Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Gặp gỡ Sơn La

Ghi chép của Phạm Xuân Đào | Thứ Ba, 14/11/2017 16:40 GMT +7

Rậm rịch, sôi nổi bàn luận sau bao ngày tháng trên fcb rồi háo hức đợi chờ, cuối cùng chúng tôi cũng lên đường.

Đó là sáng ngày 9/11/2017, một buổi sáng đầu đông, trời Hà nội se se dịu ngọt và bảng lảng sương mù. Chưa tới 6 giờ sáng, những cú điện thoại đã ý ới gọi nhau. Rồi người người lục tục lên xe. Đúng 6 giờ, từ 58 Quán Sứ - trụ sở của Đài tiếng nói Việt Nam, chiếc xe ca 57 chỗ ngồi với nước sơn vàng xanh tươi mới lướt nhẹ qua các con phố hướng về phía tây ngoại ô. Khi đó chưa phải giờ cao điểm nên đường Hà nội khá vắng và đi lại dễ dàng. Bảy giờ kém 15, xe đã có mặt tại cửa chính Trung tâm Hội nghị quốc gia phía đại lộ Thăng long… Tôi là người áp chót bước lên xe, lúc đó đã khá đông người. Chỉ kịp “chào các cụ”, nhét vội chiếc túi du lịch lên gác phía trên đầu, tôi ngồi vội vào ghế thì xe đã tiếp tục lăn bánh… 

Những tiếng hỏi, tiếng cười nói lao xao. Nhìn ra xung quanh, gặp những gương mặt quen quen mà là lạ nhưng tôi không hề mắc cỡ. Bốn mươi năm rồi còn gì… Những người bạn từ mọi miền Tổ quốc mang không khí háo hức ùa vào trong xe. Mấy bạn từ Sài Gòn, Bình Dương, Quảng Ngãi và Nghệ An bay ra; mấy bạn từ Quảng ninh, Hải Phòng, Hải dương và Nam định tụ về; lại có bạn từ nước Đức xa xôi kịp về cùng tựu tề đông đủ. Không khí trong xe mỗi lúc mỗi tưng bừng náo nhiệt. Tôi như thấy chiếc xe đang chật hơn bởi những giọng nói những nụ cười của bạn bè bốn phương râm ran như tết… Lại nhớ, cũng vào tiết cuối thu đầu đông như thế này cách nay đã 40 năm, từ mọi miền đất nước, chúng tôi tụ về ký túc xã Mễ trì rồi cùng lên chiếc xe ca, khấp khởi tới vùng Chùa Thầy, Sài Sơn, Quốc Oai để sống mấy tháng nửa dân nửa lính và sau đó về trường cùng 4 năm vượt khó đến lúc ra trường…

Xe rời cao tốc Thăng long rồi dừng lại bên lề đường nhựa do Cu Ba xây dựng cách nay đã mấy chục năm. Chúng tôi xuống xe, cùng vào ăn sáng. Bây giờ mới có dịp nhìn rõ mặt từng người, những cái bắt tay thật chặt và thân thiết. Tôi nhận ra nhiều người vì đã từng gặp nhau trong chặng đường công tác trước đây, nhưng cũng có người thì… đành chịu, lại phải hỏi để từng người giới thiệu. Bốn mươi năm, quãng thời gian khá dài để con người thay đổi cả về hình dáng, dung nhan và có thể là một phần tính cách. Từ những sinh viên sôi nổi độ tuổi mười tám đôi mươi, giờ chúng tôi trẻ nhất cũng đã xấp xỉ lục thập. Vậy nên không nhớ được nhau cũng là điều dễ hiểu dễ chấp nhận, cảm thông…

Xe tiếp tục lăn bánh trên con đường số 6 lịch sử, qua những cung đường hai bên núi đá dựng đứng và những dãy núi điệp trùng, qua những đoạn đường đèo dốc quanh co hướng về Tây bắc. “Hát đi! Hát về Tây bắc đi!” - ai đó nêu ý kiến và lập tức một giai điệu hào hùng được Đặng Vũ Thảo cất lên và tất cùng cả hát theo:

