời gian là sau ngày họp hội nghị Tân Hương, bàn về khởi nghĩa Nam Kỳ, ngày 21, 27- 7- 1940. Lúc này đ/c Nguyễn Văn Cừ và đ/c Lê Duẩn đã bị địch bắt ngày 17- 1- 1940. Sau đó đ/c Võ Văn Tần bị bắt vào ngày 21- 4- 1940. Nếu việc soạn thảo Văn kiện Hội nghị VI, còn tranh thủ được ý kiến của các d/c Thường vụ, thì lần này, đ/c Phan Đăng Lưu không có được sự hỗ trợ trên.

- Nghị quyết này được biên soạn trong không khí nước sôi lửa bỏng của thời kỳ tiền Khởi nghĩa Nam Kỳ: “Tạm trì hoãn được cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng chí bí mật bắt tay ngay vào chuẩn bị mọi mặt cho một Hội nghị tái lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Sau ba tháng chuẩn bị, vào giữa tháng 10- 1940, đồng chí bí mật rời Nam Kỳ ra gặp Xứ ủy Trung Kỳ và Bắc Kỳ, họp với Xứ ủy Bắc Kỳ, cùng với Xứ ủy Bắc Kỳ thống nhất tổ chức Hội nghị tái lập Ban Chấp hành Trung ương - Bộ chỉ huy tối cao mới của Đảng.”[33]

Nhiều tư liệu cho biết, đ/c đã chuẩn bị tài liệu cho Hội nghị VII trong một thời gian dài, trong số đó phần quan trọng là văn kiện 62 trang này (tất nhiên kết hợp với nhiều công việc bề bộn mà đ/c là người chèo lái duy nhất trong Thường vụ phải khẩn trương thực hiện trước lúc đi xa).

- “Theo chúng tôi, đ/c Phan Đăng Lưu rời Sài Gòn sau hội nghị Xứ ủy tháng 9- 1940 hợp lý hơn”[34]

- “Đầu tháng 12- 2000, đ/c Nguyễn Đức Dương, xứ ủy viên Trung Kỳ năm 1940, có thư gửi Hội đồng chỉ đạo biên soạn CTLSKNNK, cho biết, trên đường ra Bắc đầu tháng 11- 1940, đ/c Phan Đăng Lưu có gặp đ/c Dương ở Huế, thông báo tình hình khẩn trương của Nam Kỳ và đề nghị, nếu Nam Kỳ nổ ra khởi nghĩa thì yêu cầu xứ ủy Trung kỳ phối hợp hành động. Đ/c Dương cho biết, phong trào Trung kỳ yếu, đ/c sẽ báo cáo ý kiến của đ/c Lưu với thường vụ xứ ủy đang đóng ở Vinh.”[35]

3.5.2. Sự thành công của Hội nghị Trung ương 7, mà đ/c Phan Đăng Lưu là người sáng kiến, móc nối, triệu tập, trình bày báo cáo, tổng kết,….có sự đóng góp của đ/c, với ba thành công nổi bật:

Mt là, tình hình quốc tế và trong nước đang biến đổi hết sức mau lẹ. Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, Pháp đầu hàng Đức, sau đó chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng Nhật. Mâu thuẫn Nhật với Pháp ở Đông Dương và nhất là ở Việt Nam ngày càng gay gắt, sẽ tạo thời cơ khởi nghĩa không đều ở mỗi địa phương. Sau tháng 7- 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ có thể đã nổ ra nếu không có sự chỉ đạo tạm hoãn của Phan Đăng Lưu. Ở Bắc Kỳ, đêm 27- 9- 1940, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra, tuy có giành được một số thắng lợi ban đầu, nhưng hiện đang đứng trước nguy cơ thất bại vì đang bị khủng bố, đàn áp mạnh mẽ... Tình hình ấy chứng tỏ rằng, thời cơ khởi nghĩa trên toàn quốc chưa đến độ chín muồi. Nếu chỉ thấy thời cơ cục bộ, mà chưa thấy thời cơ toàn cuộc và chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, thống nhất trên toàn quốc, đã tiến hành khởi nghĩa riêng lẻ mỗi địa phương sẽ chỉ là hành động tự sát. Tình hình khẩn trương đó đòi hỏi phải có sự lãnh đạo và chỉ đạo thật sáng suốt và kịp thời của Bộ chỉ huy tối cao của Đảng. Nhưng trong lúc này Bộ chỉ huy tối cao ấy, tức Ban Chấp hành Trung ương chưa được tái lập. Tái lập Ban Chấp hành Trung ương để lãnh đạo toàn quốc, tích cực chuẩn bị mọi mặt, chớp đúng thời cơ đưa cách mạng nước ta tới thắng lợi, đối với Phan Đăng Lưu đang là mệnh lệnh của lịch sử,'cấp bách nhất, cao nhất lúc bấy giờ mà đồng chí phải dồn toàn tâm, toàn lực thực hiện. Thử thách và trách nhiệm này đối với đồng chí càng trở nên nặng nề hơn trong tình huống không liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ở Xứ ủy Trung Kỳ và Bắc Kỳ không có đồng chí nào là ủy viên Trung ương Đảng. Trong điều kiện ấy, Phan Đăng Lưu chỉ biết trông cậy vào chính mình và sự hợp tác hành động với Xứ ủy Bắc Kỳ vì Xứ ủy Trung Kỳ vẫn chưa được củng cố hoàn chỉnh. Với tầm nhìn chiến lược, tài năng mẫn cán và trách nhiệm cao cả, đồng chí đã bí mật ra Bắc, gặp được Xứ ủy Bắc Kỳ và thống nhất với xứ ủy Bắc Kỳ tổ chức thành công Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ bảy. Đây là thành công, đóng góp to lớn nhất, ý nghĩa chiến lược th hin tm nhìn xa, thy rng và sáng sut ca Phan Đăng Lưu đi vi Đng ta và cách mng nựỏc ta.

Hai góp phần đề cử thành công đồng chí Trưòng Chinh vào chức vụ Quyền Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương 7 là công lao lớn của Phan Đăng Lưu trong suốt quá trình góp phần xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ cho Đảng, cho cách mạng nước ta.

*

Tiêu biểu cho việc đánh giá và s dụng đúng đắn, sáng suốt cán bộ của Phan Đăng Lưu là sự kiện đồng chí góp phần đề cử đồng chí Trường Chinh làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng tại Hội nghị Trung ương 7, mà mình thì trao lại nhiệm vụ lãnh đạo, đi vào chỗ “thế nào địch cũng bắt”. Đây là hành động cao thượng xuất phát từ lợi ích của Đảng, cả hai đồng chí đều cảm phục, kính trọng tài năng và đức độ của nhau, mặc dù trước đó họ chưa một lần giáp mặt. Sự kiện tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5- 1941), đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng... đã minh chứng sự lựa chọn sáng suốt của Phan Đăng Lưu tại Hội nghị Trung ương 7.

Ba là, Hội nghị Trung ương 7 thành công, theo đề nghị của Phan Đăng Lưu, cơ quan Trung ương cũng được chuyển từ Nam ra Bắc. Đây cũng là đóng góp lớn của đồng chí đối với cách mạng nước ta.

Về đề nghị này, Phan Đăng Lưu đã có suy nghĩ, cân nhắc từ trước. Là nhà lãnh đạo có tư duy biện chứng sâu rộng, đồng chí đã nhận thức rõ sự diễn biến của tình hình quốc tế và trong nước đang rất mau lẹ: từ tháng 7 đến giữa tháng 9- 1940, cho thấy Nhật nhất định sẽ nhảy vào Đông Dương, trước hết là vào Việt Nam, và khi đó Bắc Kỳ là địa bàn mà cách mạng Việt Nam liên thông trực tiếp với cách mạng Trung Quốc trên mặt trận kháng Nhật, cứu nước. Như vậy trung tâm của cách mạng nước ta cũng chuyển từ Nam ra Bắc đòi hỏi phải có bộ chỉ huy cao nhất của Đảng ở Bắc Kỳ. Và do đó, cơ quan Trung ương Đảng phải chuyển từ Nam ra Bắc là điều tất yếu. Phải có tầm nhìn xa, thấy rộng và thiết thực mới có được tư duy biện chứng sắc sảo như thế.

Trong đề nghị này, Phan Đăng Lưu còn thấy một thực tế lịch sử khác cần phải được xem xét kỹ lưỡng. Đó là: gần 10 năm (từ tháng 10- 1930 đến tháng 4- 1940), Ban Chấp hành Trung ương chuyển từ Bắc Kỳ vào Nam Kỳ thì gần như toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương gắn với bốn đời Tổng Bí thư (Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Cừ) đều bị địch bắt. Đây là một thực tế đau xót cho Đảng, cho cách mạng. Từ sự tổng kết lịch sử này, nên khi tổ chức tái lập Ban Chấp hành Trung ương, Phan Đăng Lưu mới đề xuất phải tổ chức ở Bắc Kỳ và kéo theo đó là cơ quan Trung ương Đảng cũng được chuyển ra Bắc Kỳ. Cũng thực tế lịch sử chứng minh rằng, sau khi được chuyển ra Bắc Kỳ, Ban Chấp hành Trung ương không còn bị tổn hại như thời kỳ đóng ở Nam Kỳ, tuy một số đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương cũng bị địch bắt và giết hại, nhưng Ban Chấp hành Trung ương vẫn được duy trì, lãnh đạo cách mạng đến thành công...[36]

IV. Tiu kết

(Chương th hai)

Phần trên chúng tôi đã giới thiệu đường lối chuyển hướng chiến lược của Đảng CS Đông Dương giai đoạn 35- 40, qua nhóm văn kiện của Đảng từ nghị quyết VI đến nghị quyêt VII. Sự chuyển hướng chiến lược đó bao gồm:

- Từ Mặt trận dân chủ chuyển sang Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế

- Đoàn kết rộng rãi các lực lượng yêu nước chống đế quốc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái.

- Chuẩn bị sẵn sàng để tiến đến đấu tranh vũ trang giành lại độc lập cho Tổ quốc, khi có điều kiện.

- Thành lập chính quyền cộng hòa dân chủ nhân dân, không phải là chính quyền xô viết công nông.

Chủ trương chuyển hướng chiến lược như trên là rất sáng tạo, sáng suốt. Nhưng không đơn giản, đây là một cuộc đấu tranh đối phó với sức ép có tính áp đặt, căng thẳng, quyết liệt, từ bên ngoài. Cuối cùng, chân lý đã thắng.

Đ/ c Phan Đăng Lưu có vai trò khá quan trọng trong sự nghiệp nói trên của Đảng. Chưa nói đến các hoạt động thực tiễn như đi lại khắp nơi, hội họp, gặp gỡ để xây dựng phong trào, bồi dưỡng đào tạo lực lượng, tuyên truyền thuyết phục, soạn thảo và hướng dẫn về chiến tranh du kích,……; mà chỉ bàn về các văn kiện chính còn lại, chúng ta cũng thấy rõ, đ/c Phan Đăng Lưu, dưới sự lãnh đạo của tập thể, được sự ủng hộ, thương mến, đùm bọc của đ/c và đồng bào, nổi lên như, vừa là linh hồn, tư tưởng, tinh thần; vừa là con người hành động, xông xáo, xoay chuyển tình thế, với tác phong nồng nhiệt mà thận trọng, chu đáo, chí tình, nhưng kiên quyết… Với tất cả những điều trên đây, đ/c Phan Đăng Lưu, với cương vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương, đã ch đng đóng góp phn quan trng cùng các đ/c lãnh đo khác thc hin vi kết qu cao đường li chuyn hướng chiến lược ca Đng, nhng năm cui thp k 30, ca thế k XX.

 

Chương thứ ba

SỰ NGHIỆP BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ KINH TẾ HỌC

  1. Đ/c Phan Đăng Lưu vi vic bi dưỡng chính tr cho thế h tr và cng đng

Trong suốt đời hoạt động của mình, lúc trong tù, lúc ra ngoài, khi ở Vinh, khi ở Huế,…. bao giờ đ/c Phan đăng Lưu cũng chăm lo việc bồi dưỡng tri thức cách mạng cho bạn trẻ và cộng đồng.

- “Anh hết sức quan tâm bồi dưỡng tri thức cách mạng cho bạn trẻ, hiểu rất rõ rằng “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” [37]

Thi Vinh, đ/c Phan Đăng Lưu cùng các đồng chí tổ chức các lớp “tráng học”, cho những người lao động. Các thầy nói về gương hợp quần, ý thức tự tôn, tự trọng, công kích kẻ bạo ngược, bênh vực người nghèo hèn, sau mỗi buổi học, các thầy dành ít nhất là nửa giờ để diễn thuyết, nói về các anh hùng dân tộc, sức mạnh của đoàn kết, về những gương yêu nước trong cách mạng Anh, Pháp, Trung Hoa”[38]

trong nhà tù Buôn Ma Thut, “anh lượm từng mẩu báo rơi, đem về rửa sạch, xem rồi nói lại nội dung cho anh em, không bao giờ quên giải thích và phân tích những chỗ khó. Vì anh hiểu biết nhiều, lại sẵn sàng truyền bá, mách bảo “gỡ bí ngay tại trận”, nên anh được anh em gọi là “tự vị sống”[39]

Huế, “Cùng các đồng chí, anh Lưu đã lập ra tủ sách Tư tưởng mi, gồm những sách chính trị và lý luận thường thức, góp phần vào việc phổ biến chủ nghĩa Mác, như đã làm từ thời Quan hi tùng thư [40]

“Đc bit nhng năm 1936- 1939, lợi dụng tình thế hợp pháp, anh ra sức dìu dắt thanh niên tiến bộ, rèn luyện họ thành những những Đảng viên hiểu biết về lý luận cách mạng….

Có thể nói, cán bộ, Đảng viên bắt đầu hoạt động cách mạng, từ những tháng năm sôi động ở Huế, 1936- 1939, phần lớn không thể nào quên vai trò anh Lưu trong việc giác ngộ, dắt dẫn mình, từ thủa mới đứng dưới lá cờ của Đảng.

Anh Lưu,anh Diu dy con đi

Cậu học sinh Nguyễn Kim Thành (tức Tố Hữu), đi vào cách mạng chủ yếu là qua những người cộng sản tốt và qua văn học cách mạng,…nhờ biết kính phục những đồng chí như Phan Đăng Lưu, một đồng chí dũng cảm, có học vấn, sống rất trong sạch” [41]

Anh đã dùng nhiều hình thức để truyền dạy và phổ biến tri thức. Hình thức thường xuyên là chuyện trò, giảng giải tay đôi. Ngoài ra còn có các hình thức khác như: lập tủ sách Tư tưởng mi (ở Huế), tổ chức nhóm đọc sách (ở Huế), tổ chức các lớp “tráng học” ở Vinh, lập Nhà xuất bản Tư tưởng mi ở Đà Nẵng.

Một nhiệm vụ có ảnh hưởng rộng rãi và lâu dài là biên soạn và xuất bản sách, mà chúng tôi sẽ giới thiệu sau đây.

Các sách chính tr kinh tế hc

1. Đông Tùng (bút danh): Xã hi lun, Quan hải tùng thư, Châu tinh ấn quán, Vinh, phố Laga, 1928, 72 trang, khổ 13x19, giá $0,25

2. Hoa Trung (bút danh): Kinh tế hc tiu s, Quan hải tùng thư, nhà in Tiếng Dân, Đường Đông Ba, Huế, 1929, 114 trang, khổ 13x19, giá $0,40.

3.Tân Cương (bút danh): Xã hi tư bn, NXB Tư tưởng mới, (Tua ran) Đà Nẵng, 1937, 32 tr., khổ 13x19.

4. Tân Cương (bút danh): Thế gii cũ và thế gii mi,, NXB Tư tưởng mới, (Tua ran) Đà Nẵng, 1937, 24 tr., khổ 13x19.

5. Bằng Phi (bút danh): Các tướng Hng quân Tàu, NXB Trần Đình Tri, H., 1938, tập sách Dân chúng, 40 tr., 24cm.

6. Bằng Phi (bút danh) dịch: Tiu s Mao Trch Đông, Nhà in Trung Bắc tân văn, H., 1938, 45 tr., 24 cm.

Trong số trên, chúng tôi xin đi sâu hai cuốn:

- Xã hội luận

- Kinh tế học tiểu sử

II. Sách Xã hi lun.

  • Đông Tùng (bút danh): Xã hi lun, Quan hải tùng thư, Châu tinh ấn quán, Vinh, phố Laga, 1928, 72 trang, khổ 13x19, giá 0,25
  1. Tác gi

Sau đây là các tư liệu xác định Xã hi lun do đ/c Phan Đăng Lưu biên soạn, Đông Tùng là bút danh của đ/c:

- GS. Đào Duy Anh đã viết:

Xã hi lun (sách của Đông Phương văn khố) do Phan Đăng Lưu phiên dịch, tập sách này chỉ dựa vào tiến hóa luận của Darwin mà cho độc giả thấy rằng xã hội loài người tiến hóa là do quy luật, chứ không phải do ý muốn chủ quan của con người” (Đào Duy Anh: Nh nghĩ chiu hôm, NXB Trẻ, 2000, tr.35).

Điều quan trọng là cụ Đào đã khẳng định thêm Xã hi lun là tác phẩm của đ/c Phan Đăng Lưu. Tuy nhiên theo chúng tôi, cần khảo sát từ nội dung tác phẩm để xác minh thêm:

- Có phải là “ch da vào tiến hóa luận của Darwin mà cho độc giả thấy rằng xã hội loài người tiến hóa là do quy luật”?

2. Ni dung chính

Sách Xã hi lun gồm 2 thiên:

1.Thiên thứ nhất có các đoạn:

- Cách quan sát xã hội theo sinh vật học

- Cách quan sát xã hội theo sinh vật học đem ứng dụng như thế nào?

2. Thiên thứ nhì, có các đoạn:

- Sinh vật học không đủ thuyết minh xã hội học

- Tinh thần sáng tạo

- Bản tính của xã hội (Phần thứ nhất)

- Phóng nhiệm và xã hội lập pháp

- Bản tính của xã hội (Phần thứ nhì)

- Tiền đồ rực rỡ

1. S sáng to là thiên tính ca loài người

Con vật dù tổ chức tinh vi như ong kiến, cũng chỉ làm theo bản năng, không có sáng tạo, ngược lại sáng tạo là thiên tính của loài người:

“Song dù họ giải thích cách nào mặc lòng, những việc xẩy ra như vậy toàn là chỉ vì một thiên tính của loài người: ấy là tính “biểu hiện tự kỷ” (Self Expression), ấy là tính sáng tạo vậy” (tr.24, Xã hi lun)

“Thú tính loài người nếu không có sức sáng tạo của vũ trụ tưới nhuần, quyết rằng tôn giáo, thi ca, khoa học, chế độ và nghệ thuật không thể nào phát triển được….Tóm lại có thể nói rằng nguồn gốc văn minh tức là sáng tạo.

Sáng tạo nghĩa là đối với hoàn cảnh và mọi sự kích thích, có thể thích ứng một cách tương đương và có ý thức, cũng có thể nói thế này: sức sáng tạo là cái sức biền biệt được con đường chính đáng để mà thực hành. Bởi vậy nên khoa học, văn học, nghệ thuật, tôn giáo đều do sáng tạo mà ra, mà các quan niệm về đạo đức như trung, ái, chính nghĩa, cũng đều do sáng tạo mà ra cả.” (tr. 33, Xã hi lun)

“Đến như sáng tạo là thiên tính của loài người thì hiện đã chứng thực phân minh không thể không công nhận được” (tr.29, Xã hi lun)

2.Duy vt s quan và duy trí s quan

Từ trước, nhiều người thường nhấn mạnh quan điểm duy vật lịch sử (duy vật sử quan). Đúng ra một quan điểm lịch sử đúng đắn phải phải nói rành mạch là bao gồm cả duy vật và duy trí, cả hai tác động vào nhau. Nếu thiên một phía là sai lệch:

“Có kẻ cho rằng bao nhiêu việc đã phát sinh trên xã hội, đều vì vật chất biến động mà ra cả, đó là lấy vật chất hoặc kinh tế mà quan sát lịch sử, duy vật sử quan (interprétation matérialiste de l’hístoire); có kẻ lại cho là vì lý tưởng của loài người mà sinh ra, đó là lấy lý trí để quan sát lịch sử, duy trí sử quan (interprète idéologique de l’histoire). Theo ý ông Ngoạ Đức (Watt) thì bao nhiêu sự thực trong lịch sử đều bởi “vật” và “trí” xúc động nhau mà sinh ra cả, chỉ một “trí hoặc một “vật” không đủ để thuyết minh được xã hội… Bởi vậy cho nên, xét lịch sử mà chỉ theo vật chất, quyết không đủ thuyết minh được lịch sử, cần phải biết, loài người, ngoài sự phản ứng của thú tính lại còn có phương diện tinh thần nữa” (tr.22- 23, Xã hi lun )

3.Cnh tranh và nhân ái

 Nhiều người cho cạnh tranh, đấu tranh là động lực duy nhất của xã hội, thậm chí còn lấy đấu tố trong nội bộ làm biện pháp lớn. Theo tôi, loài người phải đấu tranh nhưng đoàn kết là quan trọng, tình thương, lòng nhân ái là động lực. Điều này, trong Xã hi lun đã nhấn mạnh:

“Cho nên đọc suốt bộ Xã hi tiến hóa s sẽ biết rằng máu cạnh tranh tuy không phút nào không sôi nổi trong quả tim loài người, song cái phạm vi hai chữ “nhân”, “ái” thì ngày càng rộng thêm” (tr.34, Xã hi lun)

“Hiện nay, tinh thần đại đồng chính đang lan tràn khắp thế giới” (tr.25, Xã hi lun)

“Bảo cái đặc tính của xã hội là ở nơi cạnh tranh, thì thực là trái với sự thực” (tr.25)

4.Tín ngưỡng, thn thoi và khoa hc

Tín ngưỡng và thần thoại không hoàn toàn là mê tín lạc hậu, phản khoa học, không là thuốc phiện mê hoặc nhân dân, cần phải một mực bài trừ, đánh đổ, tiêu diệt. Tinh thần của đ/c Phan Đăng Lưu trong Xã hi lun là chọn lấy những hạt nhân hợp lý, và chỉ ra mối quan hệ biện chứng của các phạm trù trên.