“Qua miền Tây bắc núi ngút ngàn rừng xa.
Suối sâu đèo cao bao khó khăn vượt qua.
Bộ đội ta vâng lệnh cha già.
Về đây giải phóng quê nhà…”

GIẤC MƠ - Nhạc và lời Phạm Việt Long, cựu sinh viên K22, kỷ niệm Sơn La, từ một câu dân ca của người Thái viết nên ca khúc này

Tất cả vỗ tay cùng hát. Không có nhạc, nhưng giọng hát của những “lão sinh viên” độ tuổi 60 không hề yếu ớt, không hề đứt quãng với ca khúc “Qua miền Tây bắc” của Nguyễn Thành với âm hưởng hào hùng, về vùng đất gian lao mà anh dũng… mà có thể trong chúng tôi, có người đây mới là lần đầu tiên họ đặt chân tới nơi này.

Rồi trên suốt chặng đường, những tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát liên tục được vang lên tưởng như không ngưng nghỉ. Sau những bài hát là những câu chuyện tiếu lâm được các cựu sinh viên đua nhau kể. Tất cả ngặt nghẽo cười, không khí càng lúc càng sôi nổi… qua những những đoạn đường có vách núi dựng đứng, những vạt rừng đầy hoa và bướm, mọi người đều để mắt quan sát… và những kỷ niệm của một thời sinh viên của 40 năm về trước lại hiện về trên những gương mặt bạn bè...

Ngày ấy, chúng tôi tựu trường. Những sinh viên khoa Ngữ văn chủ yếu là các em mới tốt nghiệp phổ thông cấp III. Cùng với đó là những người lính như chúng tôi trở về sau những tháng năm chinh chiến ở khắp các chiến trường. Ngày ấy, cánh lính chúng tôi được các em gái tỏ ra “mến phục” và trìu mến gọi bằng “chú” rất thân thương. Nhưng hình như càng ở với nhau lâu, các chú càng trẻ ra (!?) Vậy nên dần dà, các cháu không gọi chú mà chuyển gọi anh, xưng em ngọt như mía nướng. Ngày ấy, anh Sỹ Tuấn lớp tôi đã nói vui “phải có đề tài nghiên cứu cấp quốc gia về chủ đề Từ chú xuống anh, bước thụt lùi hay nhảy vọt”. Cái chất văn cứ thấm dần vào từng con người, vô tư, lãng mạn và yêu đời, mặc dù những khó khăn như trùm lên cả đoạn đời sinh viên và nó đang sừng sững đón đợi từng người trong tương lai. Ngụp lặn trong gian khó để học tập, nhưng những vần thơ lãng mạn của tuổi đang yêu được các bạn “sản xuất” không biết mệt mỏi. Những đêm thơ sinh viên hằng năm vẫn được tổ chức. Một sân chơi bổ ích cho những trái tim non trẻ Văn khoa những năm 80 của thế kỷ XX. Làm được bài thơ, đọc cho nhau nghe rồi cùng nhau ra quán Tư cối uống trà và ăn kẹo vừng…Vậy mà cứ vui, cứ phới phới như thể chả có gì gian khó. Rồi tình yêu giữa họ bắt đầu nảy nở. Những “chú cháu” trước đây đã tay trong tay tình tứ, những tiếng anh em thân thiết đến nao lòng. Và sau này nhiều cặp đôi đã thành vợ thành chồng và đi suốt chặng đường, mà điển hình là anh bạn đồng hương của tôi - Nguyễn Tiến Sơn. Bốn năm Văn khoa Tổng hợp Hà nội là bốn năm đầy ắp những kỷ niệm buồn vui. Nhưng có lẽ nhớ nhất, khó quên nhất là biến cố “trùng cửu” mà ai học ở trường thời đó không thể không nhớ, nếu không muốn nói là không thể nào quên. Sự kiện diễn ra vào đêm mùng 9 tháng 9 năm 1981 khi sinh viên cả ký túc xá Mễ trì rùng rùng “xuống đường” trừng trị những kẻ ngông cuồng chuyên ăn hiếp sinh viên nữ… Cánh cổng ký túc xá đổ nghiêng, một biển người ào ra đường… Sau này tôi được nghe chú Thiện tâm sự rằng “tôi đã được chứng kiến cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, nhưng có lẽ không khí không thể hừng hực như đêm hôm ấy”. Sau này, một số sinh viên quá khích của khoa khác đã bị Công an “hỏi thăm”, riêng sinh viên Văn Khoa thì chả ai hề hấn gì. Có lẽ bởi, sinh viên Văn khoa có những phản ứng quyết liệt nhưng rất… nhân văn?!