- Tín ngưỡng là biểu hiện của lý trí phôi thai:

“Người xưa, đối với những hiện tượng đáng kinh sợ trong trời đất, mù mù mịt mịt, cho rằng trong những thế lực đáng sợ kia, có cái có thế dáng phúc cho mình, có cái có thể dáng họa cho mình. Họ mới tìm cách để cầu cho các thế lực đó nén cơn giận mà rủ lòng thương. Họ làm thế là vì muốn được sống, song cái trực giác của họ đối với sự tồn tại của các thế lực ấy và phương pháp để thờ phụng các thế lực ấy thì chẳng khác gì thơ ca và cầu đảo: đó là cái biểu hiện của lý trí mới phôi thai ra.” (tr. 28, Xã hi lun)

- Thần thoại là mơ tưởng của người xưa:

“Họ lại có nhiều điều mơ tưởng khác thường tỏ rõ ra trong những truyện thần tiên: nào bay trên trời xanh, nào thu ngắn đất lại, nào ngồi một chỗ mà nghe được tin tức ngoài nghìn dặm, nào không có lửa mà đèn tự nhiên sáng,…; nếu những kẻ đặt truyện huyền ảo đó bản ý cốt người đời truyền tụng cho vui, thì đủ biết rằng, họ có sức sáng tạo văn học; nếu như bản ý họ lại là để biểu hiện cái dã tâm (theo T đin Hán –Vit Đào Duy Anh thì “dã tâm là: lòng phóng túng không kiềm thúc được; lòng ham muốn lớn (ambition)” của mình, thì lại càng tỏ rõ rằng họ có lòng phấn tấn sắc sảo. Huống gì, những chuyện đó, hồi bấy giờ chỉ cho là hoang đường, mà ngày nay đã thành ra sự thực rồi. Tàu bay đó, xe lửa đó, máy nói đó, đèn điện đó,…” (tr.29, Xã hi lun)

- Khoa học cũng phải trải qua một thời kỳ mộng tưởng:

“Nguyên khoa học phải trải qua mấy thời kỳ: nào kinh lạ, nào mộng tưởng, nào mê tín, nào thí nghiệm mới được tinh xác, mới có thực dụng; cho nên trước kia thiên văn học chỉ là một cái thuật xem các ngôi sao để đoán điềm lành, điềm xấu, vật lý học trước kia tức là thuật quỷ phép thần; do cái mộng tưởng luyện đá thành vàng mà sinh ra hóa học; do cái thuyết thần ý và hồn phách mà sinh ra tâm lý học” (tr.29, Xã hi lun)

6. Tóm li

6.1.Như vậy, sách Xã hi lun không phải là “ch da vào tiến hóa luận của Darwin mà cho độc giả thấy rằng xã hội loài người tiến hóa là do quy luật”, (Đào Duy Anh) mà nội dung rất phong phú, phong phú hơn thế nhiều.

6.2.Đ/c Phan Đăng Lưu không chỉ là “sở hữu một trí thức uyên bác” (Tố Hữu), mà còn là một trí tuệ rất năng động sáng tạo, trong chỉ đạo thực tiễn đấu tranh, chiến đấu, cũng trong lý luận. Theo dõi cuộc đời của đ/c chúng ta thấy đ/c không máy móc, cứng nhắc, một chiều. Sách Xã hi lun lại một lần nữa chứng minh điều này.

III. Sách Kinh tế hc tiu s

  1. Tác gi

1.1. Sách Kinh tế hc tiu s (Quyển hạ), tác giả ghi bút danh là Hoa Trung, Hoa Trung biên, tủ sách Quan hải tùng thư, in tại nhà in Tiếng dân, năm 1929, đường Đông Ba, Huế.

Qua ý kiến của cụ Đào Duy Anh viết trong sách Nh nghĩ chiu hôm, NXB Trẻ, năm 2000, tr.35, chúng ta biết rằng, đây là sách của đ/c Phan Đăng Lưu: “Tôi cho ra tập Lịch sử học thuyết kinh tế, quyển hạ, do Phan Đăng Lưu lược dịch, theo một bản kinh tế học thuyết sử của Nhật Bản, trong ấy phần cuối cùng là phần quan trọng, giới thiệu học thuyết kinh tế Mác.”

Vậy Hoa Trung đây là bút danh của đồng chí Phan Đăng Lưu, đóng góp của đ/c là “Biên”, chúng ta cần kháo sát trong sách để hiểu “biên” có nội hàm như thế nào?

Sách có 13 chương. Cuối phần chính văn, có mục Những sách tham khảo gồm:

1.Histoire des doctrines économiques (Kinh tế học sử) của Charles Gide.

2.Histoire des idées économiques (History of Economic Thought- Kinh tế tư tưởng sử) của Lewis H.Havey.

3.Les Grands économistes (Đại kinh tế học gia) của Paul Gemabling.

4.Kinh tế học sử khái luận của Bắc- trạch Tân- thứ- lang, Nhật Bản

Để biên/ biên soạn cuốn sách này, đ/c Phan Đăng Lưu đã tham khảo ít nhất 4 cuốn sách nước ngoài gồm tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Anh. Đó là các ngoại ngữ sở đắc của đ/c. Riêng cuốn Kinh tế học sử khái luận của một tác giả người Nhật, cũng là một sách tham khảo, xếp thứ 4. (Cuốn này có lẽ tiếng Trung).

Vậy, để có Kinh tế học tiểu sử, đ/c Phan Đăng Lưu đã biên son, dựa trên các sách nước ngoài nói trên, không phải là: “lược dịch theo một bản kinh tế học thuyết sử của Nhật Bản” ( Đào Duy Anh).

Tác giả đã quá cố, hơn nữa, vì hoạt động cách mạng mà bị trọng án, tịch thu tài sản, nên di sản bị mất mát rất nhiều, dầu còn một mảnh vụn, chúng ta cũng phải trân trọng.

  1. Ni dung tóm tt

1.Các hc thuyết kinh tế kế tha nhau to nên mt lch s liên tc và khi ra đi mi hc thuyết li có mt chc năng nhim v riêng

- Mở đầu lịch sử kinh tế học cận đại là A- đam Si- miết cùng học phái chính thống:

Đ/c Phan Đăng Lưu đã đánh giá cao sự đóng, đi tiên phong của Smith, “đi tiên phong trong sự cống hiến cho kinh tế học lịch sử”: “Công bằng mà nói: Smith đã xác lập được cơ sở kinh tế học tư bản chủ nghĩa. Ta không thể phủ nhận sách Nguyên phú đi tiên phong trong sự cống hiến cho Kinh tế học lịch sử. Cống hiến trọng yếu nhất của Smith là đã tổng hợp và hệ thống tất cả các lý luận ngẫu nhiên và vụn vặt trước đó, lọc lựa cái lõi sáng láng của các học giả và trí tuệ uyên bác của mình để phân tích, sắp đặt lại, dẫn các chứng cứ để minh chứng làm sáng rõ. Từ đó dùng khả năng văn chương lưu hoạt mà diễn đạt thành một học thuyết kinh tế vừa mang tính quán triệt vừa điều hoà các ý tưởng và lập luận của các tiền bối kinh tế học”. (tr.7, Kinh tế hc tiu s)

- Tiếp đến là Robert Thomas Malthus, và các học thuyết khác kế tục:

- Ricardo

- Stuart Mill

- Bastiat và tư tưởng kinh tế nước Pháp

- Carey cùng học thuyết kinh tế Mỹ

- Chủ nghĩa xã hội

- Karl Marx

- Phái lịch sử

- Phái Áo Đại Lợi

- Chủ nghĩa vô chính phủ

- Chủ nghĩa Bôn sê vích

- Khuynh hướng của tư tưởng kinh tế hiện đại.

2.Có các thành t quán xuyến qua các hc thuyết là:

- Luận về phân công, còn gọi là phân nghiệp

- Luận giá trị,bao gồm sử dụng giá trị và giao hoán giá trị

- Luận về địa tô

- Luận về sở đắc (revenus), bao gồm luận về công tư (salaire), luận về lợi nhuận (profite) và luận về lợi tức (interêt)

 - Luận về phân phối ….

Các học thuyết thường đề cập đến các vấn đề trên, thống nhất hoặc không cũng từ các nội dung đó.

3..Kế tha là hot đng ni ti các hc thuyết, đng thi quan trng là chúng chu s chi phi ca kinh tế - xã hi

Sinh thời của Malthus, “hình thế chính trị nước Anh ảm đạm, địa vị kinh tế bi quan, trạng thái xã hội giao động vô định một cách phi thường”, là cơ sở của sự ra đời nhân khẩu luận:

“Thời đại và hoàn cảnh sinh ra Robert Thomas Malthus. Đương thời hình thế chính trị nước Anh ảm đạm, địa vị kinh tế bi quan, trạng thái xã hội giao động vô định một cách phi thường. Những cuộc chiến tranh trọn tháng, suốt năm khiến đảm phụ của quốc dân thêm nặng gánh, căn nguyên của sinh hoạt kinh tế bị đình trệ và xáo trộn. Gia dĩ những buổi cơ hoang (cơ hoang= mất mùa đói kém, T đin Hán- Vit, Đào Duy Anh) khiến giá lúa quá cao, lại theo đó mà sinh ra dịch lệ lưu hành, khiến các sinh hoạt của giai tầng vô sản bị hãm vào trạng thái khốn cùng quá sức chịu đựng. Những dân chúng đói khổ, tuyệt vọng với cuộc đời, nên lúc nào cũng sẵn có tư tưởng bất mãn và ý muốn bạo động. (tr.8, Kinh tế hc tiu s)

Thời của Ricardo, xã hội có nhiều biến động xấu, chiến tranh của Napoleon gây ra liên miên khắp nơi trên thế giới, đau thương và đổ nát tràn lan thế giới suốt ngày tháng đêm thâu. Hệ lụy làm nông dân phải chịu đảm phụ ngày càng nặng nề, giai cấp vô sản mất việc, không lương bơ vơ cuộc sống. Lại thêm công nghiệp ngày càng phát triển thì phú quyền ngày càng dồn vào tay đám tư bản, quan lại….Đây là nền tảng phát sinh lý luận về phân phối sản vật của Riardo:

 “Như vậy, vấn đề phân phối sản vật, tài phú thế nào đặt ra nhu cầu cấp thiết to lớn và bức bách. Ricardo chứng kiến tình hình xã hội và nền kinh tế đương thời. Chính nền kinh tế và tình hình thời đại đã sản sinh phát kiến lý luận về phân phối sản vật.” (tr.13, Kinh tế hc tiu s)

4.Vy cho nên mt hc thuyết ra đi hay li tàn có nguyên nhân

Xã hội của Malthus, như đã nói ở trên, là nền tảng của nhân khẩu luận.

“Những kẻ thức giả đương thời đều thừa nhận rằng xã hội đã hãm vào trạng thái cùng bức, thế nào cũng phải cải lương. Trong không khí kinh tế ở một xã hội như thế, xuất hiện luận “NHÂN KHẨU” của Thomas Malthus, thực sự không phải quá lạ.” (tr. 11, Kinh tế hc tiu s)

Học thuyết của Mill là đỉnh cao của trường phái chính thống, nhưng Mill cũng nhận ra sự ra đời tất yếu của các học thuyết XHCN.

 “Kinh tế học của trường phái chính thống đến Mill là đã đạt tới đỉnh điểm và tại đây bộc lộ nhiều triệu chứng suy đồi. Và chính Mill đã cải chính những điều đã mậu ngộ trong tư tưởng kinh tế của trường phái chính thống để mở đường cho tư tưởng kinh tế của trường phái xã hội chủ nghĩa non trẻ phát triển.” (tr.20, Kinh tế hc tiu s)

5. Theo quy lut chung trên, ch nghĩa Mác, tt yếu ra đi, không phi là đt khi mà kế tha và ph đnh các hc thuyết trước đó.

Tình trạng người lao động bị áp bức khốn cùng khiến cho học thuyết cổ điển/ chính thống bị suy vi và sự ra đời của các học thuyết XHCN là một tất yếu,

 “Đại đa số trong xã hội là giai cấp vô sản vô luận về phương diện chính trị hay kinh tế, đều bị áp bức và khốn cùng khôn xiết. Nếu xã hội đã đến mức như thế thì cái học thuyết kinh tế và tổ chức kinh tế ấy - tự do phóng nhiệm và tư hữu tài sản làm tiền đề, (A. Smith và các học thuyết chính thống), không khỏi không có tư trào phản kháng. Cái tư trào ấy, chính là tư tưởng kinh tế của xã hội chủ nghĩa.” (tr.26, Kinh tế hc tiu s)

Học thuyết XHCN hiện thực là sự kế thừa và phủ định quá trình lịch sử của kinh tế học trước đó:

“Thuyết giá trị thặng dư không phải do Karl Marx sáng tạo ra, trước đó đã có một số học giả như: Godwin, Ricardo đã nói qua. Nhưng Ricardo cho rằng người lao động mà được tiền công không xứng với thời gian làm việc, đó là pháp tắc tự nhiên, đó là hiện tượng xã hội không thể tranh đấu được. Còn Karl Marx thì cho rằng sở dĩ có hiện tượng ấy là vì nhà tư bản chiếm đoạt lao lực của người lao động. Và ông yêu cầu triệt phế lý thuyết và tổ chức kinh tế tư bản chủ nghĩa hiện tại để thay vào lý thuyết và tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa để trong xã hội không có hiện tượng xấu xa làm bất công uất ức ấy nữa.” (tr.32, Kinh tế hc tiu s)

“Muốn lý giải học thuyết kinh tế của Karl Marx mà không nói đến duy vật sử quan thì không thể lý giải được. Xuất xứ thuyết duy vật sử quan không phải do Karl Marx sáng tạo ra, trước đó Thánh Simon, cùng Proudon đã từng nói đến. Nhưng lấy duy vật sử quan mà mà giải thích lịch sử phát triển tiến hoá của nhân loại là cống hiến đặc biệt của Karl Marx.” (tr.33, Kinh tế hc tiu s)

 

Chương thứ tư

SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TÌNH CẢM CÁCH MẠNG QUA SÁCH

“THI VĂN CÁC NHÀ CHÍ SỸ VIỆT NAM”

Gii thiu b cc

Chương thứ tư gồm có các đoạn như sau:

1.Phi Bằng là bút danh đ/c Phan Đăng Lưu

2.Hoàn cảnh ra đời của bộ sưu tập này và soạn giả của nó.

3.Mối quan hệ văn chương với lịch sử và chính trị

4.Tiêu chí của văn chương có giá trị/hay

5. Quan tâm đến sinh hoạt và môi trường của thơ ca

6.Chân dung các chí sỹ

7.Trường hợp đại chí sỹ- cụ Nguyễn Trường Tộ

1. Phi Bng là bút danh đ/c Phan Đăng Lưu

Sách Thi văn các nhà chí s Vit Nam (viết tắt là Thi văn…), NXB Tân Thanh, Huế, 1939, là do đ/c Phan Đăng Lưu, biên son, ly bút danh Phi Bng. Các tài liệu sau đây công bố nội dung trên:

1. Tng tp văn hc Vit Nam:Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; Tổng chủ biên phần văn học cách mạng: Hồng Chương; chủ biên tập 35: Phong Châu:, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. Trong sách ghi: “Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo các báo Sông Hương tc bn,Dân, Nhà xuất bản tư tưởng mới ở Đà Nẵng và viết nhiều bài nghị luận chính trị…Phan Đăng Lưu thường dùng các bút danh: Đông Tùng,. Phi Bằng, Bằng Phi, Tân Cương, Sông Hương, Dân,…; và nhiều bài viết không ký tên” (ở tr. 361)

Và ở tr. 362 ghi: “Những tác phẩm của Phan Đăng Lưu gồm:

- Xã hi tư bn, Tư tưởng mới xuất bản, Tua ran, 1937.

- Thế gii cũ và thế gii mi, Tư tưởng mới xuất bản, Tua ran, 1938.

- Thi văn các nhà chí s vit Nam, Tân Thanh xuất bản, Huế, 1939.”

2. Sách Đng chí Phan Đăng Lưu, tác giả: Ngô Nhật Sơn:, NXB Nghệ Tĩnh, 1987. Trong sách ghi: “Tuy rất bận công việc Đảng, anh vẫn tranh thủ thì giờ tập hợp được một số thơ văn yêu nước và cách mạng, cho xuất bản dưới đầu đề Thi văn các nhà chí s Vit Nam, lấy tên Phi Bằng” (tr. 39)

3. Sách của Nguyễn Thành; Đng chí Phan Đăng Lưu, tiu s- tác phm, NXB Thuận Hóa, 1998; ghi: “Phan Đăng Lưu sưu tầm thơ văn của các nhà yêu nước tiền bối, biên soạn cuốn Thi văn các nhà chí s Vit Nam,, bút danh là Phi Bằng[42], do nhà in Tiếng Dân in năm 1939; Huỳnh Thúc Kháng, bút danh Tha Sơn Thạch viết lời tựa” (tr.50)

4. Sách Phan Đăng Lưu Tiu s, Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên (theo Quyết Định số 1721- QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6- 2009): NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015. Trong sách ghi: “Phan Đăng Lưu với bút danh Phi Bằng, đã sưu tầm văn thơ của các nhà yêu nước tiền bối, biên soạn cuốn Thơ văn các nhà chí s Vit Nam, in tại nhà in Tiếng Dân, năm 1939; do Huỳnh Thúc Kháng (bút danh Tha Sơn Thạch) đề tựa.” [43]

5.Trần Quỳnh: Đng chí Phan Đăng Lưu, trong sách Một lòng vì Đảng vì dân”, NXB Thuận Hóa, Huế, 1994 viết: “Với bút danh Phi Bằng, anh Lưu đã biên soạn và viết bài giới thiệu Thi văn các nhà chí s Vit Nam. Bằng bút pháp độc đáo, những bài anh viết ra được bạn đọc Huế rất ưa thích” (tr. 64)

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, bút danh Tha Sơn Thạch, đã đánh giá cao sách Thi văn các nhà chí s Vit Nam, coi sách ấy đã “lưu dấu vết về một thời dĩ vãng”, giúp ích cho học giới- sử giới”. Cụ / viết:

“Riêng món thi văn, báo Tiếng Dân có góp nhặt được nhiều ít, nhưng linh tinh từng số, không tiện cho nhà khảo cứu. Nay ông Phi Bằng, được nhà báo Tiếng Dân đồng ý, gia công góp nhặt thêm và sắp đặt có thứ tự, mà in thành sách, lưu một dấu vết về thời đại dĩ vãng.

Quyển “Thi văn các nhà chí s Vit Nam này đáng gọi là thứ sách có giúp ích cho học- giới, sử- giới vậy” (Tha Sơn Thạch - Huỳnh Thúc Kháng, - Lời tựa, sách Thi văn…).

Sách Thi văn các nhà chi s Viêt Nam, chủ yếu là một bộ sưu tập thi ca. Tuy nhiên, qua đây có thể cho chúng ta biết một số quan niệm của tác giả, “một trí thức uyên bác” (Tố Hữu), “một nhà lãnh đạo cách mạng xuất sắc” (Vũ Văn Thuấn) “lỗi lạc”; về các vấn đề sau:

- vai trò của thơ ca cách mạng, yêu nước,

- mối quan hệ giữa văn chương và lịch sử, văn chương và chính trị,

- tiêu chí đánh tác phẩm văn chương.

- tính sinh động và chân thực của một bộ sưu tập

- …

2. Hoàn cnh ra đi ca b sưu tp này và son gi ca nó.

Phan Đăng Lưu sưu tầm thơ văn của các nhà yêu nước tiền bối, biên soạn cuốn Thi văn các nhà chí sĩ Vit Nam, Quyển nhất, bút danh là Phi Bằng do Nhà xuất bản Tân Thanh, Huế, xuất bản, nhả in Tiếng dân in cuối tháng 3 năm 1939. Cuốn sách này do Huỳnh Thúc Kháng, bút danh Tha Sơn Thạch viết lời tựa. Sách giới thiệu 22 người yêu nước nổi tiếng chống thực dân Pháp xâm lược, mở đầu là Nguyễn Đình Chiểu, kết thúc là Lê Đại. Mỗi người có tóm tắt cuộc đời, sự nghiệp, tác phẩm, kèm theo những lời bình luận ngắn ca ngợi khí phách của tác giả. Những bài thơ có phần chữ Hán và dịch ra quốc văn của người biên soạn. Đây là một tác phẩm lịch sử chính trị văn học rất có giá trị để bồi dưỡng tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất của các bậc chí sĩ cho thế hệ đương thời và mai sau.

Sự đánh giá về mỗi tác giả được chọn và giới thiệu trong tập sách của Phan Đăng Lưu có tính khách quan và khoa học, không hô hào một chiều. Những luận điểm của đồng chí đưa ra thuyết phục người đọc bằng những chứng minh đầy đủ luận cứ. Trong việc sắp xếp, khảo cứu, Phan Đăng Lưu quan tâm đến các tác giả ở các vùng miền, cả nam và nữ. Nhân vật nữ sỹ Tú Ý, mọi người còn biết ít đến, nhưng đã được Phan Đăng Lưu giới thiệu trân trọng: “người đương thời chẳng những kính phục bà vì nghĩa khí mà còn vì văn tự nữa”[44]

Ngoài ra, với bút danh Bằng Phi, Phan Đăng Lưu còn viết bài nhan đề “Văn thơ của các chí sĩ Việt Nam” đăng trên tạp chí Đông Phương do Nguyễn Văn Tây, một trí thức cộng sản làm Tổng biên tập, xuất bản ở Mỹ Tho2. Bài đầu đăng trên số 5, ngày 15 - 4 - 1939, có phần giới thiệu khái quát thế nào là nhà chí sĩ và giá trị của văn thơ họ:

“Nhà chí sĩ tức là những người suốt đời cúc cung tận tụy vì dân vì nước. Nhà chí sĩ tức là tinh túy của một dân tộc. Hoạt động của họ luôn luôn nhằm vào một mục đích: “làm cho Tổ quốc được vẻ vang, dân chúng được tự do sung sướng”.

“Bởi thế nên văn thơ của họ khẳng khái lâm ly, khiến người đọc, kẻ nhu nhược trở lên cứng cáp, kẻ sẵn có khí phách càng hứng khởi thêm. Văn thơ của họ có cái sức mạnh như một quả bom, một tiếng sét”.

Tiếp theo, bài giới thiệu tiểu sử cụ Phan Đình Phùng và bài thơ cụ sáng tác ngày Một tết Mậu Tý (1888), có phần phiên âm chữ Hán và dịch ra thơ lục bát.

Tác giả định viết làm nhiều kỳ, nên cuối bài có chữ  “Còn nữa” không hiểu tại sao, không thấy tạp chí đăng tiếp ở số sau[45]

3.Tiêu chí ca văn chương có giá tr/hay

Đ/c Phan Đăng Lưu xuất bản sách Thi văn… vào năm 1939. Bản thảo có thể được chuẩn bị trước đó ít lâu. Đây là lúc bên Pháp, chính phủ bình dân đã thất bại, chính quyển thực dân Pháp ở Đông Dương chuyển sang chính sách đàn áp, trừng trị những người cách mạng. Đ/c Phan Đăng Lưu là chính trị phạm, cộng sản, bị an trí ở Huế, mỗi bước đi của đ/c đều bị theo dõi. Hiện chúng tôi có hồ sơ về tình trạng này.

Ngoài ra năm 1939 là năm đ/c rất bận rôn, trong không khí nước sôi lửa bỏng của nhiệm vụ chuyển hướng chiến lược của Đảng, (tháng 11- 1939, hội nghị Trung ương VI). Vì những lý do trên, sách Thi văn…không thể thỏa mãn soạn giả và cũng không thỏa mãn độc giả. Chúng ta thấy, bìa đề Quyển nhất, nghĩa là soạn giả rất mong muốn và đồng thời có khả năng tiếp tục quyển nhì, quyển tam,… Nhưng không thể được. Sự tham khảo cũng có hạn, thì giờ đâu mà tra cứu.

Trong hoàn cảnh như vậy đ/c vẫn xuất bản sách Thi văn…, chứng tỏ đ/c xác định, thơ văn yêu nước cách mạng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục lòng yêu nước cho quần chúng nhân dân. Ngay bản thân đ/c, vào giờ phút bi tráng, thiêng liêng nhất của đời mình, giờ bước ra pháp trường, cũng đã dùng câu đối của Trần Hữu Lực, được sưu tập trong cuốn “Thi văn…” để thổ lộ tâm can.

Sau đây là lời Trần Ngọc Điệp, người bạn tù ở cùng xà lim với Phan Đăng Lưu, người chứng kiến phút cuối cùng của ông, sau này kể lại: “Tối khuya hôm ấy, đêm 23 rạng ngày 24- 6, khi bữa cơm cuối cùng dành cho người tử tù được đưa đến xà lim chúng tôi, tôi tin rằng, thế là đến lúc anh phải ra đi. Dưới ánh đèn đỏ đọc, bữa cơm như chan máu và Phan Đăng Lưu không hề đụng đũa. Thời khắc qua đi, nặng nề nghẹt thở. Còn anh, vẫn như thói quen thường ngày, đi đi lại lại trong xà lim, những bước đi trầm lặng, bồn chồn vốn có. Trong tâm trạng bời bời, tôi thầm cầu mong anh nói một điều gì, không phải cho anh, mà cho tôi, cho chúng tôi….Nhưng không, tuyệt nhiên không!...Bỗng nhiên tiếng phanh ô tô hực lên ngoài sân, tiếng giày đinh thô bạo, rồi tiếng xích khóa xà lim rít lên. Cửa bật mở, Phan Đăng Lưu dừng bước, nhìn tôi…Bỗng nhiên, tiếng anh rành rọt, trầm tĩnh vang lên:

Giang sơn dĩ tử, ngô yên đắc thâu sinh, thập niên lai luyện kiếm ma đao, tráng chí thệ phù hồng Tổ quốc;

Vũ dực vị thành, sự hốt nhiên trung bại, cửu tuyền hạ điều binh khiển tướng, hương hồn ám trợ thiếu sinh quân.

(Non sông đã chết, mình há nỡ sống thừa, trên mười năm mài chùi súng gươm, chí cả quyết vùa nền tổ quốc;

Lông cánh chưa đều, việc giữa đường vội hỏng, dưới chín suối điều binh khiển tướng, hồn thiêng ngầm giúp đội thanh niên.)

Và Trần Ngọc Điệp kể tiếp: cái nhìn trang nghiêm, đắm đắm, cái phẩy tay cuối cùng, có thể cả cái nhếch mép thoáng qua…Tất cả đều biến mất khi cửa xà lim sập lại, chỉ còn lại với tôi, giọng đọc trang trọng của anh, đôi câu đối của một chí sỹ hồi đầu thế kỷ. Đó là lời nhắn gửi cuối cùng của anh đối với chúng tôi” [46]                                                                                     

4.Mi quan h văn chương vi lch s và chính tr

 Về vấn đề này, đ/c Phan Đăng Lưu viết: “Đọc thi văn các nhà chí sỹ Việt Nam trong khoảng trên 70 năm nay, chúng ta nhận thấy trong thời gian ấy, tư tưởng chính trị Việt Nam đã trải qua những cuộc biến đổi, ăn rập với cuộc tiến hóa của trào lưu tư tưởng thế giới và quyết định bởi hoàn cảnh khách quan trong xứ, có thể phân tách và chia ra làm ba thời kỳ:

1.Thời kỳ cần vương: Văn chương trong thời kỳ này rặt một giọng cần vương nhương di (cứu viện nhà vua, đuổi giặc ngoại xâm).

2. Thời kỳ chủ nghĩa dân quyền và chủ nghĩa dân tộc: Trong thi ca thường ca tụng Lư thoa, Mạnh đức là những học giả đã xướng lên thuyết dân quyền.

3.Thời kỳ chủ nghĩa xã hội: Từ vài mươi năm lại đây, tư tưởng lại khuynh hướng về chủ nghĩa xã hội. Đảng phái xã hội kế tiếp nhau thành lập; sách báo xã hội đua nhau xuất bản.

Văn thơ các nhà chí sỹ như ông Phan Bội Châu, ông Huỳnh Thúc Kháng cũng luôn luôn săn sóc, nhắc nhủ tới giai cấp cần lao”.

(Phi Bằng - Phan Đăng Lưu, Mấy lời nói đầu, sách Thi văn…,)

Chỉ trong một đoạn ngắn, chúng ta thấy quan niệm của đ/c về văn chương rõ ràng có mấy điểm như sau:

- Văn chương bị chi phối, ảnh hưởng bởi tư tưởng chính trị của thế giới và trực tiếp bởi hoàn cảnh khách quan trong xứ, như thế là có hai mức độ ảnh hưởng khác nhau, không thể đánh đồng.

- Tư tưởng chính trị có ảnh hưởng nhưng không đồng nhất với văn chương và như vậy chính trị có lịch sử phát triển của chính trị, còn văn chương có lịch sử của văn chương.

Đ/c Phan Đăng Lưu đã trình bày quan điểm của mình cách đây 76 năm, trong khoảng thời gian đó có cuộc tranh luận sôi nổi “nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh”.

Cụ Phạm Quỳnh đưa ra luận điểm: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn”. Cụ nghè Ngô Đức Kế thì đấu tranh lại quyết liệt. Còn luận thuyết về mối quan hệ chính trị và văn chương còn được thảo luận dài dài cho đến sau kháng chiến.

Theo chúng tôi, những vấn đề trên đã được đ/c Phan Đăng Lưu có cách lý giải riêng, rành mạch, ngắn gọn mà đầy đủ. Kết thúc bài giới thiệu Thi văn các nhà chí s Vit Nam, đ/c còn khẳng định lại: “Như đã nói trên, tư tưởng chính trị Việt Nam biến đổi tùy theo cuộc tiến hóa của tư trào thế giới và hoàn cảnh khách quan trong xứ. Tuy vậy, một điều chúng ta cần nên nhận rõ là dù thời thế đổi thay, tư tưởng không đồng, song các bậc tiền bối chúng ta vẫn nhằm một mục đích thiêng liêng: tranh tự do độc lập cho dân tộc mình” (My li nói đu, sách Thi văn…,)

Đ/c Phan Đăng Lưu là người nghiên cứu rất sớm kinh tế học Marx qua tài liệu Âu tây, ắt hẳn nắm vững luận thuyết thượng tầng và hạ tầng, mối quan hệ giữa chúng, ảnh hưởng của máy hơi nước và máy in đối với văn hóa nghệ thuật,v.v…. tóm lại là “kinh tế quyết định luận”. Tuy nhiên đ/c không “xài tươi” các thứ đó. mà vận dụng chúng rất sáng tạo và uyển chuyển. Đ/c Phan Đăng Lưu- trí tuệ tuyệt vời.

Sau đây là một số nhận định, đánh giá văn thơ các chí sỹ, của đ/c Phan Đăng Lưu:

- Về cụ Đặng Thế Thân: “văn chương của ông hùng hồn, bi tráng; người đương thời chẳng những phục ông vì cái chí khẳng khái và tính người trầm tĩnh; mà còn phục ông văn tài lỗi lạc nữa (Thi văn…, tr.88)

- Về cụ Hoàng Trọng Mậu: “Lúc ở Tàu, ông Sào Nam viết quyển Việt Nam sơ khảo, đưa cho ông Hoàng Trọng Mậu phê bình,, ông phê bình nhiều câu xác đáng, và sau hết, có kết thúc mấy lời nghe thống thiết” (Thi văn…, tr. 94)

- Về cụ Ngô Đức Kế: thơ ông cũng hay, nhứt là thơ tứ tuyệt “bài nào cũng trầm thống và khẳng khái, nghe rất tự nhiên, như ai làm cũng được, mà kỳ thực ở trong nấu nướng hun đúc rất công phu”, Thi văn…, tr.105)

- Về cụ Lê Đại: thơ ông tao nhã, trôi chảy nhẹ nhàng và có ý hài hước/nghịch ngợm (Thi văn… tr. 132). Ví dụ:

+ Kệ thây chúng nó, thi mà chi, đỗ cũng mà chi; từng đòi phen quen thú phong lưu, nào là rượu đầy bàn, đàn đầy vách, sách đầy án, bạn đầy nhà,nghênh ngang phong nguyệt bốn mùa, ai có lạ gì phường mặt trắng;

Còn có lũ mình, tội cũng vậy, tù mà cũng vậy; may gặp lúc xoay nên thời thế, thử xem miệng như tép, mép như rồng, tiếng như cồng, mắt như đuốc, xốc vác giang sơn một gánh, làm cho xong việc, ta về hỏi thử bạn non xanh.

(Lê Đại- Ở tù mừng bạn thi đỗ, Thi văn… tr. 135- 136)

+ Bốn bể gặp người tri kỷ, bước phong trần mây nước bỗng chia đôi, tôi may về còn sống, bác cũng may sống mà về, thôi chi bằng lên đỉnh non xanh, ba chén rung đùi, mặc kệ ngũ châu kim thế giới;

Trăm năm tính bạn sinh nhai, vòng tuế nguyệt, tuyết sương đà quá nửa, trước lấy nước làm nhà, sau hóa lấy nhà làm nước, kìa chẳng thấy trên thềm tóc bạc, suốt ngày quanh gối, sướng hơn nhất phẩm đại triều đình.

(Lê Đại- Mừng bạn ở tù về làm nhà mới, Thi văn… tr. 136)

- Bàn về cụ Hồ Quý Châu: “Ông Hồ Quý Châu người làng Quỳnh Đôi, tỉnh Nghệ An, người thông minh có tiếng, hay chữ đã sớm, tính khẳng khái, tuy nhà nho mà tư tưởng vượt ra ngoài khuôn sáo Khổng học- PĐN in nghiêng”( Thi văn… tr.59)

- Về cụ Nguyễn Thành: “Ông chuyên về thực học, ít làm văn thơ, song ông là người có chí khí lớn, có tín ngưỡng sâu xa, nên mỗi lần cảm xúc mà ngâm vịnh thì vượt hẳn ra ngoài khuôn sáo, khác hẳn với bọn văn sỹ tầm thường - P.Đ.N. in nghiêng” (Thi văn… tr.64)

- Về cụ Nguyễn thượng Hiền: “Ông mất năm 1927, thọ 61 tuổi. Văn thơ ông lời tao nhã, ý thâm trầm, đọc nghe khoái trá, nhẹ nhàng. ” (Thi văn… tr. 74).

Tóm lại, theo đ/c Phan Đăng Lưu, thơ hay phải vượt ra ngoài khuôn sáo Khổng học, nhận xét đánh giá thơ không phải là tầm chương trích cú, chẻ nhỏ ra theo niêm luật, bằng trắc, âm vận…. Mặt khác, không lấy đôi kính tư tưởng, lập trường mà soi. Đ/c quan niệm, văn chương có giá trị là sự hòa đồng nhuần nhuyễn giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, đem lại một cảm xúc thẩm mỹ mạnh mẽ và sâu sắc: “hùng hồn, trầm thống, khảng khái, bi tráng, lời lẽ thống thiết, ý tứ dồi dào, quan sát một cách sáng suốt rộng rãi, tham khảo đủ ý tứ đông tây, tao nhã, thâm trầm, khoái trá, nhẹ nhàng,…”.

Theo chúng tôi, đây là phương pháp nhận định, đánh giá thi ca theo thi pháp học từ thời Aristote; hay là nói về Á Đông, theo Lưu Hiệp, đòi hỏi sự nhuyễn luyện giữa “tâm” và “long” giữa “dụng tâm” và “điêu long”, ….mà mấy thập kỷ gần đây chúng ta khôi phục lại. Phương pháp tiếp cận trên, trong sách Thi văn… đã được thực hiện cách đây 76 năm mà đến nay vẫn cập nhật.

Phương pháp tiếp cận trên đây khác xa luận thuyết thô thiển được gọi là “hình thức cũ, nội dung xã hội chủ nghĩa”, hoặc là “bình cũ, rượu mới”….., đã chặt đôi không thương tiếc một thân thể thơ ca ra làm nội dung và hình thức, cái được đựng và cái để đựng.

5.Quan tâm đến sinh hot và môi trường ca thơ ca

Một số bài thơ thường có hoàn cảnh ra đời, môi trường tồn tại riêng, đ/c Phan Đăng Lưu thường lưu ý giới thiệu những điều trên khiến cho người đọc hiểu cuộc đời của chí sỹ hơn, hiểu nội dung thơ ca và đồng thời sự tiếp xúc với thơ ca sinh động và chân thực hơn. Sau đây là một số ví dụ:

  • Thơ cụ Huấn Đặng được tặng thuốc lá ở Côn đảo

“Những chính trị phạm ở Côn Lôn hồi ấy, hầu hết là những người có danh phận, nhưng kẻ quan tước thì ông Đặng (Đặng Nguyên Cẩn) to hơn cả, vì trước ông làm đốc học, bởi thế ở đảo, từ lính ma tà cho đến các phạm nhân đều gọi ông là quan đốc. Một hôm, ông cùng với vài người nữa, đương ngồi đan đệm ở nơi hàng ba, thấy người lính ma tà dẫn hai người đàn bà đi qua, có một người trông vẻ mặt cũng sạch, chừng 25 tuổi, nhìn rồi hỏi: ai đây là quan đốc?

Ít hôm sau, một người tù thường cầm một đẫy thuốc lá đưa cho ông và nói, đó là của người đàn bà bữa trước gửi làm qua tặng ông. Nhân đó ông có bài thơ:

Tóc xanh răng trắng, gái thuyền quyên

Dạo bước sen vàng thoảng trước hiên

Động Khẩu vô tình kêu Nguyễn Triệu

Nam Minh có khách biết Hồ Thuyên

….(Trích)” (Thi văn… tr.83)

- Thơ cụ Nguyễn Quyền cắt búi tóc

- “Phen nầy cắt tóc đi tu

Tụng kinh độc lập ở chùa duy tân

……..(Nguyễn Quyền)

Bài này viết lúc ông với ông Phan Chu Trinh rủ nhau đi hớt búi tóc”

 (Thi văn… tr. 128)

- Thơ diễu ông tú Nguyễn Duy Viên.

“Trong bọn tù, có ông tú Nguyễn Duy Viên, người Bình Định, tính nghiền cờ bạc, có lúc không có tiền đánh, song ông cũng cứ ngồi xem suốt đêm. Ông lại có tính thích ăn ớt (hột cay), thường nói:”Ớt cay ngon hơn thịt”. Một bữa ăn nọ, có dọn thịt gà và thịt heo cùng cá khô, có vẻ sang, lại có đĩa ớt trái. Ông Siêu Tùng (Lê Đại) chơi xỏ, nhắc lại câu ông tú thường nói. Ông nầy giận lắm, đành ăn cá khô với ớt vậy. Ông Siêu Tùng có bài thơ nhạo:

Mình sánh Tào Giao tám thước dài

Miệng như nước chảy, lưỡi dao phay

Bình sinh đáo để nghiền hai cái

Xem mãn sòng chơi, xực ớt cay.” (Thi văn…tr. 133)

Ha bài thơ ca bà Hun (Hun Quyn)(1)

Cầu trời cầu biển quản gì công,

Dệt gấm khi nao mượn má hồng.

Đuổi đập kình nghê muôn lớp sóng,

Đứng trơ mưa gió một chùm thông,

Hỏi han ả Lý vừng trăng bạc

Chờ đợi nàng Tô chén rượu nồng,

Đắp lạnh quạt nồng ai đó tá?

Hiếu tình này vẫn hiếu tình chung.

(Nguyễn Quyền, Thi văn… tr.131)

 (1) Bài thơ của bà Huấn tiễn chân bà Hoàng Tăng Bí theo chồng vào Kinh. Ông Hoàng cũng bị bắt một lần với ông Huấn, nhưng được ông Cao Xuân Dục là nhạc phụ ông, lúc ấy làm Thưọng thơ bộ Học, bảo lãnh cho vào ở Huế. Bài thơ tiễn ấy như sau đây:

Chỉ thêu nên gấm dám nài công,

Bạn chị em ta mãnh má hồng.

Mặt nước kìa ai câu bọt bể,

Chùa nhà riêng những quét hoa thông.

Méo tròn thử vẽ vừng trăng bạc,

Cay đắng xin vơi chén rượu nồng.

Say quít lại cười, cười lại bảo:

Ơn riêng nầy chớ phụ tình chung.

 Khóc bà Phan Bội Châu

 - Nghe nói bà gian truân hiền phụ, chồng vắng nhà lo tính vẹn trăm đường, nhà còn tê, chồng hãy còn tê, dâu bể cuộc tàn, vùi đất ngàn thu khôn nát ngọc;

Nhắn hỏi ông thất bại anh hùng, vợ với nước thương yêu cùng một mối, nước như rứa, vợ nay như rứa, non sông khí uất, đập trời một tiếng muốn quăng gươm.

(Lê Đại-, Thi văn… tr. 137)

Mừng bạn ở tù về làm nhà mới

+ Bốn bể gặp người tri kỷ, bước phong trần mây nước bỗng chia đôi, tôi may về còn sống, bác cũng may sống mà về, thôi chi bằng lên đỉnh non xanh, ba chén rung đùi, mặc kệ ngũ châu kim thế giới;

Trăm năm tính bạn sinh nhai, vòng tuế nguyệt, tuyết sương đà quá nửa, trước lấy nước làm nhà, sau hóa lấy nhà làm nước, kìa chẳng thấy trên thềm tóc bạc, suốt ngày quanh gối, sướng hơn nhất phẩm đại triều đình.

(Lê Đại, Thi văn… tr. 136)

6.Chân dung các chí s

Sách Thi văn… đã công bố được 5 tấm ảnh chân dung 5 vị chí sỹ. Việc này phải được đánh giá là một cố gắng quan trọng. Về phương diện kỹ thuật, thời bấy giờ ảnh hiếm và in khó. Vả lại tất cả đều là chân dung của các vị bị gọi là “chính trị phạm”, được trưng một loạt trên sách, ắt hẳn không mát mắt nhà cẩm quyền thực dân và quan lại.

Tuy nhiên hiệu quả của các tấm ảnh chân dung này khá lớn, qua đó chúng ta được chiêm ngưỡng hình tượng những bậc anh hùng của dân tộc, chúng ta càng gần gũi họ hơn, thấm thía thơ ca họ hơn.

Các ảnh chân dung đó là:

- Cụ Nguyễn Thượng Hiền

- Cụ Phan Châu Trinh

- Cụ Ngô Đức Kế

- Cụ Lê Văn Huân

- Cụ Nguyễn Quyền

7. Trường hp đi chí s- c Nguyn Trường T

Đ/c Phan Đăng Lưu vô cùng hâm mộ, tín ngưỡng, sùng bái tất cả các nhà chí sỹ. Vì vậy trong hoàn cảnh gian nan hiểm nghèo đ/c vẫn sưu tập biên soạn được sách Thi văn các nhà chí sĩ Việt Nam. Tuy nhiên chúng tôi đọc thấy một trong những chí sĩ cao cấp là cụ Nguyễn Trường Tộ, được đ/c tôn xưng là mt nhà đi chí s, mt nhà đi chánh tr, đi văn hc:

“Nước ta, giữa đời Tự Đức, ở phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, nảy ra mt nhà đi chí s, vừa lại là mt nhà đi chánh tr, đi văn hc, (P.Đ.N. in đậm), ấy là ông Nguyễn Trường Tộ” (Thi văn… tr.17)

Rõ ràng là đ/c có biệt nhãn với cụ Nguyễn. Vậy thử xem quan niệm của đ/c Phan Đăng Lưu thế nào là đc/ đại chí sỹ, qua trường hợp cụ thể là cụ Nguyễn Trường Tộ.

Theo Phan Đăng Lưu, chí sỹ, - một kiểu người lý tưởng đương thời,- tiêu chí cao nhất và trước hết là yêu nước, cụ thể ở 3 phương diện:

- chí hướng, lý tưởng là “suốt đời cúc cung tận tụy vì dân vì nước” (Phan Đăng Lưu: Văn thơ của các chí sỹ Việt Nam, Tạp chí Đông Phương, số 5 ngày 15- 4- 1939)

- giá trị, phẩm chất là “tinh hoa của dân tộc” (Phan Đăng Lưu: Văn thơ của các chí sỹ Việt Nam, Tạp chí Đông Phương, số 5 ngày 15- 4- 1939)

- hành động “luôn luôn nhằm vào làm cho tổ quốc được vẻ vang, dân chúng được tự do, sung sướng” (Phan Đăng Lưu: Văn thơ của các chí sỹ Việt Nam, Tạp chí Đông Phương, số 5 ngày 15- 4- 1939)

Và cụ thể ở cụ Nguyễn Trường Tộ là:

1. Cụ Nguyễn là người học rất rộng, biết rất nhiều, đã từng du học dài ngày ở Pháp, Ý, có du khảo ở Singapore, Hồng Kông, Mã lai. Thời gian tổng cộng hơn 2 năm. Cụ có tư chất thông minh lỗi lạc, uyên thâm Hán học, giỏi tiếng Pháp và Tây học, đương thời gọi cụ là “Trạng Tộ”. Trí tuệ đó quả là “tinh hoa của dân tộc”.