Còn đây là bạn Đặng Sơn rất thân mến của tớ! (tại sao cái ảnh nhảy đôi với Như Lý Đào mất tiêu đâu rồi?)
Nếu không có Đặng Sơn ở trên Sơn La thì tớ không quả quyết chuyện đi Sơn La đến thế. Sau lần họp khóa 30 năm, dẫn 2 cô cậu PV đi lên Sơn La chơi, thấy ông bạn mặt đầy hơi men như cái bình 5 lít chưa vơi đứng chỉ đạo trẻ con chơi bóng đá 
Bạn Hà tính phiêu lưu, mò lên huyện Bắc Yên định ngắm hoa đào, xem Tết người Mông, mấy ngày mưa gió, thấy ở đấy có bè xuôi về Hòa Bình là nhảy phắt lên, nhắn ông bạn ở thành phố SL gửi giùm cái laptop đang để nhà khách tỉnh về HN. Hôm vừa rồi Sơn bảo tao còn chưa biết cái laptop là cái giề...
Hôm 11 chuẩn bị lên xe về HN, thấy mặt bạn nhìn rất ngu, thì ra đang mất ví tiền. 
Báo cho bạn biết là tìm thấy vì đánh rơi trong KS rồi, mặt vẫn y nguyên như thế!
Phạm Thanh Hà

Cuối năm 1981 chúng tôi ra trường. Hơn 100 sinh viên K22 khoa Ngữ văn (gồm 2 lớp Văn, 1 lớp Ngữ và 1 lớp Hán - Nôm) tỏa đi khắp mọi miền Tổ quốc, có nhiều người lạc sang cả trời tây. Những năm tháng khó khăn ấy, các phương tiện thông tin rất hạn chế, không thuận tiện như bây giờ và tất cả phải gồng mình lao vào cuộc mưu sinh với muôn vàn khó khăn gian khổ nên mọi người ít có dịp theo dõi để biết về nhau... Hôm nay, ngày gặp lại (dù chưa đủ đầy) nhưng mọi người cùng mừng vì tất cả đều khỏe mạnh, tất cả đều rạng ngời ánh mắt tuy tóc người nào người nấy đã pha sương, những khuôn mặt một thời phơi phới sinh viên, giờ đã hiện nhiều nếp chân chim nơi đuôi mắt, thảng hoặc có người da đã chớm đồi mồi... nhưng vẫn còn đó những tâm hồn tươi trẻ, phới phới của tuổi hai mươi. Và khi đã hiểu khá tận tường về từng con người đang ở xung quanh mình, tôi mới ngộ ra một điều, té ra K22 đã là một trong những khóa thành đạt nhất của Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà nội. Hầu hết anh chị em đi theo nghề báo, nhiều người trở thành Tổng biên tập, phó Tổng biên tập của những tờ báo, cuốn tạp chí có tiếng của đất nước. Có bạn trở thành Giáo sư - Tiến sỹ làm việc trong Viện Văn học, Viện ngôn ngữ thuộc Viện hàn lâm khoa học Việt Nam và các viện chuyên ngành khác. Số ít trở thành thầy cô giáo dạy học tại các trường cấp II, cấp III ở các địa phương. Một bộ phận nhỏ đi học thêm rồi chuyển sang hoạt động trong ngành tư pháp ở Trung ương và các các tỉnh xa Hà nội. Người trở thành giám đốc của hãng phim Hoạt hình; người làm giám đốc sở Văn hóa thể thao và du lịch; có người đang là Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam; một bạn khác hiện là Phó tổng biên tập báo Nhân dân. Nhiều người đã trở thành nhà Văn, nhà thơ, nhà biên kịch thành danh trong làng Văn nghệ nước nhà như Đinh Thiên Phúc, Trịnh Thanh Nhã. Chỉ nghe thế cũng đã thấy tự hào lắm chứ…

Đúng 12 giờ trưa ngày 9/11, xe chúng tôi đã dừng tại Mộc châu. Mọi người xuống xe, cùng hít thở cái không khí thanh tao, thoáng đãng của vùng đất cao nguyên và đón những làn gió núi mơn man của vùng sơn cước… ánh mắt ai cũng thân thiết, rạng ngời. Chúng tôi vào một quán ven đường “nạp đạn” để tiếp tục cuộc “tây tiến”. Một vò rượu (đã được hạ thổ nhiều năm) được lấy ra. Những chén rượu tình nghĩa chạm vào nhau rồi cùng uống. Mọi người uống rượu, uống cả ánh mắt và tình nghĩa bạn bè… Bữa trưa đã xong, nhưng tất cả đều chùng chình, bởi không ai muốn nhanh rời xa nơi này. Vậy là cả đoàn bỏ ô tô, thả bộ tiến về khu lưu niệm trung đoàn Tây tiến. Tiếng ai đó đọc vang mấy câu thơ của cố nhà thơ Quang Dũng:

“…Tây tiến đoàn binh không mọc tóc. 
Quân xanh màu lá dữ oai hùm. 
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới. 
Đêm mơ Hà nội dáng kiều thơm…”

Tới khu lưu niệm trung đoàn 52 thủa trước, mọi người nhanh chóng triển khai đội hình để chụp ảnh nhằm lưu lại những hình ảnh, những khoảnh khắc hiếm có này. Vậy là lại lôi kéo, lại dùn đẩy, tạo dáng… và các nghệ sỹ chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp thi nhau trổ tài. Mải chụp ảnh đến nỗi “lệnh” lên đường được ban ra nhưng phải mất hơn 30 phút sau mới tập hợp đủ quân để tiếp tục lên đường. 

Càng đi lên phía Sơn La con đường đi càng dốc. Tiếng cười lại ngả nghiêng theo những cung đường với những khúc cua đột ngột, cùng với những câu chuyện tiếu lâm được mọi người tranh nhau kể. Vậy nên dù đã gần một ngày hành quân, nhưng “Trung đoàn Hà nội” vẫn khỏe re và sẵn sàng, háo hức “đổ bộ” vào thành phố Sơn La…

Trời tối rất nhanh. Mới nắng đó mà đã xâm xẩm tối. Sơn La mờ ảo hiện ra trong sương, trong ánh điện muôn màu. Tôi chợt nhớ tới bốn thơ của anh bạn - nhà thơ Nguyễn Hòa Bình, người đang có mặt trong xe: 

“Thành phố trẻ mang hình cánh võng. 
Nửa mắc vào mây nửa mắc vào rừng. 
Chỉ chợt gió đã rối lòng phố núi. 
Sơn La chiều đá cũng bâng khuâng”. 

Đó là những vần thơ Bình viết về Sơn la khi ánh nắng còn vương trên phố xá. Còn bây giờ Sơn La đã vào đêm, nó rực rỡ, huyền ảo như một bức tranh sơn thủy được dát bởi muôn ngàn ánh điện lung linh đủ mọi sắc màu. 