2. Cụ Trạng không chỉ thuyết chữ nghĩa, càng không phải chỉ có chữ nghĩa Thánh hiền, mà rất dồi dào tri thức thực tiễn. Khối tri thức đó chứa đầy trong 59 bản điều trần gửi vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn. Điều trần rồi lại điều trần liên tiếp, dầu không được trả lời, kiên trì đến nỗi các bộ não đặc sệt bảo thủ, biệt thị tôn giáo, có khi nhúc nhích, nhưng cuối cùng không thực hiện được gì.

Đ/c Phan Đăng Lưu đánh giá cao giá trị ý nghĩa của “ý kiến sáng suốt” cụ Nguyễn, tương đương với Phúc Trạch, Bồ Sơn; nếu được triều đình tham khảo thực hiện thì có cơ chuyển biến được đất nước như Nhật bản: “Phải chi hồi đó vua Tự Đức không khinh rẻ những ý kiến sáng suốt của ông thì chắc rằng nước Việt Nam không phải là nước Việt Nam bây giờ, mà sự nghiệp tiếng tăm ông có thua gì Phúc Trạch (Fukuzawu), Bồ Sơn (Vrayama) nước Nhật” (Thi văn… tr.17),”.

Trong mấy dòng ngắn gọn, đ/c chỉ ra tinh túy chiến lược cứu nước của cụ Nguyễn sau đây: “Bấy giờ, tin rằng không thể lấy võ lực mà chống với người Pháp, ông đề nghị một mặt tạm cầu hòa với họ, đồng thời giao hiếu với các nước Âu Tây, nhứt là nước Anh, để mong lấy nước này kiềm chế nước kia; một mặt chỉnh đốn việc nước như: sửa sang võ bị, hợp các tỉnh, huyện để giảm số quan lại, đánh thuế cờ bạc, thuế rượu, thuế trà Tàu cùng các thứ xa xỉ khác, sửa lại việc học, lập nhà nuôi trẻ và nhà tế bần, cải lương hương chính, cấm địa lý, tướng số, phái người đi du học,v. v... Tóm lại, mục đích cốt bồi bổ lấy thực lực để lo sau này khôi phục giang sơn” (Thi văn… tr.17)

Về việc học, không chỉ có khoa cử từ chương, theo kiểu Tàu,“ Ông xin đặt ra các khoa canh nông, thiên văn, địa lý,, cơ xảo (máy móc),, luật học, sau hết, dùng quốc âm thay cho chữ Hán. Đọc bài trên ta thấy ông là mt nhà đi chính tr. Tiếc thay, mực cạn, bút cùn mà cái tài giúp nước cứu dân, không có chỗ thi thố, đến phải uất ức mà chết” (Thi văn… tr.24)

3. Hơn nữa, bên cạnh khối tri thức thực tiễn, ông là một người thực hành giỏi “Năm 1686, ông Hoàng Kế Viêm, tổng đốc Nghệ An phải nhờ ông mới đào được Kênh Sắt. Nhà thờ Xã Đoài, nhà phước Sài Gòn, cột cờ thành Gia Định đều do ông làm cả. Mỏ than Quảng Yên cũng chính ông tìm ra” (Thi văn… tr.28)

4. Mọi việc cứu nước đều không thành, ngày 10- 10- 1871, cụ qua đời nơi quê nhà (Xã Đoài), ở tuổi 41, sau khi trăng trối lại bằng câu đối “Nhất thất túc thành, thiên cổ hận; Tái hồi đầu thị, bách niên cơ” (Một kiếp sa chân, muôn kiếp hận; Ngoảnh đầu cơ nghiệp, ấy trăm năm Nguồn: Kho lưu trữ MEP)

Giám mục Gauthier, người hết sức quý mến cụ, tích cực dắt dẫn cụ và vô cùng hiểu cụ đã viết lại, trong thư đề ngày 1- 11- 1871: “Người giáo hữu Việt Nam mà tôi đem theo năm 1867, mà người ta gọi là kiến trúc sư,( …) đã là nạn nhân của một âm mưu đầu độc” (Nguồn: Kho lưu trữ MEP)

*

Các chí sỹ Việt Nam là một bộ phận trí thức, yêu nước và cách mạng, trong các chí sỹ, đ/c Phan Đăng Lưu mới có điều kiện nêu lên một đại chí sỹ là cụ Nguyễn Trường Tộ. Như trên ta thấy, đúng là tinh hoa ca dân tc. Các bậc đại chí sỹ thế hệ đương thời còn nhiều, cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, cụ Huỳnh Thúc Kháng,…; và về sau này tiếp bước là các trí thức tân học: Nguyễn Văn Tố, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Khắc Viện, v.v.……

Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức, động viên thành phần tinh hoa này đóng góp to lớn cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc.

TIỂU KẾT

1. Cách đây 76 năm, trong hoàn cảnh rất bận rộn và tràn đầy khó khăn, (nhiều lúc không có tiền ăn) với nhân thân của người tù cộng sản bị an trí, bị ràng buộc đủ thứ, mà đ/c Phan Đăng Lưu cũng quyết để lại cho chúng ta những thi ca huyết lệ cùng với tấm gương yêu nước chói ngời của các chí sĩ; đã trải qua tù đầy khổ ải và một số đã bị hành hình. Chúng ta vô cùng biết ơn các liệt sỹ, chí sỹ và soạn giả của tập thi ca, đ/c Phan Đăng Lưu- cũng là một chí sỹ và liệt sỹ lẫm liệt.

2. Với Thi văn các nhà chí sỹ Việt Nam, đ/c Phan Đăng Lưu đã là người mở đầu sưu tập một dòng thơ ca: thơ ca yêu nước và cách mạng. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, GS Đặng Thái Mai đã nói điều đó và đặc biệt là GS Chương Thâu, đã đề nghị ghi công cho soạn giả tiền phong này:

“Theo tôi, đây là một tập sách mở đầu cho các hợp tuyển “Thơ văn yêu nước và cách mạng” mà lớp con cháu đ/c Phan Đăng Lưu như chúng tôi cũng đã học tập Phi Bằng để sưu tầm biên soạn nên các tập “thơ văn yêu nước”, như anh đã thấy. Có thể nói, Phi Bằng là người mở đầu cho một thể loại tác phẩm văn thơ yêu nước của lịch sử văn học nước nhà. Rất đáng ghi công cho tác giả tiền phong này”[47]

3. Không những chỉ là “hợp tuyển mở đầu” (đồng ý với Chương Thâu), hơn nữa, sách Thi văn…đã chỉ dẫn cho chúng ta một số lý luận văn học cơ bản:

- Thứ nhất là mối quan hệ giữa lịch sử và văn chương, chính trị và văn chương. Văn chương và hai phạm trù liên quan nói trên có ảnh hưởng qua lại chặt chẽ, nhưng văn chương nghệ thuật độc lập tương đối, không đồng nhất.

- Thứ hai là nội dung và hình thức gắn bó nhuần nhuyễn, nội dung được thể hiện qua hình thức, hình thức là của nội dung.

Các vấn đề trên đây không chỉ nói suông mà đã đã được đ/c vận dụng thể nghiệm và mặc dầu trải qua hơn 70 năm, cho đến ngày nay vẫn có giá trị cập nhật.

4. Thơ văn không chỉ trơn trụi mấy dòng chữ nghĩa, mà người tiếp nhận còn cần biết văn cảnh, môi trường sống của chúng. Soạn giả sách Thi văn …đã cho chúng ta biết những điều trên: thơ cám ơn một cô gái trẻ tặng quà ở Côn Đảo, thơ cùng cụ Phan Chu Trinh đi cắt búi tóc- một sự cách tân, thử tài thơ ở trường cụ Thám Đạt,…

Thơ ca Việt Nam đầu thế kỷ trước có đặc điểm là không phải sáng tác để in, lấy tiền nhuận bút và xuất bản lấy danh giá. Thơ văn thời bấy giờ, nhằm mục đích chủ yếu là phục vụ cuộc sống bao gồm một số sinh hoạt như: khóc một người quen/thân qua đời để chia buồn, tỏ nỗi thương tiếc, mừng một thành công của bạn bè (làm nhà mới, thi đỗ,…), viếng một người qua đời, họa một bài thơ của bạn- coi như đáp lễ văn chương,……Đó là thi ca có tính sinh hoạt. Trong thời kỳ hiện đại, thi ca không còn tính sinh hoạt nữa. Sách Thi văn… đã ghi lại đặc điểm tính sinh hoạt của văn chương Việt Nam một thời đã qua, không trở lại nữa và sách sưu tập cũng do đó trở nên hấp dẫn và chân thật hơn.

                 

Chương thứ năm

SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH BÁO CHÍ CỦA ĐỒNG CHÍ PHAN ĐĂNG LƯU

Chương này có 3 mục lớn:

+ Hoàn cảnh hoạt động báo chí của đ/c Phan Đăng Lưu.

+ Văn chương báo chí của đ/c Phan Đăng Lưu:

a. Đề tài và thể loại chính

b. Ngôn ngữ, nghệ thuật.

+ Kết luận.

I. Hoàn cnh hot đng báo chí ca đ/c Phan Đăng Lưu.

  1. Hoàn cnh ra báo

Khi nhận nhiệm vụ của xứ ủy “lợi dụng nghị trường”, đ/c nghĩ ngay đến việc Đảng phảỉ chỉ đạo báo chí công khai và trực tiếp nắm một tờ báo. Đ/c đi Vinh tổ chức lực lượng. Sau đây là lời đ/c Ngô Đức Mậu kể lại:

- “Vào khoảng tháng Tư, năm 1936, anh Lưu ở Huế ra (Vinh). Anh bàn với anh Hà Huy Giáp, anh Nguyễn Ngọc Tuyết và tôi (Ngô Đức Mậu) là nên có một tờ báo để mở chiến dịch vận động bầu cử. Nói đến việc xuất bản một tờ báo lúc bấy giờ thì thật là ảo tưởng. Tiền đâu? Ai đứng ra xin phép? Và chắc chi đã xin được? Rồi còn việc in nữa….Hiểu nỗi băn khoăn của chúng tôi anh Lưu cười:

- Các cậu đừng lo, mọi việc đã được chuẩn bị chu đáo. Việc quan trọng bây gìờ là, nếu tờ báo in ở Vinh thì các cậu có đảm nhiệm được không? Nếu chậm gửi tiền ra thì các cậu có cách gì bảo đảm tờ báo ra đúng kỳ hạn, và ai đứng ra chủ trì việc này?

- Chỉ những điều đó thôi thì được- mọi người đều trả lời như vậy

- Thế thì nói để các cậu biết, bọn mình đã mua lại bản quyền tờ báo Sông Hương của Phan Khôi với giá 50 đồng. Sở dĩ y bán bản quyền cho ta vì tờ báo không ai đọc, bị phá sản và tự đóng cửa không thời hạn. Bây giờ nếu in tờ báo đó ở Huế thì người ta lại lầm là của Phan Khôi, không ai thèm đọc. Hơn nữa, bọn nhà in trong đó cũng gây khó khăn cho ta nhiều. Vì thế mình đề nghị cậu (Ngô Đức Mậu) sẽ đảm nhiệm thư ký tòa soạn, liên lạc với nhà in. Có việc gì bí thì hỏi ý kiến anh Giáp (Hà Huy Giáp) và nhờ Tuyết giúp đỡ tài chính khi cần. Bài vở chính thì Tôn Quang Phiệt và mình sẽ gửi ra đầy đủ. Các cậu ở đây liệu cơm gắp mắm, làm sao cho đủ bài vở từng số là được. Mục đích chính của tờ báo là vận động bầu cử. Tất cả bài vở đều xoay quanh vấn đề đó…..

Mọi việc đã ổn thỏa, anh Lưu trở về Huế.”[48]

Một lần khác, đ/c Lưu mời ông Mậu vào Huế để thảo luận về tiếp tục ra báo, lúc này, Sông Hương tc bn đã bị bọn cầm quyền rút giấy phép, các đ/c bàn việc ra báo Dân:

“Tháng 6- 1938, sau khi bị tù ở nhà lao Vinh ra, tôi vào Huế theo thư anh Lưu gọi. Đến nhà số 11 đường Đu- đa đờ la- Grê nơi anh Lưu ở, tôi được anh Lâm Mộng Quang và anh Nguyễn Cửu Thạnh đón tiếp niềm nở. Anh Quang nói với tôi: “Mấy hôm nay, anh Lưu nhắc anh luôn. Bây giờ anh còn đi vắng, chiều mới về. Trước khi đi anh Lưu có dặn, nếu anh đến thì anh Thành đưa anh đi chơi, xem lại cảnh sông Hương, núi Ngự, rồi tôi đưa anh đi xem hát hay chiếu bóng cho thoải mái đã. Sáng mai, anh Lưu và các vị dân biểu sẽ gặp anh bàn công việc”…..Sáng hôm sau tôi dậy sớm, chạy thẳng lên gác hai, nơi anh Lưu và ban biên tập nghỉ. Cảm giác đầu tiên của tôi là ngạc nhiên và bỡ ngỡ. Trong phòng chẳng có gì hết, ngoài ba cái giường vải xếp và một cái tủ cũ rích. Nhân vật trong phòng lúc đó, ngoài anh Lưu còn có ông cử Quế và anh Các. Người nào người nấy đều trần trụi với một cái quần xà lỏn. Chưa kịp chào hỏi nhau tôi buông một câu thỏn lỏn:

- Các vị ăn ở lúi xùi như thế này à?

Anh Lưu vừa cười, vừa đáp lại ngay:

- Ấy! bây giờ thế này, chứ biết đâu có ngày, nhà này sẽ là trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời đấy.

Rồi anh nói tiếp: “Cậu vào đây đúng lúc. Ông Cử muốn gặp lại cậu đấy. Nhưng khoan, để bọn mình mặc quần áo và đợi xôi về kiếm mỗi đứa một nắm đã”.

…..

“Chúng tôi đang say sưa chuyện trò thì anh Lưu giục:

- Nào mời Cụ Cử và ông bạn “cá gỗ” đi làm việc kẻo trưa rồi. Nói xong, anh đọc luôn hai câu thơ Tú Xương:

Chuyn xưa nhc li nhiu câu thú,

Con tr xem chng lm đa ranh.” [49]

…..“Chiều hôm sau, tôi từ giã anh Lưu và mọi người, lên chuyến xe lửa tốc hành về Vinh, vừa vui mừng, vừa tin tưởng. Trước khi ra ga, anh Các đưa cho tôi sáu đồng bạc và tấm thẻ nhà báo, một bên có chữ ký chủ nhiệm Nguyễn Đan Quế, một bên có chữ ký phó khâm sứ Xtốc- Ken.

Anh Lưu nói đùa: “Bùa hộ mệnh đấy. Nhưng làm ăn không khéo, nó nổi khùng lên, thì cũng là tờ giấy lộn thôi”[50]

Qua mấy dòng ngắn ngủi hồi ức của ông Ngô Đức Mậu, chúng ta thấy được cảnh làm báo “bán công khai” của các vị, các đ/c thời bấy giờ. Đặc biệt qua câu chuyện, chúng ta thấy rõ, đ/c Phan Đăng Lưu đã lo lắng giải quyết, khắc phục mọi khó khăn lớn nhỏ của tờ báo, từ khâu cán bộ, đến bài vở, in ấn, tài chính, thẻ nhà báo,…Những việc khó khăn tưởng không vượt qua được, đ/c cũng lo liệu chu toàn. Một lần nữa, chúng ta thấy về tính tình, đ/c là người hoạt bát, xông xáo, vui vẻ, hài hước và chu đáo; đối với công việc, tận tình; đối với anh em, được anh em rất quý mến.

2. Khó khăn tr ngi- vt ln vi nhà cm quyn

Báo Dân đã góp phần đấu tranh thắng lợi ở Viện Dân biểu Trung kỳ, bọn cầm quyền tức giận truy tố hai vị đứng tên xin ra báo là cụ Quế và cụ Các, báo đã phản ánh và tố cáo thực tế cay nghiệt đó:

- “Báo DÂN đã bị chà nát dưới gót sắt cường quyền. Anh em làng báo Nam Kỳ tính sao đây. Ngờ đâu! Ở Trung Kỳ, công lý chẳng được coi ra gì cả. Công lý chỉ là một con nô bộc của cường quyền!

Chúng tôi vừa được tin Bộ Tư pháp đã y án báo DÂN. Thế là từ đây, hai ông Quế, Các, nếu không muốn ở tù phải nạp tất cả 140 đồng phạt và bị tước hết công quyền, mất chức dân biểu!

Nói một sự thật, một sự thật không thể chối cãi, in sai một chữ đã có cải chính mà bị truy tố, bị phạt, bị tước công quyền, thì thật là một sự áp đặt vượt hẳn ra ngoài phạm vi tưởng tượng của người ta!

Vụ án báo DÂN, như thế chẳng những là một tràng nguyền rủa xả mạnh vào pháp luật Nam triều và chính sách bảo hộ của người Pháp ở Đông Dương mà thôi, mà còn là một vết nhơ ấn mạnh trên mặt báo giới Đông Dương.” (Bài số 36 - II. 96 bài báo).

      Tuy nhiên, xứ ủy và đ/c Lưu không đầu hàng, đ/c tìm cách ra tờ báo mới lấy tên Dân:

- “Sau khi báo Dân bị đình chỉ, đ/c Phan Đăng Lưu có sáng kiến chủ trương ra một tờ báo mới lấy tên Dân Tiến, biên tập ở Trung Kỳ, đưa vào Sài Gòn in và phát hành, vì ở đây đang được hưởng quyền tự do báo chí theo luật do quốc hội Pháp thông qua ngày 29- 7- 1881.

……Báo Dân Tiến vẫn do Phan Đăng Lưu phụ trách và là cây bút chính về các vấn đề chính trị, xã hội.….

Báo Dân Tiến vượt qua được rào cản về giấy phép, nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong việc lưu hành báo trên đất Nam Kỳ và tài chính, nên sau khi ra được 5 số phải ngừng hoạt động. Kiên trì thêm một lần nữa, đ/c Phan Đăng Lưu xoay sang tờ báo mới, lấy tên là Dân Muốn, cũng in và phát hành ở Sài Gon, tòa soạn ở số 196, đại lộ Galieni. Báo ra được 2 số rồi ngừng, vì những lý do như báo Dân Tiến.”[51]

- “Nhận thức rõ báo chí và văn học là công cụ đấu tranh sắc bén, Phan Đăng Lưu vừa xây dựng, chỉ đạo các tờ báo, vừa trực tiếp đào tạo, đoàn kết tập hợp lực lượng báo giới, đặc biệt là các trí thức trẻ, bồi dưỡng họ, hướng dẫn họ ….Bản thân đồng chí là cây bút chủ lực viết các bài chính luận, tiểu phẩm văn học,… Các tờ Sông Hương tục bản ra được 14 số (từ ngày 19- 6- 1837 đến ngày 14- 1- 1937); báo Dân ra được 17 số (từ ngày 6- 7- 1938 đến ngày 7- 10- 1938); báo Dân tiến ra được 5 số (từ ngày 27- 10- 1958 đến ngày 12- 12- 1939); báo Dân muốn ra được 2 số (ngày 20- 12- 1938 và ngày 25- 1- 1939). Người Huế và bạn đọc cả nước thời bấy giờ thấy xuất hiện liên tục các bài báo sắc bén của Phan Đăng Lưu với hàng loạt bút danh: Sông Hương, Dân, Dân muốn, Phi Bằng, Bằng Phi, Tân Cương, Lý Toét, BCH, QB, SH, KD, Mục Tiêu, Thương Tâm, KĐ, Phan Thị Hồng Anh,…ở cả báo chí xuất bản Huế và Sài Gòn.”[52]

Chúng ta thấy rõ, làm báo đấu tranh với âm mưu của thực dân Pháp và Nam triều thật khó khăn, hiểm nghèo. Tuy nhiên, nhờ nghị lực, quyết tâm rất cao, nhờ trí tuệ sáng suốt, tài năng sáng tạo, đ/c Phan Đăng Lưu đã trăm phương nghìn kế, ra cho được báo, để thực hiện chủ trương “lợi dụng dân biểu, tham gia bầu cử”

II. Văn chương báo chí ca đ/c Phan Đăng Lưu

1. Đ tài và th loi

Văn chương báo chí hiện thu thập được là 96 bài, tạm phân ra các đề tài và thể loại sau đây, sự phân chia này chỉ có tính quy ước, nhằm tiện nắm bắt vấn đề:

 

“Với quyền hạn hẹp hòi của Viện Dân biểu ngày nay mà mong rằng các ông sẽ thay đổi công cuộc xứ này trong chốc lát là một điều mong ước quá hão huyền. Trái lại, nếu yên trí rằng các ông cũng sẽ chẳng làm gì được hơn ai, như thế hóa ra là một thái độ bi quan.” (96 bài báo - Bài 15)

Thứ ba là, nhân dân ta chưa được thực hiện quyền dân chủ.

Trước tình trạng đó có thể hoặc là bỏ mặc, không quan tâm, hoặc là tẩy chay. Nhưng đ/c Phan Đăng Lưu và tập thể của mình đã quyết đinh lợi dụng cơ quan dân biểu của kẻ địch: “Đường lối chỉ đạo sách lược của Trung Ương Đảng là: không tẩy chay tuyển cử, mà tham gia tuyển cử; không gạt bỏ nghị trường mà lợi dụng nghị trường. Xứ ủy Trung Kỳ là cấp chấp hành đầu tiên chủ trương ấy năm 1937 đúng vào kỳ hạn bầu cử  sớm nhất trong cả nước ở thời kỳ này” [53] Đây là một quyết định có tinh thần trách nhiệm vô cùng cao với xã hội, với lịch sử và với quần chúng nhân dân. Nhưng mặt khác quyết định này chứa đựng một tinh thần dũng lược vô song, là nhận đối đầu với kẻ thù độc ác, tàn bạo; là sẵn sàng lao vào gian nan, hiểm nguy.

“Phan Đăng Lưu là người được Xứ ủy phân công trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh hết sức sôi động ấy” [54] Như thế nghĩa là đ/c Phan Đăng Lưu đứng ra gánh lấy hầu hết công cuộc phức tạp, gian truân và hiểm nguy này.