Xe bỗng đột ngột dừng. Có tiếng lao xao ở phía đầu xe. Rồi từ cửa ra vào xuất hiện hai chàng trai và một cô gái, ô không - phải gọi là hai người đàn ông và một người phụ nữ mới đúng. Chúng tôi nhận ngay ra đó là Quang Khải, Đặng Sơn và Vương Oanh, những cựu sinh viên K22 Khoa Ngữ văn, quê Sơn la ra đón bạn bè. Những cái bắt tay rất chặt, những cái lắc tay rất mạnh và những nụ cười rạng rỡ tươi tắn trên những khuôn mặt đã thấm mệt qua một ngày nghiêng ngả trên xe…

Nhận phòng, tắm táp và ăn tối rồi tất cả chúng tôi ùa ra sân. Bên tấm pano với dòng chữ rất lớn được các bạn Sơn la chuẩn bị trước đó “Gặp mặt 40 năm ngày tựu trường K22 khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Hà nội” và dưới ánh điện lung linh, những nam nữ cựu sinh viên Văn khoa K22, tuổi trên dưới 60 thay nhau hát và đọc thơ. Đúng như dự đoán từ trước khi đi, các tiết mục thơ sẽ rất nhiều nên phải “hạn chế” để ai cũng được đọc. Vậy nên “ban tổ chức” đã ra quyết định “Ai đọc thơ thì phải nộp tiền”. Ừ thì nộp, có sao. Các nhà thơ chuyên và không chuyên rút tiền nộp phạt (cho vào quỹ) rồi đọc thơ một cách say sưa. Đêm Sơn La yên tĩnh. Những giọng thơ cứ âm vang bay bổng giữa thành phố, giữa núi rừng tưởng như không bao giờ dứt. Xen kẽ là những màn múa hát của những cô sơn nữ bản Bó tươi tắn, trẻ trung rất uyển chuyển, rất mềm mại trong tiếng nhạc rộn ràng hút hồn người… 

Các tiết mục diễn ra liên tục và sân khấu không lúc nào gián đoạn. Vẫn chưa có dấu hiệu ngưng nghỉ, “ban tổ chức” quyết định dừng thôi vì đêm đã về khuya. Tất cả chúng tôi ùa ra sân, nắm tay các cô sơn nữ cùng vũ điều múa xòe trong tiếng nhạc bập bùng rộn rã. Rồi những cần rượu được vít xuống, tất cả cùng uống cái men ngòn ngọt, cay cay của rượu, của tình người sau 40 năm gặp lại. Tiếng nhạc đã ngưng, nhưng những ánh mắt vẫn còn thèm thuồng ngơ ngác… đành vậy thôi, hãy dành tới đêm sau.

Sáng hôm sau (10/11/2017) chúng tôi dậy sớm, ăn sáng rồi ra xe đi ngược lên phía bắc thăm công trình thủy điện Sơn La. Càng lên cao con đường càng uốn lượn lướt qua những dãy núi đá sừng sững và những vùng núi cây cối um tùm. Những cánh rừng cao su, rừng chuối bạt ngàn cứ trôi về phía sau. Hơn một tiếng, xe chúng tôi đã lên tới mặt công trình thủy điện. Khỏi phải nói không khí nơi đây thoáng đãng, trong lành và mát mẻ thế nào. Tất cả xuống xe ngắm con đập từ phía thượng nguồn. Các tốp lại kéo nhau tạo dáng chụp ảnh không biết mệt mỏi. Những ngọn núi mây phủ soi mình xuống thượng lưu con sông Đà mùa này hiền hòa như đang ngủ. Rồi xe chở chúng tôi tới khu đồn trú của đơn vị công an bảo vệ công trình. Từ nơi này, nhìn ngược lên phía trên, con đập thủy điện sừng sững oai phong như đang thách thức với thiên nhiên, với thời gian… lại chụp ảnh, lại quay phim cùng với những tiếng nói giọng cười hồn nhiên như thủa sinh viên. Những lần trước lên đây vào mùa xuân, hoa Ban nở trắng rừng Tây bắc, nhưng đợt này là đông, Ban chưa nở, nhưng đây đó vẫn có những nhành Ban khoe màu tím đỏ, điểm xuyết đó đây là những nhành Điệp vàng óng khoe sắc rung rinh…