Lại còn phải khắc phục khó khăn về tư tưởng nội bộ nữa. Không ít đồng chí vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng “tả khuynh” “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” từ thời Xô viết Nghệ Tĩnh (1930- 1931), mặc dù đã được uốn nắn, nhưng không khỏi băn khoăn trước chủ trương liên hiệp. Để xóa bỏ mọi thắc mắc, mặc cảm, tạo sự thống nhất về nhận thức tư tưởng, đi đến hành động, trong hàng ngũ Đảng viên, cán bộ, cảm tình Đảng… đ/c Phan Đăng Lưu đã kiên trì giải thích chính sách của Đảng trong tình hình mới.[55]

Và như vậy, để nhận nhiệm vụ “lợi dụng nghị trường”, đồng chí phải huy động các tổ chức, phải chú tâm đến đại bộ phận mọi công việc, từ A đến Z, từ gốc đến ngọn.

Các công việc chính đó gồm:

- Đối với Viện dân biểu;

- Đối với chính phủ Pháp và Nam triều;

- Đối với dân chúng cử tri.

2.2.1. Đi vi Vin dân biu

Quan trọng nhất là nhân sự, đ/c đã vận động thuyết phục ông Hoàng Văn Khải đồng tình nhận nhiệm vụ Viện trưởng và sau đó vận động để ông được trúng cử chức Viện trưởng.

Ông Hoàng Văn Khải là một nhân sỹ dân chủ, sinh năm 1876 ở tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Tân Việt cách mệnh đảng, bị thực dân Pháp bắt, kết án tù, đày ra Côn Đảo. Thời kỳ vận động dân chủ, xử ủy Trung Kỳ chủ trương tranh thủ ông. Ông tham gia trong mặt trận dân chủ. Xứ ủy giới thiệu ông ra tranh cử vào Viện dân biểu, được phiếu cao; sau đó lại vận động cho ông giành ghế Viện trưởng Viện dân biểu cũng thắng lợi (96 bài báo - Bài số 26)

Một nhân vật khác rất quan trọng là ông Phan Thanh. Phan Thanh lúc này đang bị tước quyền công dân vì đã viết bài đăng báo L’Annam của Phan Văn Trường, xuất bản ở Sài Gòn, công kích thực dân Pháp và bọn tay sai. Trong dịp gặp Ngô Đình Diệm để bàn giải pháp liên danh, hợp tác giữa phái dân chủ của Đảng và phái “84” của họ Ngô, đ/c Phan Đăng Lưu đề nghị Ngô Đình Diệm ra quyết định khôi phục quyền công dân cho Phan Thanh và một số tù chính trị, để anh em được ứng cử vào Viện dân biểu. Họ Ngô kêu là việc này khó quá. Đ/c cười nói: “Ngài là thượng thư Bộ Lại mà không làm nổi việc nhỏ nhặt ấy thì làm sao có thể tính chuyện đòi Pháp thi hành hòa ước 1984 được”[56]. Cuối cùng Ngô Đình Diệm phải đáp ứng yêu cầu của đ/c Lưu. Một tuần sau, Ngô Đình Khôi- Tổng đốc Nam –Ngãi- ban hành thông tư khôi phục quyền công dân cho Phan Thanh (Từ đây, có nhiều tù chính trị khác cũng được khôi phục quyền công dân). Phan Thanh ghi tên ứng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, Được Mặt trận dân chủ ủng hộ, giành được số phiếu rất cao và trúng cử ngay vòng đầu. Sau đó, Viện Dân biểu bầu anh vào Hội đồng kinh tế, tài chính Đông Dương[57] Tiếng nói của Phan Thanh có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đấu tranh ở Viện dân biểu đòi tự do dân chủ, đòi cơm áo cho nhân dân[58]

Đ/c Phan Đăng Lưu qua báo chí đã động viên, khích lệ các vị Hội đồng đấu tranh cho quyền lợi của dân, đ/c chỉ ra, muốn đấu tranh có hiệu quả cần “đứng chung thành một chiến tuyến”:

- “Quốc dân hết lòng mong mỏi về các ông, xin các ông chớ để cho quốc dân phải thất vọng như bao lần thất vọng trước.

Các ông (có thể) cứ trả lời một cách dễ dàng: Quyền hạn Viện dân biểu hẹp hòi như thế, bảo làm nên được việc gì?

Chúng tôi thấy rõ, muốn làm được những việc như thế, trước nhất các ông phải có một mặt trận thống nhất. Dẫu các ông có chỗ quan niệm khác nhau, sinh hoạt khác nhau, quyền lợi khác nhau, nhưng đến vấn đề cải cách dân viện và chế độ bầu cử, cùng những sự lợi ích quốc dân khác, thời các ông nên đứng chung thành một chiến tuyến duy nhất.” (96 bài báo - Bài số 14)

Khi bắt đầu có hiệu quả, đ/c cổ vũ, khuyến khích, động viên, khích lệ các đại biểu dân chủ để họ vững tâm tiếp tục đi con đường đấu tranh vì quyền lợi công chúng:

- “Thái độ của các ông dân biểu đối với dự án thuế đinh, thuế điền trong kỳ Hội đồng năm nay đã làm cho dân chúng cảm động vô cùng. Họ cảm động vì xưa nay họ chưa từng thấy người ta bênh vực họ một cách mạnh mẽ thành thực như vậy” (96 bài báo - Bài số 25)

- “ Viện dân biểu Trung Kỳ khóa này thiệt là xứng đáng với cái danh của nó là đại biểu cho dân. Vẫn biết rằng, quyền hạn của chế độ đại nghị ở xứ ta còn eo hẹp lắm. Nhưng trong cái quyền hạn ấy mà biết cách tiến hành cho kiên quyết, cho minh chánh, thì ảnh hưởng của nó không phải là nhỏ.

Trước những vấn đề sanh mạng của dân chúng, các ông nghị Trung Kỳ đã hy sinh những tư tưởng đảng phái, những tiểu khí tư tâm, mà thống nhất lại tất cả để cương quyết đối phó với dự án tăng thuế đinh điền của Chánh phủ. Thật đáng khen ngợi vô cùng.

Giá trị của Viện dân biểu Trung Kỳ năm nay chính là ở đó.

Mà lực lượng của Viện dân biểu Trung Kỳ năm nay cũng chính là ở đó.

Giá trị ấy, lực lượng ấy sở dĩ mà có là một phần do ở lương tâm của các ông nghị, nhưng còn một phần lớn hơn nữa là do phong trào thôi thúc và ủng hộ của dân chúng.

Trước 297 lá đơn kêu cứu với 5.905 người khắp các tỉnh Trung Kỳ ký tên, điểm chỉ; trước 74 bức điện tín của hầu hết tầng lớp dân chúng đã đánh tới cho Viện; trước những cuộc biểu tình rất có trật tự ở thành thị và thôn quê; các ông nghị Trung Kỳ đã nhận thấy phận sự thiêng liêng của mình trong cái giờ nghiêm trọng này vậy.” (96 bài báo - Bài số 23)

Để giữ vững và phát huy thắng lợi, đ/c Phan Đăng Lưu, tổng kết và nhấn mạnh “thái độ và tư cách của các ông nghị viên”:

Thái đ và tư cách các ông ngh viên

1. Phi thành thc

Các ông nghị phải là cái ống truyền thanh của dân chúng mà mình thay mặt. Các điều thấy khổ ở dân gian, các điều nguyện vọng của dân chúng, phải thành thực đề đạt lên chính phủ. Không được vì sợ oai quyền, ham danh vị mà bỏ bổn phận của mình.

2. Phi nhit thành vi các vic công ích

Những việc xẩy ra trong thôn quê hay thành thị, có quan hệ đến tính mệnh, tài sản của dân, các ông nghị phải can thiệp một cách đắc lực. Hoặc là chuyện kiện tụng điền thổ, hoặc là chuyện nhà thương chánh hay kiểm lâm ức hiếp, hoặc về chuyện kẻ cai trị lạm quyền, các ông nghị phải điều tra, can thiệp, gây dư luận lên để đề đạt ý nguyện dân chúng.

3.Phi làm vic c ngoài các ngày hi ngh

Từ xưa đến nay, các ông nghị phần nhiều ngoài mấy ngày hội đồng ở Viện rồi về nhà nằm yên không biết dân nước là gì nữa. Từ khóa này, đã làm nghị viên, phải để thì giờ làm việc dân. Nghị viên hạt nào phải điều tra tình hình, chính trị, xã hội, kinh tế, cai trị hạt ấy, để kiếm phương bổ cứu những sự khuyết điểm.

4. Ngh viên phi nhn cái đa v mình

Các ông nghị phải biết mình do mấy ngàn dân cử lên là có cái trách nhiệm nặng nề lắm. Không trọng cái phẩm giá mình tức là khinh rẻ cái phẩm giá quốc dân. Đối với người hành chính phải có thái độ đứng đắn, cái cử chỉ vững vàng, chứ đừng sợ sệt, rụt rè như một kẻ dưới quyền.”

(96 bài báo - Bài số 11)

Đ/c còn giúp đỡ các ông nghị về phương pháp làm việc:

- “Các bản thính cầu, chất vấn, cốt tài liệu cho đầy đủ, chứng cứ cho phân minh, số mục cho kỹ lưỡng, nghiên cứu cho chắc chắn, diễn giải cho mạch lạc. Một bản thỉnh cầu hay một cuộc chất vấn như thé mới có giá trị, mà người ta không trả lời “vong mạng” được.

Thương nước và hăng hái làm việc cho dân là một điều đáng quý lắm rồi. Nhưng chưa đủ, còn phải biết cách làm việc cho có hiệu quả nữa.” (96 bài báo - Bài số 19)

2.2.2. Đi vi Chính ph Pháp và Nam triu

Đ/c Phan Đăng Lưu không lạ gì bản chất các âm mưu đàn áp và bóc lột tàn tệ nhân dân ta, của nhà cầm quyền Pháp và Nam triều, nhưng đ/c vẫn kiên trì tìm mọi cơ hội để đấu tranh, lôi kéo. Và lại đưa ra những lập luận trên báo chí của Mặt trận dân chủ, đ/c đã chỉ đạo và gợi ý phương thức đấu tranh của các dân biểu tiến bộ và nhân dân.

- “Những nhà cầm quyền thường cũng nhận sự đói khổ của dân xứ này, sao khi dự định ngân sách quên nghĩ rằng tăng thuế điền thổ là đặt thêm lên vai đám dân nghèo khổ ấy một gánh nặng nữa.

Những nhà cai trị thường nói đến việc khuyếch trương nông nghiệp, sao lại quên mất rằng tăng thuế quá nặng nề sẽ làm cho nông dân cùng khổ không thể nào được khí cụ tốt và phân bón”. (96 bài báo - Bài số 22)

Đ/c còn nhấn mạnh tình thế chiến tranh và âm mưu của phát xít Nhật để kêu gọi sự hợp lực đấu tranh:

 - “Báo Dân một lòng thành thật, cũng như đã bày tỏ cùng Chánh phủ những nguyện vọng của dân chúng, cũng như đã chỉ trích những sự lạm quyền, nhưng bao giờ cũng tỏ một thái độ thành thực, minh bạch, trông mong cho hai dân tộc Pháp- Nam hợp tác với nhau trong những giờ nghiêm trọng mà quân đế quốc lùn đang dòm dỏ ở Hải Nam, bay liệng ở gần biên giới Bắc Kỳ vậy” (96 bài báo - Bài số 34)

- “Chắc các ngài cũng dư biết, suốt một tuần nay, cả thế giới bồi hồi trước tình hình nguy cấp ở châu Âu, mà khói lửa chiến tranh có thể xảy ra một mai, một chiều. Còn như ở Viễn Đông thì chúng tôi không cần nói, các ngài cũng thấy đạn trái phá đang nổ cạnh nhà chúng ta….

Trước tình hình nguy cấp như thế mà Chánh phủ lại đưa ra một dự án có tính chất tăng thuế. Chúng tôi thiết nghĩ, đó là một điều, nếu chúng tôi không nói là thất sách, thì cũng là bất hợp thời “ (96 bài báo - Bài số 26).

Và sức mạnh và vũ khí đấu tranh có hiệu lực nhất là quần chúng:

- “Trong 10 ngày họp hội đồng, chúng tôi đã tiếp được hơn 300 lá đơn kêu cứu với 5.906 người khắp các tỉnh Trung Kỳ điểm chỉ và ký tên. Chúng tôi lại còn tiếp 64 bức điện tín và nhiều tin tức về các cuộc biểu tình ở thành phố và thôn quê, để chứng tỏ rằng dân chúng tôi đã nghèo khó quá, không thể nào nộp thuế thân được nữa”. (96 bài báo - Bài số 26)

2.2.3. Đi vi dân chúng, c tri

Đối với cử tri, đ/c giúp cho bà con hướng bầu đại biểu, trên tinh thần đoàn kết rộng rãi, lấy tiêu chuẩn trong sạch, yêu nước thương dân để lựa chọn:

“Trong lúc này không nên phân biệt ai là quốc gia, ai là cọng sản, ai là cấp tiến, ai là hòa bình, ai là tư bản, ai là vô sản, không cần phân biệt làm gì. Trong lúc này, chúng ta chỉ cần biết ai là người trong sạch; ai là người thiệt lòng yêu nước, thương dân; ai là người muốn làm việc cho dân, cho nước, thời những người ấy, ta sẽ bầu họ vào nghị trường. Các bạn cử tri chỉ nhắm cái đích ấy mà bàu cử, thế là một cái phước lớn cho nước nhà rồi vậy.” (96 bài báo - Bài số 9)

Đ/c bày tỏ lòng tin tưởng ở sự sáng suốt của nhân dân, mặc dầu luôn luôn bị bưng bít thông tin:

- “Đọc những bản nguyện vọng và điện văn của dân chúng khắp nơi, gửi cho các ông nghị, ai cũng nhận ra rằng dân chúng ngày nay đã giác ngộ, những việc quan hệ đến quyền lợi của họ, họ đều hăng hái tham gia thảo luận” (96 bài báo - Bài số 24)

 2.2. 5. Kết qu nhim v đu tranh ngh trường

- “Dưới sự chỉ đạo thông minh nhạy bén của Phan Đăng Lưu, báo Dân đã góp tiếng nói mạnh mẽ, kết hợp với phong trào quần chúng và đấu tranh trong nghị trường, làm thất bại dự án thuế thân và dự án tăng thuế điền thổ của Khâm sứ Trung Kỳ. Đây là một sự kiện lớn trong đời sống chính trị ở Trung Kỳ thời đó. Chính quyền thực dân cũng biết rõ báo Dân chỉ là sự nối tiếp Sông Hươnng tục bản nên ngày 7- 10- 1938, Toàn Quyền ký quyết định thu hồi giấy phép của báo Dân sau khi báo ra được 17 số và truy tố người phụ trách tờ báo, thực chất là để trả thù vụ chống dự án tăng thuế. Tại phiên tòa ngày 13- 10- 1938, hai ông Nguyễn Đăng Quế và Nguyễn Xuân Các bị phạt 5 tháng tù treo và mất chức trong dân biểu”[59]

- “Đồng chí Phan Đăng Lưu đã sử dụng linh hoạt diễn đàn đấu tranh công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí và văn học nghệ thuật được coi là mặt trận chủ công, nổi bật là các báo: Sông Hương tục bản, Dân, Dân tiến, Dân muốn,…Bằng việc huy động tổng hợp, đồng bộ các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp, cuộc đấu tranh vào Viện dân biểu do Phan Đăng Lưu làm Tổng tư lệnh, đã thắng lợi rực rỡ đến mức tuyệt đối. Tất cả 18 ứng cử viên do Đảng đưa ra tranh cử đều trúng ngay từ vòng đầu và đều nắm các chức vụ trong Viện từ Viện trưởng, Viện phó đến phần lớn các Ủy viên Ban Thường trực. Đánh giá về thắng lợi này, Đảng ta ghi rõ: “ 18 căng đi đa ở Trung Kỳ xu hướng về Mặt trận bình dân, được trúng cử là những thắng lợi rất vẻ vang của Đảng ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Ddd, t6, tr.271.). Đây là thắng lợi thực sự to lớn, vang dội, lần đầu tiên xuất hiện ở nước ta, dưới thời thống trị của thực dân Pháp.” [60]

Trong thắng lợi trên đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do đ/c Phan Đăng Lưu trục tiếp phụ trách, mặt trận báo chí dân chủ góp một quan trọng trong chiến dịch đấu tranh chung.

2.3. Đ tài tình hình thế gii

Mt vn kiến thc rng, tri ra xuyên quc gia và mt trình đ tư duy, sâu sc, vch trn bn cht các s kin quanh co.

Đ/c đã vạch rõ bản chất của phát xít gắn liền với chiến tranh:

- “Những nước đối nội thì phản động, đối ngoại thì khiêu khích như thế người ta gọi là những nước phát xít.

Vì vậy, nên khi nào nói đến chiến tranh người ta liên tưởng đến phát xít. Phát xít và chiến tranh không bao giờ rời nhau. Những nước muốn phá hoại hòa bình của nhân loại, ngày nay chính là những nước phát xít.” (96 bài báo - Bài số 39)

 Và đ/c còn tiên đoán rất sáng suốt rằng cuộc chiến tranh sau này thế nào cũng hóa thành thế giới chiến tranh:

- “Lúc này, trên thế giới, quyền lợi các liệt cường đều dính líu với nhau và chằng chịt lấy nhau, chẳng khác nào một cái váng nhện. Vì lẽ ấy nên cuộc chiến tranh sau này thế nào cũng hóa thành thế giới chiến tranh” (96 bài báo - Bài số 39)

 Đ/c còn nắm vững tiểu sử và bản chất của những tên cầm quyền Pháp qua đó chỉ trích cách dùng người của chính quyền Pháp quốc - “Người ta to nhỏ nói đến những tên như ông Sa- ten, ông Grap- phơi, ông Pagie, và cả - ôi ngạc nhiên- ông Payruytông nữa, một vị quan có não phát xít mà bây giờ người ta định giao cho trọng trách cầm tay lái chiếc thuyền Đông Dương đang bị kình ngạc phát xít Nhật bao vây.” (96 bài báo - Bài số 41)

 và gợi ý chính sách cai trị của Pháp ở Đông Dương:

- “Trong tình thế ngày nay, đưa đến cho dân chúng một ông Toàn quyền nhân từ bác ái là một sự cần. Nhưng cải cách cái chế độ cai trị cái xứ này lại là một sự cần hơn nữa “(96 bài báo - Bài số 41)

 Đ/c hiểu sâu sắc thế giới tư bản trong bài số 49, tác giả ghi lại đầy đủ các chi tiết về sự nghiệp làm giàu của ba ông vua dầu lửa, (Catman, Rôccơphelơ, Đêtectinh ), và với một giọng văn rất sinh động pha chút trào phúng, rất hấp dẫn, đ/c đã vạch rõ các mánh khóe cạnh tranh của họ để lật đổ nhau, để cướp giật tài nguyên của các quốc gia, đặc biệt là gây chiến tranh tàn khốc để giành giật, cướp đoạt “cái chất nước có mùi hôi” ấy. Trong đó có những chuyện bí hiểm, kỳ thú như: chàng thám tử người Anh, Rayly, lừa Đacxy đoạt được tờ điều ước khai mỏ dầu của vua Ba Tư ký; việc nữ gián điệp Ghetct’ruydơ Ben, thạo tất cả các thứ tiếng Arập, suốt mấy tháng cưỡi lừa đi khắp nơi mua chuộc các tù trưởng, và tôn Phâyxan lên làm vua. Ông này hàng phục Anh, trao cho Anh toàn quyền khai thác, điều hành đất nước, mình làm vua bù nhìn, nhận mỗi tháng 4 triệu đồng (!).

 Đồng chí đã vạch ra hàng ngàn mưu mô, mánh khóe, thủ đoạn của những tập đoàn tư bản lũng đoạn và cuối cùng kết luận: “Vậy đó, các nước lớn đánh nhau để cướp của cải, dầu, than, sắt, kẽm, đồng, bông,… Hàng trăm, hàng nghìn người lính Tây, lính bản xứ, thợ thuyền hàng ngày bỏ xác để làm giàu, làm mạnh cho các ông chủ nhà băng, ông chủ xưởng. Song trong cuộc đấu tranh ấy, biết bao nhiêu của cải bị phá hủy, dầu bị dốt cháy, mỏ bị sập, đồng áng bị phá phách.” “(96 bài báo - Bài số 49)

Qua việc tổng thống Mỹ Rôdoven lên án các nước phát xít, đ/c ghi nhận mặt tốt, nhưng đồng thời đ/c chỉ ra mặt thứ hai đàng sau đó là quyền lợi của nước Mỹ. Đ/c tỉnh táo nhắc nhở chúng ta “ khi nghe các ông đại tư bản nói chuyện nhân đạo thì cũng phải hỏi vì sao mà có thái độ nhân đạo ấy để khỏi sai lầm về sau”:

 “Lần này tổng thống Rôdơven đã lên án các nước phát xít, đã vạch mặt nạ bọn giết người vô cớ xâm chiếm những nước không gây gổ gì với chúng cả; vô cớ chém giết nhân dân không dự vào chiến tranh bao giờ; vô cớ bắn vào các tàu buôn ghe đánh cá; vô cớ đã dẫn nhân loại vào con đường chiến tranh thảm khốc vô cùng…”

“Tuy vậy, chúng ta phải nên để ý, sau những câu nhân đạo và công lý của Rôdơven, vẫn ẩn núp cái quyền lợi của Mỹ ở Tàu bị bọn quân Nhật mon men đoạt cướp. Ngày xưa, Uynxơn tuyên bố thuyết dân tộc tự quyết, rồi đến hội nghị Hoa Thịnh Đốn, qua hiệp ước Kenlôgơ, bao nhiêu cái chánh sách tử tế đối với Tàu không ngoài cái lý do đánh đổ quyền lợi của Nhật ở Tàu đi để mình giữ lấy phần thắng. Cho nên khi nghe các ông đại tư bản nói chuyện nhân đạo thì cũng nên hỏi cái lý do vì sao mà có thái độ nhân đạo ấy, có thế mới tránh những sai lầm về sau” (96 bài báo - Bài số 55)

Riêng một chủ trương bất can thiệp, đ/c vạch ra bản chất lèo lá của từng nước tư bản che dấu đàng sau đó:

“Chính sách bất can thiệp với Tây ban Nha là một chính sách gian trá. Dùng chữ bất can thiệp để chỉ thái độ của liệt cưòng đối với nội chiến Tây Ban Nha thật không đúng chút nào hết. Do nơi miệng của Hitle và Mutxolini thốt ra thì bất can thiệp nghĩa là, chỉ có “chúng ông mới có quyền can thiệp”. Do nơi miệng nhà ngoại giao Hồng mao (Anh) thì nó lại có cái nghĩa: “Ai can thiệp mặc ai, chúng mình đừng can thiệp”. Do nơi miệng người Pháp thì, oái ăm thay- bất can thiệp lại nghĩa là trói tay phái dân chủ!

Chính sách bất can thiệp, như người ta đã thi hành từ trước đến nay và người ta đương thi hành đó, thật là một chánh sách nhượng bộ và đầu hàng. Kết quả chỉ giúp cho bọn phát xít được thêm vây cánh, để cho chúng kéo dài sự áp bức dân chúng, để cho chúng chiếm những vị trí trọng yếu, để giành phần thắng lợi trong cuộc chiến tranh do chúng gây ra sau này, để cho chúng kéo nhân loại lui về thời đại dã man mấy trăm năm về trước.” “(96 bài báo - Bài số 56)

2.4. Th loi đc hiu- biếm văn

Sự phân chia này có tính quy ước và chỉ có giá trị tương đối.

2.4.1.Thế gii nhân vt ca biếm văn

*Mấy ông dân biểu

- Vô trách nhiệm, tham tiền:

- Hút xách, cờ bạc

- Tham nhũng của công

- Gian lận trong bàu cử

* Mấy ông chủ bút báo:

- Nịnh Tây, nịnh quan trên

* Các quan tỉnh, Cụ Thượng, quan Bố, quan Án, quan Phán, quan Đề, thầy Thừa, thầy Đội,….: toàn một bọn hèn nhát, nô lệ Tây, sợ Tây và cả chó Tây

*Một vị hoàng phái nam, gọi là “mệ”, kênh kiệu, rỗng tuyếch, diễn thuyết ở Viện dân biểu, về một đề tài to lớn “Vấn đề Thái Bình Dương”, “bằng một dọng các mệ đúng 100%”

*Một Ủy ban điều tra người Tây từ Tây sang: lừa dối dân Nam

*Chương trình phòng thủ: vạch trần sự bất tài, mà thích huyênh hoang rỡm, cùa quan lại Huế: lực lượng phòng thủ là các ông đồng bà đồng khăn chầu áo ngự lòe loẹt và đội âm binh hàng mã.

*Chủ trương mặc triều phục áo gấm: xa xỉ mà không khả thi.

2.4.2. Ngh thut ca biếm văn

Ba mươi bảy bài biếm văn trên đây là ba mươi bảy kiểu dạng khác nhau, mà mỗi bài lại lôi cuốn người đọc từ phút đầu tiên cho đến giây cuối cùng. Sau đây là một số trường hợp tiêu biểu:

“Con chó ca c s hay dân ăn tin quan”.

(96 bài báo - Bài số 86)

 Ngay đầu bài đã gợi tò mò. Ở cái xứ phong kiến thuộc địa này, người dân nô lệ nhiều tròng, chỉ có quan ăn tiền dân, làm sao mà dân ăn được tiền quan, thật là lạ đời. Mà theo chú thích được ghi ở trong bài “Chuyện này bảo đảm có sự thật 100%”.

Câu chuyện được tác giả dẫn dắt từ chuyện lạ, buồn cười này đến chuyện lạ, buồn cười khác.

- Một tỉnh ở Trung Kỳ có cụ Sứ nuôi con chó giống Tét nơ (Terre Neuve), to xấp xỉ bằng con bò con. Cụ Thượng qua chơi cụ Sứ, vuốt ve con chó để lấy lòng chủ. Bất ngờ, cụ Sứ tặng cụ Thượng con chó quý.

- Cụ Thương cay đắng mang con chó về và buộc phải chăm sóc nó theo lời chủ cũ dặn. Mỗi ngày ít nhất 2 kg thịt bò, tối cháo phổi lợn, ngày nào cũng phải tắm xà bông thơm và cho nó chạy để tiêu cơm.

- Nuôi được một tháng, cụ Thượng bức bối quá nghĩ mẹo gửi qua quan Bố.

- Được 15 ngày, quan Bố phải chuyến qua quan Án

- Quan Án chỉ nuôi được 10 ngày.

- Nguy hiểm là mới gần 2 tháng mà con chó gầy giơ xương. Cụ Sứ mà trông thấy thì chết cả lũ

Các quan tỉnh đều lo sợ chó đến tay mình.

Kết thúc đột ngột là cụ Thượng lừa một “thằng dân” cho nó con chó “để chăn bò”. Ông dân này tinh ma, nói, chó này chỉ “ăn bò” thôi. Cụ Thưởng phỉnh: “Thế thì cho mày thịt nó đi”. Ông dân lại làm cao: “Giống chó Tây tanh lắm”. Cuối cùng cụ Thượng phải đút lót cho “thằng dân” năm đồng bạc Đông Dương.

Đánh tráo khái nim “mt n” đ đ kích nhng k la đo, di trá.

(96 bài báo - Bài số 92)

“Còn chuyện mặt nạ ở thành Bari người ta đã phát cho dân rồi., nhưng ở đây không thiết lắm. Vì mặt nạ thì ở mình đây đã nhiều người có rồi. Xin kể ra đây một vài biểu hiện thông dụng:

Mặt nạ quốc gia (miệng nói theo quốc gia chủ nghĩa mà trong lại bán nước mà ăn)

Mặt nạ nhân đạo (bộ tịch cho đến lời ăn tiếng nói, nhân đạo lắm, mà trong bụng chỉ lo chuyện bóp cổ dân)

Mặt nạ xã hội (thề sống thề chết theo lời đảng, vào đến nghị trường đã lo trở giáo như một vài ông nghị ở Bắc Kỳ)

Mặt nạ cách mạng (nói và viết cực kỳ “tả”, mà lại chia rẽ để phá hoại lực lượng dân chúng.

Mặt nạ trung lập (ở ngoài thì tuyên bố không đảng phái, mà trong tối lại kéo bè kéo cánh để chửi bới lung tung)

      …

     

 

Dùng phép chơi ch - “Dân” đ nói vai trò ca nhân dân.

      (96 bài báo - Bài số 94)

 “Dân có hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu, vô số, muốn mây thì mấy. Này, à thử nghe nhé:

Dân là một, dân tiến là hai nhé, dân thanh là ba nhé, dân nguyện là bốn nhé, dân chúng là năm nhé, dân ý là sáu nhé, dân chủ là bảy nhé, dân quyền là tám nhé,v.v …

Nói đảo ngược thì nào là tân dân, quốc dân, cường dân, lao dân, bình dân, nạn dân,v.v…

Nếu bộ tự vị Tàu mà hết chữ thì đã có tiếng mẹ đẻ mình, tiếng An Nam đó. Này: dân kêu, dân cười, dân đi, dân chơi, dân bíu, dân la, dân khóc, dân hét, dân dậy,.v.v…

Dân có vô số. dân ở đâu cũng có. Dân trăm hình vạn trạng. Dân sống mãi. Dân tiến mãi”

Ch ra s khác nhau gia cái cười ca quan và dân.

(96 bài báo - Bài số 78)

“Những xứ như xứ này, người ta chỉ nghe tiếng cụ cười, tiếng quan cười, nhiều hơn tiếng dân cười.

Tuy vậy, trong những buổi yến tiệc suốt ngày, chiếu bạc thâu canh, tiếng quan réo như pháo nổ, thì trong lũy tre xanh, trong đồn điền hầm xưởng, dân khóc ra mặt, rồi cũng phải tươi cười.

Nhưng cái cười của quan khác với cái cười của dân nhiều lắm.

Quan cười như bắp rang, như bánh tráng rán, như hoa đào nở. Gặp người trên quan cười mị; gặp chị hầu non, quan cười tình, gặp bạn đồng liêu quan cười ria mép; gặp thằng dân đỏ, quan cười tỏi, cười hành. Thiệt quan cười trăm cách mà không cách nào giống cách nào.

Chớ còn như dân, thì hẳn chỉ có một cách cười. Đố anh biết cách gì? Cách cười ra nước mắt gừng vậy thôi.”

 

Chương trình phòng th Huế, chng quân Nht bng âm binh

      (96 bài báo - Bài số 87)

“Tàn quân thua liểng xiểng, phải chạy về đến phố Lở, chùa Ông định nghỉ …Liền một phát súng rơm nổ. Một nữ tướng vọt ra, đứng trên mạn thuyền, mình mặc áo vàng theo kiểu đàn ông, vai mang kiếm, tay cầm song đao, sau lưng có cây cờ hiệu với 4 chữ: “Thiên y Thánh mẫu”.Ai cũng biết là bà cụ Thượng nổi danh ăn hiếp chồng. Bà dẫn đạo âm binh từ trên điện Hòn Chén đưa về theo chương trình mai phục ở đó.

Bà hét lên một tiếng thì các ông quân mường, quân mọi, quân chín, quân mười, ông ngã ba đường cái, bà thủy, bà hỏa, cô nàng, kéo nhau ra, ôi thôi, nào chùy, nào kiếm, nào đao, nào cung, đánh chém, đâm đuổi, địch quân chết lăn chiêng như kiến cỏ, không còn một tấm mén nào sống sót.

Thế là ta dụng chước “động như thoát thố” và đã thắng trận một cách phi thường. Trăm họ sẽ ca khúc khải hoàn và lo bề an cư lạc nghiệp.”

2.4.3. Ngôn ng.

Trong biếm văn, ngoài ngôn ngữ thông dụng là văn xuôi, nhiều loại ngôn ngữ khác như thành ngữ, tục ngữ, thơ ca, vân vần dân gian,…được dùng xen kẽ.

- 2.4.3.1.Thành ng và tc ng

*2. 4.3.1.1.Nguyên dạng

+ Người ta thường bảo nhau: lão ấy “bo hoàng hơn nhà vua

nữa (96 bài báo – bài số 75)

 + “Còn mấy anh chị khác thì cũng vui vẻ, chứ không đến nỗi gặp các “ông chú m o nhn mm”, miễn là ông Cảnh ăn ở cho phải đạo làm dâu, nghĩa là đừng ăn vụng, nói thầm là được” nữa (96 bài báo - tr.380- 381)

 + Ông T.N.T.khi ra ứng cử đã đọc cho dân Quảng Ninh, Lệ Thủy nghe một bảng chương trình mấy trang đặc sệt, toàn là chuyện ích quốc lợi dân. Có nhiều người nghe, đến bây giờ đương còn ngớp mắt…Nói “mười voi không được bát xáo” (96 bài báo - Bài số 67)

+ “Đằng này, có ông ba hoa đưa cái chuyện “trng cây sng, bng cây chết” trên mặt báo, ngang nhiên, tự thị, trước mấy ngàn con mắt độc giả, như kẻ “múa gy vườn hoang”. Cái lối lì lợm ấy, K.Đ. tôi thật phục sát đất”. (96 bài báo – Bài số 83)

 + ”Ô hô! Ô hô! Ủy ban điều tra! Ủy ban điều tra! “Sinh bt phùng thi, t vô đa táng”, làm cho dân xứ này dở khóc, dở cười, nhìn nhau méo mặt” (96 bài báo – Bài số 78)

 + Vì thế cho nên tục ngữ có câu: “chó Thánh sa tiếng Thánh” ” (96 bài báo – Bài số 75)

 + Tràng An bảo hoàng hơn cả Patrie annamite. “Va đánh trng va ăn cướp” (96 bài báo - Bài số 76)

 + Những cái ghế “ma chê qu hn” ai nghe đến cũng chạy cả ((96 bài báo - Bài số 74)

 + Không phải dân trọng các ông “b nng chng tri, gp trăng dưới nước” (96 bài báo - Bài số 17)

 + Chớ còn báo Dân đó, có lão K.Đ.tuy nói cà xấc và “ngng ngng như cng th công” (96 bài báo - Bài số 85)

+ Cụ Thượng từ cũng khó từ, lãnh cũng khó lãnh, “đng cay như ngm qu b hòn”, cũng đành đưa cục nợ đời ấy về nhà vậy. (” (96 bài báo - Bài số 86)

 + Có thằng dân kia lại vào hầu kiện, cụ lớn như “ánh sáng xé mây”, đã tìm ra được một kế tuyệt diệu. (96 bài báo - Bài số 86)

 + “Tĩnh như x n, đng như thoát th (96 bài báo - Bài số 87)

 + Thiệt rầu quá “Con cua nói có, con v nói không”, đi lui đi lại xì ra một cái “đít cua” vô chủ. (96 bài báo - Bài số 91)

+ Các ngài lại lạ chi cái thói đời: “đen như mc, bc như vôi ấy.

(96 bài báo - Bài số 96)

*2. 4.3.1.2.Có chế biến

+ “Ô hô! Thiên ký sinh Qung há sinh cái b râu ca c c Hoàng” (96 bài báo - Bài số 90)

+ “Ngạn ngữ có câu: “ra đi là chết mt đi mt phn”. Ông T. B. V. đến bỏ Nghệ An mà đi, thế là ông chết không những một phần mà là nhiều phần lắm đấy. Than ôi!” (96 bài báo - Bài số 61)

+ ”K.Đ. tôi phục ông quá, ước gì sang năm báo Dân tôi ăn lễ tuổi, K.Đ tôi sẽ gửi tặng ông cùng cả tòa soạn báo Thời vụ, mỗi ông một cái mề đay “Bc đu bi dân” để các ngài đeo cho sướng, khoái chưa?” (96 bài báo - Bài số 83)

+ ” Cho biết chữ của Thánh Hiền dạy: “Hu sinh kh …gm mt” là phải lắm (96 bài báo - Bài số 75)

+ Có lẽ ông N. V. nghĩ: “Đã có chút thân (tý thôi) cùng tri đt, nên đ danh gì vi núi sông” (96 bài báo - tr.343)

*2. 4.3.1.3.Thành ngữ, tục ngữ mới

+ Nhưng ngó cũng có “bng công bng, có lòng nhân hu” lắm mà (96 bài báo - Bài số 85)

+ Hai cái tệ ấy đã làm người đại diện của chính phủ khi trả lời các bản thỉnh cầu, chỉ trả lời theo kiểu “xe la tc hành” qua chuyện thì thôi” (96 bài báo - Bài số 19)

2.2.Ngôn ng chuyên ngành (hu bóng):

“Bà hét lên một tiếng thì các ông quân mường, quân mọi, quân chín, quân mười, ông ngã ba đường cái, bà thủy, bà hỏa, cô nàng,… kéo nhau ra,…..” (96 bài báo - Bài số 87)

2.3.Thơ ca và văn vn

*2.3.1.Nguyên dạng

- Nào mời Cụ Cử và ông bạn “cá gỗ” đi làm việc kẻo trưa rồi. Nói xong, anh đọc luôn hai câu thơ Tú Xương:

Chuyn xưa nhc li nhiu câu thú,

Con tr xem chng lm đa ranh.” (Ngô Đức Mậu, tr.106- 197)

+ Bọn con nít nhà quê chúng tôi thường hát:

Ch ăn cá, em mút xương

Ch nm giường, em nm đt

Ch ăn mt, em liếm ve

Ch ăn chè, em liếm bát.

Té ra phận làm em cũng chẳng khác gì phận làm dân, chỉ rành cả đời mút xương, nằm đất, liếm ve với liếm bát. (96 bài báo - Bài số 78)

*2.3.2. Phỏng tác,

+ “Tưởng chng ba ch mà chơi ra

Bng chc nên quan đã sướng chưa?” (96 bài báo - Bài số 85)

+ “Phen này báo đã ra đi báo

Thi s lng, ra báo cn nhau” (Tản Đà)

Phỏng thơ Tàn Đà:

“Ví chăng báo thiệt ra đời báo

Thời sổ lồng, ra báo cắn ai”.

(96 bài báo - Bài số 95)

*2.3.3.Sáng tác

1. Li khuyên các c tri

Các cử tri ơi! Ở đời nhiều thứ nghị viên

Nghị thì giết heo đãi khách, nghị thì xuất tiền mua thăm.

Làm ông Nghị, trên thì đưa đãi sắt cầm, dưới thì phải tốn kém đến bạc trăm, bạc ngàn.

Các cử tri ơi! Lại nhiều ông Nghị nhờ quan.

Ép dân bỏ phiếu để được đội ơn cao dày,

Đánh lừa một hạng người ngay,

Mà mưu tư lợi cho dầy túi tham.

Các cử tri ơi! Nếu bọn này trúng cử ra làm

Thì một mai họ sẽ được phẩm hàm, giàu sang.

Họ mang chức tước về làng,

Họ xây nhà gạch, họ mang bài ngà.

Các cứ tri ơi! Họ có ngó gì đến quyền lợi chúng ta.

Sưu cao, thuế nặng, họ mà mất chi.

Đến kỳ hội nghị họ đi.

Họ chè chén, họ có nhớ gì đến đám bình dân.

Các cứ tri ơi! Em đây phận gái tảo tần,

Cái quyền bầu cứ chưa đến phần cái hạng nữ lưu.

Ngõ lời em hết sức yêu cầu

Cầm lá thăm cho xứng đáng phải biết bầu cho ai.

Các cử tri ơi! Vì ta, ta kiếm lấy người

 Rượu chè, cờ bạc, ta phải bỏ ngoài, xem khinh,

Sao cho xứng lá phiếu mình,

Bình dân trong nước còn đợi các anh đó mà.

Các cử tri ơi! Đúng như ai chè rựơu khề khà,

Đem thăm bán quách như tụi Chà và trong Nam,

 Đừng như ai, thấy bạc mà ham

 Một đồng, 5 - 7 cắc mà để tiếng tăm suốt đời.

Anh em ơi! Ghi lẩy mấy lời!

(GÁI QUÊ Báo SÔNG HƯƠNG, tục bản. SỐ 4, ngày 10- 7- 1937.

Bài số 63)

2. Góp... nht... chuyn tm phào,

Phen mô chứ phen ni, ông nghị xe tẩu N. Q. T., nguyên chí sĩ tiên sanh không muốn về xứ Quảng Nam nữa, vì ông cũng biết trước:

Mt phen ông ngh xách áo ra đi

Có v quê t, biết nói chi bây gi?

Nói hút sách, nói bc c

Dân xin ông xin ch x ngón oong đơ, thêm phi

(Mấy câu này hát theo điệu giã gạo Quang Nam, nghĩ hay đáo để)

(Báo SÔNG HƯƠNG, tục bản. Số 4, ngày 10- 7- 1937. Bài số 63)

3.“Cua” ai đem b vin này

(“Cua” từ chữ discours, tiếng Pháp có nghĩa là diễn văn)

K.Đ. thy tình cnh y cm kích quá mà ngâm rng:

a, a “cua” mô mà l ra?

C Li va nghe toát m hôi

Ông Cnh nhìn qua càng ngã ngữa

C Vin trưởng đc thêm ú

Quan khách nhìn nhau càng b ng

Vin nói rng “cua” trước khác “cua” sau

B cãi: mt chm, mt câu cũng không sa

Than ôi! Vic đi quá lôi thôi

“Cua” năm ngoái đã mt ri

“Cua” năm nay càng mt na

K.Đ. tôi vn k n, người dưng

Nhưng mi nghe qua cũng hơi a vía.

 (Viết theo điệu thơ mới)”

 (K.Đ. Báo Dân số 19, ngày 30- 9- 1938. Bài số 91)

+ “K.Đ. tôi vốn không phải thi sỹ, nhưng đối cảnh sinh tình, cũng phải ngâm rống lên mấy câu:

4. Tết Tây bun lm ch em ơi

Ch li qua sông đã biết ri

Ví th ngày mai tri lp quách

Sang năm con biết món chi coi” (96 bài báo - Bài số 84)

(K.Đ.Báo Dân số 4 ngay 29- 7- 1938)

+ “Một đại thi sỹ nọ cảm hứng đã ngâm mấy câu thơ:

Nhy đm ăn tic, ông Tây sướng

Liếm cho, leo đu, đa tr

Tri nng, li riêng phường chó chết

Bi lm, khó chết lũ buôn xe” (96 bài báo - Bài số 84)

5. Ý kiến mt người dân.

Cùng các ông Nghị,

Tranh ghế nghị viên mòn túi bạc,

Quay vào thường trực để xoay xu

 Nhưng nghị trường có kẻ trí, có người ngu

Đâu có phải rặt một đám lu bù vì danh lợi.

Ngày họp hội đồng nay sắp tới,

Các nghị tồi họ mớỉ trở đủ tải hay,

Nào nghị nghiền, nghị gật, nghị nhảy, nghị say,

 Nghị cờ bạc, nghị giơ tay hùa với chúng

 Các thứ nghị ấy là nghị viên lợi quyền dân (?).

Nếu xét mình hèn nhát chẳng nên thân.

Thì khuyên chớ ra tranh phần thường trực.

 Đừng thấy đồng tiền to mà ức,

Máu mủ dân nuốt ực dễ gì đâu?

Dân chúng tôi thành thực yêu cầu:

Bọn bợ đít, hoạt đầu và lòn cúi,

Ra ứng cứ, xin quý ngài thẳng tay đánh đuổi

 Quyết một lòng đng cử tụi ấy làm chi,

Chúng tôi xin nói “mét xì”

(Báo SÔNG HƯƠNG, tục bản. Số 12, ngày 7- 10- 1937. Bài số 77)

Nhn xét v ngôn ng ngh thut ca biếm văn

Về ngôn ngữ nghệ thuật, chúng tôi đã liệt kê được, qua phần biếm văn, rất nhiều kiểu: thành ngữ và tục ngữ, ngôn ngữ chuyên ngành, thơ ca và văn vần dân gian,…Trong số đó xét về xuất xứ có loại nguyên dạng, có loại chế biến, và có loại sáng tác. Các kiểu ngôn ngữ trên hấp dẫn, thú vị và có sức thuyết phục vì:

- có vần, nhịp điệu, hình ảnh;

- một bộ phận được đúc kết và lưu truyền lâu đời trong dân gian, rất gần guĩ, thân thiết với dân chúng, trở thành chân lý mặc nhiên, không phải chứng minh.

Nhà báo Phan Quang đã rút ra nhận xét tương tự: “Phan đăng Lưu uyên thâm cả về Hán học, Tây học, song văn của ông không mang tính bác học mà bao giờ cũng bình dị. Đọc lại 400 trang tuyển tác phẩm báo chí của ông, (Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu, tiểu sử, tác phẩm, NXB Thuận Hóa, 1998), hầu như không hề thấy ông sử dụng điển cố Đông Tây, hơi văn thường thoải mái, giọng điệu bình dân, mà không kém phần trí tuệ. Tôi nghĩ, có lẽ một phần do hoàn cảnh phải đối phó với nhà cầm quyền thực dân và bươn chải để sống nhờ độc giả, song cái cơ bản hơn, sâu xa hơn, chắc chắn là xuất phát từ căn cốt một nhà cách mạng liên hệ máu thịt với nhân dân lao động.”[61]

Đúng là đ/c Phan Đăng Lưu là “một nhà cách mạng liên hệ máu thịt với nhân dân lao động”, nên đã dạy nhà thơ Tố Hữu “lấy ngôn ngữ quần chúng” và bản thân mình đã thực hiện như vậy.Đây là ý kiến của Tố Hữu:

“Chính anh (Phan Đăng Lưu), một hôm bảo tôi:- Thế thì cậu cứ dấn lên! Chỉ có điều là phải chú ý: hãy ở gần với đời sống, với quần chúng lao động, với công nhân, với nông dân. Cậu phải lấy ngôn ngữ của quần chúng, cậu phải viết dễ đọc, dễ hiểu và đừng quá dài, chớ có khó…” [62]

III. Tiu kết

1.“ đ/c Phan Đăng Lưu, s nghip cách mng luôn gn bó hu cơ vi s nghip báo chí và văn hóa- văn ngh. Nếu làm cách mng gii phóng dân tc, phc v nhân dân là mc tiêu lý tưởng cao đp nht ca đng chí, thì s dng báo chí và văn hc đến tm sâu bn cht nhân văn li là vũ khí sc bén hu hiu đ thc hin mc tiêu lý tưởng cao đp y. mi quan h nhân qu này, s nghip báo chí, văn hc ca đng chí có giá tr lý lun và thc tin sâu sc đ trên đó góp phn xây dng nn móng ca văn hc cách mng, khái quát nhng quan đim khoa hc, ca nhng người cng sn Vit Nam, v trí thc, v văn ngh s và nn văn hc ngh thut; m đường cho văn hc ngh thut phát trin.”[63]

2.Cuộc đời và hoạt động của đ/c Phan Đăng Lưu rất phong phú đa dạng và luôn luôn sôi động: 39 năm tại thế, 18 năm cách mạng, hơn 7 năm tù đày,….Trong số đó, thời gian trực tiếp đấu tranh báo chí không nhiều (1936- 1939), nhưng đ/c đã đóng góp to lớn cho Cách mạng. Riêng về nghề báo, đ/c đã đóng góp to lớn về “tư duy báo chí”, “phong cách làm việc” (Phan Quang) và kỹ thuật, ngôn ngữ, nghệ thuật làm báo. Sau đây là ý kiến của nhà báo Phan Quang về vấn đề trên.:

“Quãng đời hoạt động của Phan Đăng Lưu với tư cách là nhà báo với nội dung trọn vẹn của hai từ ấy, như đã nói, không dài. Nhưng đó là những năm tháng gặt hái được nhiều kinh nghiệm, mở rộng thanh thế của báo chí cách mạng, gây ảnh hưởng to lớn trong nhân dân, trước hết là trong các tầng lớp trí thức, công chức, học sinh. Tư duy báo chí cũng như phong cách làm việc của ông rất đáng cho các nhà báo chúng ta ngày nay học tập, suy ngẫm.”[64]

 3. Đúng ra về báo chí của đ/c Phan Đăng Lưu, như trên đã ghi, có nhiều đề tài, và văn chương báo chí của đ/c thay đổi bút pháp, phong cách theo đề tài:

- Tố cáo hành động dã man của kẻ địch ở nhà tù thì chọn những tội ác tiêu biểu nhất, ghi rõ thời gian, địa điểm, tên những người bị hại, “khi cần ngòi bút của ông sắc như gươm” (Phan Quang). Nhờ thế mà nhiều phen chúa ngục phải thua, ví dụ cuộc tuyệt thực 8 ngày ở nhà tù Buôn Ma thuột;

 “…Chiều hôm ấy, tên giám binh và bác sỹ Cô- ly- nô vào, có một số cai đội người Đê đi theo. Với thái độ ôn hòa, tên Công sứ hỏi lại nguyện vọng, anh em kể lại rõ ràng từng khoản một. Hắn nhận tất cả và hứa sẽ giải quyết đầy đủ. Nói xong chúng cho lính tháo cùm và khuyên anh em ăn dần dần, không nên ăn nhiều có hại vì vừa nhịn đói lâu ngày.”[65]

- Về tình hình thế giới thì tri thức mênh mông trải ra trên toàn cầu, qua một sự kiện, có nhiều sự kiện liên quan được dẫn để minh chứng. Đặc biệt, đ/c đã vạch ra bản chất được dấu kín, ngụy trang dưới vỏ hòa bình, dân chủ, nhân đạo,…của các hành động của bọn tư bản, đế quốc, phát xít.

- Khi kể chuyện thì từ chỗ đặt tên, đến lời mở đầu đều đưa ra mâu thuẫn, chỉ ra vấn đề lý thú, lôi cuốn người đọc từng bước cho đến kết thúc là cởi nút.

- Biếm văn là một thể loại đặc hiệu, có những điểm riêng như đã nêu ở trên đây.

4. Ở phần mở đầu, chúng tôi đã nêu lên sự đóng góp to lớn của đ/c Phan Đăng Lưu về nhiều mặt. Riêng về báo chí, đ/c là “một là một chiến sỹ tiền phong”:

“Không chỉ là một nhà tổ chức, nhà lãnh đạo xuất sắc, đồng chí Phan Đăng Lưu còn là nhà báo, nhà lý luận sắc sảo, một chiến sỹ tiên phong của nền báo chí và văn học cách mạng Việt Nam”[66]

Tôi đồng ý với PGS.TS Nguyễn Thế kỷ: “Trong trang sử vàng của cách mạng Việt Nam, báo chí Việt Nam, Phan Đăng Lưu có một vị trí đáng kính trọng. Ông mãi mãi được nhớ đến, được ghi công như là một lãnh tụ xuất sắc của Đảng ta, nhân dân ta, một nhà báo trung kiên, ưu tú.”[67]

Tuy nhiên, về sự nghiệp báo chí của đ/c Phan Đăng Lưu, chúng ta nghiên cứu được quá ít, cần phải bỏ nhiều công phu hơn nữa:

“Sự nghiệp báo chí của Phan Đăng Lưu rất cần được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu sâu sắc và toàn diện hơn.”[68]

 

KT THÚC

1. Kết lun

Ở phần trên, chúng ta đã đi qua 5 chương:

- Chương th nht: Sơ lược cuộc đời và tiểu sử đ/c Phan Đăng Lưu- những điều ít được công bố.

- Chương th hai: Đ/c Phan Đăng Lưu với sự nghiệp chuyển hướng chiến lược của Đảng.

- Chương th ba: Công việc bồi dưỡng tri thức chính trị- kinh tế học cho cộng đồng của đ/c Phan Đăng Lưu.

- Chương th tư: Công việc giáo dục lòng yêu nước qua “Thi văn các nhà chí sỹ Việt Nam”.

- Chương th năm: Đ/c Phan Đăng Lưu và sự nghiệp đấu tranh báo chí.

Qua đó, chúng ta có thể rút ra một số điểm tóm tắt về đ/c Phan Đăng Lưu như sau:

Đ/c là “một trí tuệ uyên bác” (Tố Hữu), là “trí thức cách mạng tiêu biểu” (Lê Duẩn), “là một trí tuệ, một nhân cách” (Võ Nguyên Giáp), giác ngộ chủ nghĩa Cộng sản; đã đảm nhiệm xứ ủy Trung kỳ, trung ương ủy viên, rồi Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi đ/c Nguyễn Văn Cừ bị bắt (17- 1- 1940) đ/c Phan Đăng Lưu đảm đương công việc Tổng bí thư/ Bí thư trung ương. Sau khi đ/c Võ Văn Tần, Trung ương ủy viên cuối cùng bị bắt (21- 4- 1940), đ/c Phan Đăng Lưu tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, giành nhiều thắng lợi. Ở hội nghị VII, đ/c từ chối nhiệm vụ Quyền bí thư, giới thiệu đ/c Đặng Xuân Khu, lúc bấy giờ là xứ ủy viên Bắc Kỳ, để mình nhận đi vào chỗ “sớm muộn cũng bị địch bắt” (lời đ/c Phan Đăng Lưu)

Cuộc đời hoạt động của đ/c rất phong phú, đa dạng, sôi động:

- từ bỏ đời làm cán sự kỹ thuật canh nông “vinh thân phì gia”, dấn thân vào hoạt động cách mạng gian khổ và hiểm nguy, 18 năm, từ đảng Tân Việt đến đảng Cộng sản;

- 7 năm bị tù ở Buôn Ma Thuột;

- thời kỳ Mặt trận dân chủ, đ/c đã vận động và lãnh đạo công cuộc đấu tranh trong và ngoài Viện dân biểu Trung kỳ, rất thắng lợi;

- đã vận động và lãnh đạo có kết quả phong trào mặt trận thống nhất phản đế 1936- 1940.

Về tri thức, đ/c uyên thâm văn hóa Á đông, đã qua 10 năm đèn sách, thông thạo tứ thư ngũ kinh, “đã đi thi hương cùng các cụ chống gậy, khi còn để tóc trái đào” (lời cụ thân mẫu); và về sau, lưu loát Trung văn, nhờ đó đ/c đã đóng vai người Hoa để hoạt động ở Chợ Lớn; uyên bác văn hóa Âu Mỹ, qua tiếng Pháp (rất giỏi, “tự vị sống”) và tiếng Anh; giỏi cả tiếng Ê đê.

Ngoài ra đ/c giỏi bơi lội, leo trèo, viết chữ Hán rất đẹp, được bà con Nam Bộ tôn là “ông đồ mỹ tự” (theo nhà văn Sơn Tùng).

Về tính tình, đ/c rất điềm đạm, giản dị, cởi mở, vui vẻ, hài hước, thân thương, có sức thuyết phục cao đối với mọi tầng lớp, kể cả từ tên cướp ở Ninh Hòa- Phú Yên, đến các vị đại thân sỹ và thượng lưu trí thức.

Với một cuộc đời như vậy, đ/c Phan Đăng Lưu đã hy sinh vì Tổ quốc, tại pháp trường thực dân, phong kiến, ngày 26- 8- 1941, lúc 39 tuổi đời.

*

Đ/c Phan Đăng Lưu là một người mà trí tuệ, tài năng, đạo đức, phẩm chất,… hiếm có. Đ/c đã để lại cho chúng ta một tấm gương sáng ngời, và một kho tàng kinh nghiệm vô cùng quý báu về nhiều mặt:

- cùng tập thể, chủ động vạch ra đường lối chuyển hướng chiến lược sáng suốt năng động, sau Xô viết Nghệ Tĩnh thất bại, và chỉ đạo vận động thực hiện thắng lợi,

- tham gia và lợi dụng các tổ chức công khai của địch để đấu tranh giành quyền lợi cho nhân dân,

- đấu tranh trong nhà tù đế quốc,

- chuẩn bị bạo lực cách mạng để giành lại độc lập, tự do, từ tay chính quyền địch; chuẩn bị cho giai đoạn tiền CM và CM tháng Tám,

- sử dụng công cụ văn chương và báo chí để đấu tranh cách mạng.

2. Đ/c Phan Đăng Lưu là một trí thức, có trí tuệ uyên bác, đã từ yêu nước, căm thù bọn xâm lược, thương dân; cháy bỏng quyết tâm cứu dân, cứu nước, đi đến giác ngộ chủ nghĩa cộng sản; về mặt tổ chức, đ/c đã đi từ đảng Tân Việt đến đảng Cộng sản.

Đi vi k thù:

Trong hoàn cảnh nào, môi trường nào đ/c cũng đánh bại âm mưu của chúng, giành lại thắng lợi cho cách mạng; trong đó có thể kể đến hai môi trường tiêu biểu có tính đối lập:

- Ở nhà tù Buôn Ma Thuột, man rợ vào loại nhất, đ/c đã đánh bại cơ bản âm mưu dùng người Thượng để giết hại tù nhân người Kinh; đã tố cáo được chế độ nhà tù dã man; đã giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh tuyệt thực 8 ngày,….

- Thời kỳ Mặt trân dân chủ  ở Trung Kỳ, đ/c đã thành công trong đấu tranh báo chí, “tham gia bầu cử, lợi dụng nghị trường” đem lại kết quả 100%.

Đi vi cách mng:

Trong những khúc quanh, bước ngoặt của lịch sử, ở những thời điểm nhiều sự kiện, nhiều thái độ đối lập nhau phức tạp, lẫn lộn trắng đen, đúng sai,…đ/c đã phân biệt đúng sai môt cách rất rạch ròi, sáng suốt, và vô cùng chính xác.

Có thể kể một số trừờng hợp sau đây:

- Dứt khoát hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ, trong hoàn cảnh không khí xung quanh, sôi nổi, rạo rực, quyết liệt yêu cầu nổi dậy. Sau đó, qua ý kiến của Hội nghị Trung ương VII và qua thực tiễn, khởi nghĩa bị dìm trong bể máu, và sự nhận khuyết điềm, kỷ luật của các đ/c xứ ủy Nam Kỳ,…chứng tỏ chủ trương hoãn là rất sáng suốt.

- Đ/c rất tích cực và chủ động trong công cuộc chuyển hướng chiến lược của Đảng, nhờ sự chuyển hướng này, Đảng ta, dân tộc ta từng bước giành được thắng lợi cho đến đại khải hoàn là cách mạng tháng Tám.

- Hội nghị Trung ương VII là hội nghị được mở ra do đ/c Phan Đăng Lưu sáng kiến, móc nối, triệu tập, chủ trì, trình bày báo cáo và tổng kết. Hội nghị đã giải quyết được ba nhiệm vụ lớn là:

+ Tái lập Ban chấp hành, từ chỗ chỉ có một mình đ/c Phan Đăng Lưu là ủy viên chấp hành kiêm ủy viên Thường vụ.

+ Cử đ/c Đặng xuân Khu làm quyền Tổng bí thư.      

+ Chuyển địa điểm Trung ương từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ.

Những chủ trương lớn này đã cứu vãn Đảng về mặt tổ chức.

Tóm lại, đ/c Phan Đăng Lưu là một người lãnh đạo KIÊM TOÀN NHÂN, TRÍ, DŨNG. Thiết tưởng, chế độ nào, triều đại nào cũng cần minh quân.

2. Kiến ngh

Xin lấy lời đại tướng Võ Nguyên Giáp làm kiến nghị:

"Tôi là lớp đàn em, học trò của Phan Đăng Lưu. Anh Lưu là người cộng sản lỗi lạc, mẫu mực. Cần làm cho mọi người dân, nhất là thế hệ trẻ hiểu biết rõ hơn về một con ngưòi, một trí tuệ, một nhân cách đã có những đóng góp lớn cho cách mạng Việt Nam, để phấn đấu tu dưỡng rèn luyện theo gương Bác Hồ và những chiến sĩ cách mạng tiền bốì như Phan Đăng Lưu"[69] [70]

3. Nhng d kiến đành đ li cho đi sau

Đồng chí Phan Đăng Lưu, một khối lượng tri thức đồ sộ, một bộ não cường ký hiếm có, một trí tuệ năng động và sáng suốt tuyệt vời, một lối sống hết sức gần gũi, thân thương,…; đã phải ra đi lúc mới 39 tuổi đời, gác lại bao nhiêu dự kiến tốt đẹp về dân tộc, về nhân dân và Đảng; về các vấn đề đường lối chiến lược, kinh nghiệm đấu tranh, xây dựng đội ngũ,…ai mà biết được.

Duy chỉ có về sưu tầm sáng tác, nghiên cứu, tư liệu còn để lại rõ, ngoài các tập Thi văn các nhà chí s Vit Nam tp sau tp I, đ/c còn dự định biên soạn:

- Ngc Buôn Ma Thut với đ/c Lê Văn Hiến [71]

- Vit Nam cn đi cách mng gin s cùng đ/c Trần Huy Liệu1

Chúng ta tin rằng nếu còn thì giờ dương thế, đ/c Phan Đăng Lưu ắt hoàn thành khẩn trương, với chất lượng cao các dự kiến trên, như đã được chứng minh trong cuộc đời của đ/c, mà chúng ta đã biết.

Nhưng rồi “sự hốt nhiên trung bại” (Trần Hữu Lực), do đó, ngày nay, chúng ta phải tiếp bước, để góp phần an ủi hương linh tiền nhân./.

          

 Hà Ni, 16h, ngày 8 tháng 8 năm 2016

P.Đ.N

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

- Bùi San (1978): Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 04 (181) tháng 7 và 8 năm 1978.

- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập.

- Đinh Xuân Lâm (2010): Về thông tin “Phan Đăng Lưu là Ủy viên Trung ương Đảng từ 1939 đến 1941 và cũng trong thời gian này là Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Trung ương Đảng”, Văn hóa Nghệ an, số 170 ngày 10- 4- 2010.

- Hoàng Quốc Việt (1985): Chặng đường nóng bỏng (hồi ký), NXB Lao động, H.

- Hoa Trung (biên) (1929): Kinh tế học tiểu sử (Quyển hạ), Tủ sách Quan hải tùng thư, nhà in Tiếng dân, đường Đông Ba, Huế.

- Hoàng Tùng (2002): Trường Chinh- một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, H., 2002.

- Hồng Phi: Những ngày cuối cùng của đồng chí Phan Đăng Lưu, trong ngục tù đế quốc (ký ức), (Tài liệu lưu trữ tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ký hiệu 3B, tr.4.)

- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Nguyễn Văn Cừ - Tiểu sử,[1]Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên (theo Quyết Định số 1721-QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6 - 2009): Phan Đăng Lưu – Tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015.

- Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ (2001): Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM.

- Lưu Phương Thanh (1986): Đồng chí Phan Đăng Lưu, một cán bộ lãnh đạo kiên cường và sáng suốt, Sài Gòn giải phóng, số 22- 1- 1986

- Nghị quyết của Ban Trung ương Đảng ngày 6,7,8 Novembre 1939, Phụ Lục I Khỏi nghĩa Nam kỳ.

- Nghị quyết hội nghị VI ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939 (Thường được gọi là hội nghị lần thứ VI của Trung ương), Phụ lục 1, sách Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ.

- Ngô Đức Mậu ( 1995): Những lần gặp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, NXB Văn hóa thông tin, H,, tr. 190.)

- Ngô Nhật Sơn (1987): Đồng chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh,

- Nguyễn Ái Quốc (1941): Lời kính cáo đồng bào ngày 6- 6- 1941, Phụ lục 10, sách Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ.

- Nguyễn Thành (1998): Phan Đăng Lưu tiểu sử- tác phẩm, NXB Thuận Hóa.

- Nguyễn Văn Khoan,chủ biên (2015): Thượng Chi- Phạm Quỳnh, NXB Văn học, H, 2015.

- Nguyễn Văn Khoan (2007): Đi tới mùa xuân- Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB công an Nhân dân, 2007. “Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử”, đăng trên tờ Sinh hoạt nội bộ ở Việt Bắc, ký tên X.Y.Z., (Bác Hồ)

- Phi Bằng (bút danh) (1939): Thi văn các nhà chí sỹ Việt Nam, NXB Tân Thanh, Huế.

- T. C. (1939):Tự chỉ trích, Tài liệu lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam

- Tân Cương (bút danh) (1937): Xã hội tư bản, NXB Tư tưởng mới, (Tua ran) Đà Nẵng.

- Tân Cương (bút danh) (1937): Thế giới cũ và thế giới mới,, NXB Tư tưởng mới, (Tua ran) Đà Nẵng,.

- Tôn Quang Duyệt (1975): Phan Đăng Lưu- Một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc kiên cường, một người trí thức cách mạng tiêu biểu,Tạp chí nghiên cứu sử học, số 163, tháng 7 và 8 năm 1975.

- Trần Giang, Nam kỳ khởi nghĩa, 23 tháng 11- 1940.

- Tuyên bố 1940 Đảng Cọng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7.

- Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 26- 6- 1940

- Vũ Văn Thuấn, chủ biên (2015), Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối: Phan Đăng Lưu –Tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, H.

- Văn kiện Đảng toàn tập, Nghị quyết của hội nghị Trung ương ngày 6,7,8,9- 11- 1940.

- Văn kiện Đảng toàn tập (tập 2) (1998), NXB. Chính trị Quốc gia.

- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2004), Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc Thông nhât Việt Nam, tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia./.


1 Về ngày hy sinh của đồng chi Phan Đăng Lưu, nhiều sách báo viết rất khác nhau, 24-5-1941 là ngày trên báo Tiếng dân, ứng với ngày giờ 26-4 năm Tân Tỵ.

[1] Chúng tôi đã thống kê được 14 tài liệu, kể cả bia mộ , ghi rõ đ/c Phan Đăng Lưu là Thường vụ ban Chấp hành Trung ương Đảng, xin ghi tóm tắt xuất xứ một số trường hợp: - Hoàng Tùng, Mt lãnh t tr tui,- Trần Giang:Lch s khi nghĩa Nam K, - Báo Nhân dân s 3- 2- 1965,tr.2, - Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, tr.403, - Minh Thi: báo Lao động số 8- 4- 2001, - Sách Lê Duẩn tiểu sử, tr.110, - Sách Trn Quc Hương nhân cách và kỳ tích,- Tp chí nghiên cu lch s Đng số tháng 9- 10- 1972,- Sài Gòn gii phóng ngày 22- 1- 1986,- Bia mộ đ/c Phan Đăng Lưu tai nghĩa trang liệt sỹ TP HCM,v. v…..

[2] Đinh Xuân Lâm:V thông tin Phan Đăng Lưu là y viên Trung ương Đng t 1939 đến 1941 và cũng trong thi gian này là y viên Thường v Ban chp hành Trung ương Đng, Văn hóa Nghệ an, số 170 ngày 10- 4- 2010.

[3] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên: Phan Đăng LưTiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.241

[4] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng LưTiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.243

2 Phan Đăng Lưu, tiu s - tác phm: Nguyễn Thành, Nxb. Thuận hóa, 1998, tr.58.

3 Hoàng Tùng: Trường Chinh  mt nhân cách ln, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, tr.118.

4 Nguyễn Thị Ngọc Hải: Trn Quc Hương, người thàyNxb. Công an nhân dân, H.2003, tr.37.

[5] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên: Phan Đăng LưTiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.312.

[6] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng LưTiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.313

[7] Nguyễn Thị Hồng Tâm, tức Mười Lụa- tài liệu lưu ở nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu

[8] Văn kiện Đảng toàn tập (tập 2), NXB. Chính trị Quốc gia, 1998, tr. 274- 283. Chuyển dẫn theo Nguyễn Văn Khoan (chủ biên): Chương Chi  Phm Quỳnh, Nxb. Văn học, 2015, tr.87.

[9] Uy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhât Việt Nam, tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia, 2004, tr. 104.

[10] Nguyễn Văn Khoan (chủ biên): Thượng Chi- Phm Qunh, NXB Văn học, H, 2015, tr.87- 88.

[11] Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, các tác giả: PGS Trần Thành, Hoàng Tùng, PTS Nguyễn Văn Khoan, PGS Trình Mưu, PGS- PTS Phạm Xanh, PTS Nguyễn Thanh Tâm, Lê Doãn Hợp: Đng chí Lê Hng Phong, mt lãnh t xut sắc ca Đng, NXB CTQG,II, 1997, tr.85 và 91, chuyển dẫn theo Nguyễn Văn Khoan.

[12] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 523.

[13] T ch trích: Văn kiện Đảng toàn tập, tr.645 (Tài liệu lưu tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam)

[14] Chú thích: mặt A là một phương diện của vấn đề, măt B là phương diện đối lập của vấn đề đó.

[15] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 456.

[16] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 456.

[17] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng LưTiu sNxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 233.

[18] Lưu Phương Thanh: Đồng chí Phan Đăng Lưu, một cán bộ lãnh đạo kiên cường và sáng suốt, Sài Gòn giải phóng, số 22- 1- 1986 (ô Thuấn tr,225)

[19] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 484.

[20] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 485.

[21] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 486.

[22] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 501.

[23] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 490.

[24] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 50.

[24] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên Phan Đăng LưTiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 238.

 2. Trần Giang, Nam kỳ khởi nghĩa, 23 tháng 11- 1940, tr. 30

[26] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ, Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 507.

[27] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng LưTiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 248 và Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, SDD, t.7, tr. 12- 14

[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, SDD, t.7, tr. 12- 14.

[29] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên Phan Đăng LưTiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 249- 250.

[30] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 442.

[31] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 422.

[32] Văn kin Đng toàn tp, Nghị quyết của hội nghị Trung ương ngày 6,7,8,911- 1940, tr. 77.

[33] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên (theo Quyết Định số 1721- QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6- 2009): Phan Đăng LưTiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.309)

[34] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 66, chú thích.

[35] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr.70, chú thích.

[36] Toàn bộ mục sự thành công của hội nghi VII là của: Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên (theo Quyết Định số 1721-QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6- 2009): Phan Đăng LưTiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.310- 315. Tham khảo: Phan Đăng Thuận, luận văn tốt nghiệp Đại học Vinh, ngành Sử, đề tài về Đồng chí Phan Đăng Lưu.

[37] Ngô Nhật Sơn: Đng chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh, 1987, tr.14

[38] Chu Văn Biên, hồi ký: Trong sách Theo đường kách mnh, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng và Hội Văn nghệ Nghệ An xuất bản, 1970.

[39] Ngô Nhật Sơn: Đng  chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh, 1987, tr.22.

[40] Ngô Nhật Sơn: Đng  chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh, 1987, tr.39.

[41] Ngô Nhật Sơn: Đng  chí Phan Đăng Lưu, Nxb. Nghệ Tĩnh, 1987, tr.40-41.

[42] Có ý kiến nói rằng: cuốn sách này có Lê Nhiếp cộng tác với Phan Đăng Lưu (chú thích của Nguyễn Thành)

[43] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối: Phan Đăng Lưtiu sNXB Chính trị Quốc gia , 2015, tr. tr.390.

[44] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu tiu s- tác phm, NXB Thuận Hóa, 1998,tr. 50

2 Đến đây xem trở lại với bút danh Bằng Phi và Phi Bằng. Sách “Thi văn các nhà chí sĩ Việt Nam” ghi bút danh là Phi Bằng. Ở trên chúng tôi đã dẫn 5 ý kiến nói rõ Phi Bằng là Phan Đăng Lưu. Đến đây xuất hiện một tác giả bút danh là Bằng Phi cũng viết “Văn thơ của các chí sĩ Việt Nam”. Bằng Phi là ai? Là Phan Đăng Lưu. Trong bài báo số 54 “Thư tàu bay”, của Phan Thị Hồng Anh gửi Phan Đăng Lưu (báo Sông Hương tục bản, số 13, ngày 7-10-1937) người viết gửi cho Bằng Phi. Trong “Tiểu dẫn” tòa soạn ghi “Phan Đăng Lưu theo lời một người con gái Việt Nam, tên là Phan Thị Hồng Anh” từ Nam Kinh, Trung Quốc, viết thư gửi cho Bằng Phi.

[45] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu tiu s- tác phm, NXB Thuận Hóa, 1998,tr.49, 50, 51.

[46] Trần Ngọc Điệp: Tm gương khí tiết mt người công sn, tài liệu lưu tại nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu     

[47] GS Chương Thâu: Thư gửi Phan Đăng Nhật ngày 8- 12- 2015, lưu ở nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu.

[48] Ngô Đức Mậu: Nhng ln gp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, Nxb. Văn hóa – Thông tin, H, 1995, tr.192- 193.

[49] Ngô Đức Mậu: Nhng ln gp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, NXB Văn hóa –Thông tin, H, 1995, tr.106- 197.

[50] Ngô Đức Mậu: Nhng ln gp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, NXB Văn hóa –Thông tin, H, 1995, tr.202.

[51] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 214- 215.

[52] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 320- 321.

[53] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu , tiu s- tác phm, NXB. Thuận Hóa, 1998, tr. 40)      

[54] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu , tiu s- tác phm, NXB. Thuận Hóa, 1998, tr. 41

[55] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu sNXB. Chính trị Quốc gia, H, 2015,  tr.155.

[56] Ngô Nhật Sơn: Đng chí Phan Đăng Lưu. Nxb. Nghệ Tĩnh 1987, tr. 35.

[57] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu , tiu s- tác phm, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 41- 42.

[58] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu sNxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.181.

[59] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu sNxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.181.

[60] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu sNxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.305.

[61] Phan Quang: Phan Đăng Lưu, nhà báo cách mng, Thương nhớ vẫn còn, t.1,NXB Trẻ, 2004, tr. 169.

[62] Tố Hữu: Máu và hoa- con đường ca nhà thơ T Hu, Tác phẩm mới, số 57, tháng 1- 1976, tr.81

[63] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.322- 323.

[64] Phan Quang: Phan Đăng Lưu, nhà báo cách mng, Thương nhớ vẫn còn, t.1,NXB Trẻ, 2004,tr. 166.

[65] Tôn Quang Duyệt: Phan Đăng Lưu, mt chiến s cng sn li lc, kiên cường, mt trí thc cách mng tiêu biu, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 1975, số 4(163), tr. 54.

[66] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu sNXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.5.

[67] Nguyễn Thế Kỷ:Phan Đăng Lưu, người cng sn, nhà báo ưu túNhân dân cuối tuần, số 47 (877), ngày 20- 11- 2005.

[68] Phan Quang: Phan Đăng Lưu, nhà báo cách mng, Thương nhớ vẫn còn, t.1,NXB Trẻ, 2004,tr. 166.

21- PĐLTS

[70] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu sNxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.313.

[71] Sau khi Lê Văn Hiến cho xuất bản thiên phóng sự nổi tiếng: Ngc Kôngtum  nhà xuất bản Tư tưởng mới, Phan Đăng Lưu giúp cho Lê Văn Hiến chuẩn bị viết tiếp cuốn “Ngục Buôn Ma Thuột”. Công việc mới bắt đầu tiến hành thì mật thám đến khám nhà, tịch thu hết tài liệu, đành phải gác lại, rồi công tác khẩn trương cuốn hút đi nên không có thì giờ và điều kiện để trở lại.

(Theo lời kế của Nguyễn Văn Hiến, chú thích của Nguyễn Thành, sách Phan Đăng Lưu, tiu s- tác phm, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr.49)

1 “…Đã từ lâu, vì nhu cầu của thời đại, vì tính thích nghiên cứu về sử học, nhất là say sưa về những chuyện cách mạng gần đây, tôi ôm một mộng lớn là viết một quyển sử cách mạng Việt Nam từ thời Pháp thuộc.

Cho được thực hiện cái mộng lớn ấy, nhất định là sức một người không thể làm nổi, mà phải một nhóm người có đủ tài liệu và năng lực. Chẵng những thế, sau khi được đọc mấy quyển sử thế giới, viết theo một quan điểm mới của những sử gia mới, những sử gia theo chủ nghĩa Mác, tôi càng hăng hái muốn có một quyển sử Việt Nam viết theo một bút pháp mới. Như vậy, một nhóm người cùng nhau biên tập mà tôi ao ước, vừa con phải có một quan điểm chung về lịch sử. Gần đây, chung quanh tôi, những người nhận xét sự việc theo quan điểm mới, không phải là ít, nhưng tìm một người cộng tác vẫn rất khó.

Năm 1937, tôi đã gặp anh Phan Đăng Lưu, lúc ấy làm bí thư cho cụ Phan Sào Nam ở Huế. Chúng tôi đã đụng đầu nhau giữa cái mộng lớn, và trong khi chờ đợi có những đ/c khác hợp tác thêm, chúng tôi đã hẹn nhau trong việc tiến hành và phân công……Cuối năm 1940, trong khi nằm ở nhà tù Sơn La, tôi được tin đ/c Phan Đăng Lưu, người cộng tác duy nhất của tôi, bị giặc Pháp bắn chết trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa.”

(Trần Huy Liệu: Bn d tho Vit Nam cđi cách mng gin sBáo Cứu quốc, số 11, ngày 15- 10- 1948)ảnh lễ cải táng đ

 

ảnh mộ P Đ L tại nghĩa trang Liệt sỹ  Tp

 

ảnh PĐL, mật thám Pháp chụp, 1929http://www.ubndhyenthanh.nghean.vn/uploads/spaw/news/1339060095.nv.jpg

                               Tượng đài đ/c Phan Đăng Lưu tại huyện lỵ Yên Thành- Nghệ An

 

 

1 Về ngày hy sinh của đồng chi Phan Đăng Lưu, nhiều sách báo viết rất khác nhau, 24-5-1941 là ngày trên báo Tiếng dân, ứng với ngày giờ 26-4 năm Tân Tỵ.

[1] Chúng tôi đã thống kê được 14 tài liệu, kể cả bia mộ , ghi rõ đ/c Phan Đăng Lưu là Thường vụ ban Chấp hành Trung ương Đảng, xin ghi tóm tắt xuất xứ một số trường hợp: - Hoàng Tùng, Mt lãnh t tr tui,- Trần Giang:Lch s khi nghĩa Nam K, - Báo Nhân dân s 3- 2- 1965,tr.2, - Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, tr.403, - Minh Thi: báo Lao động số 8- 4- 2001, - Sách Lê Duẩn tiểu sử, tr.110, - Sách Trn Quc Hương nhân cách và kỳ tích,- Tp chí nghiên cu lch s Đng số tháng 9- 10- 1972,- Sài Gòn gii phóng ngày 22- 1- 1986,- Bia mộ đ/c Phan Đăng Lưu tai nghĩa trang liệt sỹ TP HCM,v. v…..

[2] Đinh Xuân Lâm:V thông tin Phan Đăng Lưu là y viên Trung ương Đng t 1939 đến 1941 và cũng trong thi gian này là y viên Thường v Ban chp hành Trung ương Đng, Văn hóa Nghệ an, số 170 ngày 10- 4- 2010.

[3] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.241

[4] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.243

2 Phan Đăng Lưu, tiu s - tác phm: Nguyễn Thành, Nxb. Thuận hóa, 1998, tr.58.

3 Hoàng Tùng: Trường Chinh mt nhân cách ln, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, tr.118.

4 Nguyễn Thị Ngọc Hải: Trn Quc Hương, người thày, Nxb. Công an nhân dân, H.2003, tr.37.

[5] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.312.

[6] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.313

[7] Nguyễn Thị Hồng Tâm, tức Mười Lụa- tài liệu lưu ở nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu

[8] Văn kiện Đảng toàn tập (tập 2), NXB. Chính trị Quốc gia, 1998, tr. 274- 283. Chuyển dẫn theo Nguyễn Văn Khoan (chủ biên): Chương Chi Phm Quỳnh, Nxb. Văn học, 2015, tr.87.

[9] Uy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhât Việt Nam, tập 1, NXB. Chính trị Quốc gia, 2004, tr. 104.

[10] Nguyễn Văn Khoan (chủ biên): Thượng Chi- Phm Qunh, NXB Văn học, H, 2015, tr.87- 88.

[11] Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, các tác giả: PGS Trần Thành, Hoàng Tùng, PTS Nguyễn Văn Khoan, PGS Trình Mưu, PGS- PTS Phạm Xanh, PTS Nguyễn Thanh Tâm, Lê Doãn Hợp: Đng chí Lê Hng Phong, mt lãnh t xut sắc ca Đng, NXB CTQG,II, 1997, tr.85 và 91, chuyển dẫn theo Nguyễn Văn Khoan.

[12] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 523.

[13] T ch trích: Văn kiện Đảng toàn tập, tr.645 (Tài liệu lưu tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam)

[14] Chú thích: mặt A là một phương diện của vấn đề, măt B là phương diện đối lập của vấn đề đó.

[15] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 456.

[16] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 456.

[17] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 233.

[18] Lưu Phương Thanh: Đồng chí Phan Đăng Lưu, một cán bộ lãnh đạo kiên cường và sáng suốt, Sài Gòn giải phóng, số 22- 1- 1986 (ô Thuấn tr,225)

[19] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 484.

[20] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 485.

[21] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 486.

[22] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 501.

[23] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 490.

[24] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 50.

[24] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 238.

 2. Trần Giang, Nam kỳ khởi nghĩa, 23 tháng 11- 1940, tr. 30

[26] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ, Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 507.

[27] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên: Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 248 và Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, SDD, t.7, tr. 12- 14

[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, SDD, t.7, tr. 12- 14.

[29] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn, chủ biên Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 249- 250.

[30] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 442.

[31] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 422.

[32] Văn kin Đng toàn tp, Nghị quyết của hội nghị Trung ương ngày 6,7,8,911- 1940, tr. 77.

[33] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên (theo Quyết Định số 1721- QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6- 2009): Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.309)

[34] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr. 66, chú thích.

[35] Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ: Lch s khi nghĩa Nam Kỳ,Trần Giang chủ nhiệm, TP HCM, 2001, tr.70, chú thích.

[36] Toàn bộ mục sự thành công của hội nghi VII là của: Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, Vũ Văn Thuấn , chủ biên (theo Quyết Định số 1721-QĐ/HVCT- HCQG, tháng 6- 2009): Phan Đăng Lưu Tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.310- 315. Tham khảo: Phan Đăng Thuận, luận văn tốt nghiệp Đại học Vinh, ngành Sử, đề tài về Đồng chí Phan Đăng Lưu.

[37] Ngô Nhật Sơn: Đng chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh, 1987, tr.14

[38] Chu Văn Biên, hồi ký: Trong sách Theo đường kách mnh, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng và Hội Văn nghệ Nghệ An xuất bản, 1970.

[39] Ngô Nhật Sơn: Đng  chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh, 1987, tr.22.

[40] Ngô Nhật Sơn: Đng  chí Phan Đăng Lưu, NXB Nghệ Tĩnh, 1987, tr.39.

[41] Ngô Nhật Sơn: Đng  chí Phan Đăng Lưu, Nxb. Nghệ Tĩnh, 1987, tr.40-41.

[42] Có ý kiến nói rằng: cuốn sách này có Lê Nhiếp cộng tác với Phan Đăng Lưu (chú thích của Nguyễn Thành)

[43] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối: Phan Đăng Lưu tiu s, NXB Chính trị Quốc gia , 2015, tr. tr.390.

[44] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu tiu s- tác phm, NXB Thuận Hóa, 1998,tr. 50

2 Đến đây xem trở lại với bút danh Bằng Phi và Phi Bằng. Sách “Thi văn các nhà chí sĩ Việt Nam” ghi bút danh là Phi Bằng. Ở trên chúng tôi đã dẫn 5 ý kiến nói rõ Phi Bằng là Phan Đăng Lưu. Đến đây xuất hiện một tác giả bút danh là Bằng Phi cũng viết “Văn thơ của các chí sĩ Việt Nam”. Bằng Phi là ai? Là Phan Đăng Lưu. Trong bài báo số 54 “Thư tàu bay”, của Phan Thị Hồng Anh gửi Phan Đăng Lưu (báo Sông Hương tục bản, số 13, ngày 7-10-1937) người viết gửi cho Bằng Phi. Trong “Tiểu dẫn” tòa soạn ghi “Phan Đăng Lưu theo lời một người con gái Việt Nam, tên là Phan Thị Hồng Anh” từ Nam Kinh, Trung Quốc, viết thư gửi cho Bằng Phi.

[45] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu tiu s- tác phm, NXB Thuận Hóa, 1998,tr.49, 50, 51.

[46] Trần Ngọc Điệp: Tm gương khí tiết mt người công sn, tài liệu lưu tại nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu     

[47] GS Chương Thâu: Thư gửi Phan Đăng Nhật ngày 8- 12- 2015, lưu ở nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu.

[48] Ngô Đức Mậu: Nhng ln gp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, Nxb. Văn hóa – Thông tin, H, 1995, tr.192- 193.

[49] Ngô Đức Mậu: Nhng ln gp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, NXB Văn hóa –Thông tin, H, 1995, tr.106- 197.

[50] Ngô Đức Mậu: Nhng ln gp anh Phan Đăng Lưu, “Non nước”, NXB Văn hóa –Thông tin, H, 1995, tr.202.

[51] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 214- 215.

[52] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr. 320- 321.

[53] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu , tiu s- tác phm, NXB. Thuận Hóa, 1998, tr. 40)      

[54] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu , tiu s- tác phm, NXB. Thuận Hóa, 1998, tr. 41

[55] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB. Chính trị Quốc gia, H, 2015,  tr.155.

[56] Ngô Nhật Sơn: Đng chí Phan Đăng Lưu. Nxb. Nghệ Tĩnh 1987, tr. 35.

[57] Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu , tiu s- tác phm, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 41- 42.

[58] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.181.

[59] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.181.

[60] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.305.

[61] Phan Quang: Phan Đăng Lưu, nhà báo cách mng, Thương nhớ vẫn còn, t.1,NXB Trẻ, 2004, tr. 169.

[62] Tố Hữu: Máu và hoa- con đường ca nhà thơ T Hu, Tác phẩm mới, số 57, tháng 1- 1976, tr.81

[63] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.322- 323.

[64] Phan Quang: Phan Đăng Lưu, nhà báo cách mng, Thương nhớ vẫn còn, t.1,NXB Trẻ, 2004,tr. 166.

[65] Tôn Quang Duyệt: Phan Đăng Lưu, mt chiến s cng sn li lc, kiên cường, mt trí thc cách mng tiêu biu, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 1975, số 4(163), tr. 54.

[66] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.5.

[67] Nguyễn Thế Kỷ:Phan Đăng Lưu, người cng sn, nhà báo ưu tú, Nhân dân cuối tuần, số 47 (877), ngày 20- 11- 2005.

[68] Phan Quang: Phan Đăng Lưu, nhà báo cách mng, Thương nhớ vẫn còn, t.1,NXB Trẻ, 2004,tr. 166.

21- PĐLTS

[70] Vũ Văn Thuấn (chủ biên): Phan Đăng Lưu- tiu s, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2015, tr.313.

[71] Sau khi Lê Văn Hiến cho xuất bản thiên phóng sự nổi tiếng: Ngc Kôngtum nhà xuất bản Tư tưởng mới, Phan Đăng Lưu giúp cho Lê Văn Hiến chuẩn bị viết tiếp cuốn “Ngục Buôn Ma Thuột”. Công việc mới bắt đầu tiến hành thì mật thám đến khám nhà, tịch thu hết tài liệu, đành phải gác lại, rồi công tác khẩn trương cuốn hút đi nên không có thì giờ và điều kiện để trở lại.

(Theo lời kế của Nguyễn Văn Hiến, chú thích của Nguyễn Thành, sách Phan Đăng Lưu, tiu s- tác phm, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr.49)

1 “…Đã từ lâu, vì nhu cầu của thời đại, vì tính thích nghiên cứu về sử học, nhất là say sưa về những chuyện cách mạng gần đây, tôi ôm một mộng lớn là viết một quyển sử cách mạng Việt Nam từ thời Pháp thuộc.

Cho được thực hiện cái mộng lớn ấy, nhất định là sức một người không thể làm nổi, mà phải một nhóm người có đủ tài liệu và năng lực. Chẵng những thế, sau khi được đọc mấy quyển sử thế giới, viết theo một quan điểm mới của những sử gia mới, những sử gia theo chủ nghĩa Mác, tôi càng hăng hái muốn có một quyển sử Việt Nam viết theo một bút pháp mới. Như vậy, một nhóm người cùng nhau biên tập mà tôi ao ước, vừa con phải có một quan điểm chung về lịch sử. Gần đây, chung quanh tôi, những người nhận xét sự việc theo quan điểm mới, không phải là ít, nhưng tìm một người cộng tác vẫn rất khó.

Năm 1937, tôi đã gặp anh Phan Đăng Lưu, lúc ấy làm bí thư cho cụ Phan Sào Nam ở Huế. Chúng tôi đã đụng đầu nhau giữa cái mộng lớn, và trong khi chờ đợi có những đ/c khác hợp tác thêm, chúng tôi đã hẹn nhau trong việc tiến hành và phân công……Cuối năm 1940, trong khi nằm ở nhà tù Sơn La, tôi được tin đ/c Phan Đăng Lưu, người cộng tác duy nhất của tôi, bị giặc Pháp bắn chết trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa.”

(Trần Huy Liệu: Bn d tho Vit Nam cn đi cách mng gin s, Báo Cứu quốc, số 11, ngày 15- 10- 1948)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}