Tạm biệt thủy điện, chúng tôi lên xe và được các bạn Sơn La đưa vào cửa hàng ăn trưa. Những đặc sản của núi rừng mà có người lần đầu được thưởng thức được bày ra. Rượu lại được rót ra. Những tiếng cụng li lách cách và những tiếng cười tiếng nói lại ồn ào. Lạ lắm, trên dưới 60 rồi, đã lên ông bà rồi mà vẫn mày mày tao tao vô tư như thủa chưa gì… bữa ăn kéo dài sang tới tận chiều, xe mới đưa chúng tôi trở về thành phố. Dọc đường xe dừng lại để mọi người qua chợ vừa ngắm cảnh, vừa mua những mặt hàng là lạ mà có lẽ dưới xuôi ít có.

Nhận nhà nghỉ vào lúc 3 giờ 30 chiều. Một số anh chị em nghỉ lại lấy sức, số trẻ hơn (và có lẽ lần đầu lên đây) lại lên xe vào thăm nhà tù Sơn La, một di tích lịch sử quốc gia đã đi vào sử sách. Họ qua các phòng, nơi mà các chiến sỹ cộng sản tiền bối đã bị giam cầm và sau này trở thành những lãnh tụ của đất nước và chụp ảnh bên cây đào Tô Hiệu…Có lẽ, chưa lúc nào những cựu sinh viên K22 Văn khoa Tổng hợp lại xúc động và cảm phục cha ông mình đến thế.

Bảy giờ tối ngày 10/11, chúng tôi lên tầng 7 của khách sạn Sao Xanh 5. Một bữa tiệc thực sự được bắt đầu. Những món đặc sản của vùng Tây bắc được bày biện bắt mắt trên khắp mặt bàn. Đặng Sơn, Quang Khải và Vương Oanh - những chủ nhân của Sơn La đi đến từng bàn rót rượu, chúc mọi người. Rượu Ngu và gà Điên là hai món chủ đạo trong bữa ăn hôm ấy. Nhiều người thắc mắc rồi hỏi ra mới biết, bà con dân tộc ở đây gọi rượu Ngô là rượu Ngu, còn gà đen thành gà Điên. Và vậy là hình như cái điên, cái ngu ấy cứ ngấm dần vào các “cụ sinh viên” K22 Văn khoa nên “các cụ” cứ ngây ngây, dài dại, điên điên, tây tây… để rồi chưa ăn xong, những lời ca, tiếng hát đã lại vang lên trong một không gian vô cùng hấp dẫn. Vẫn lệ phạt tiền nếu đọc thơ. Một “quy định bắt buộc” vẫn được duy trì. Nhưng có hề chi, những nhà thơ - những người bạn Văn sau 40 năm gặp lại vẫn móc ví bỏ tiền vào nơi quy định để được say sưa đọc thơ cho nhau nghe. Những cái tên thân thuộc như Nguyễn Thị Quý, Tuyết Nga, Hà Nguyên Đối, Vương Hạng, Nguyễn Viết Hiện và đặc biệt là Nguyễn Hòa Bình lần lượt xuất hiện trên sân khấu…Khuya lắm mà chả ai muốn về. Mọi người như cố nán lại để được gần nhau hơn, nhìn nhau rõ hơn và được ấm áp hơn …Nhưng rồi cuộc vui nào cũng có hồi kết. Chúng tôi chia tay nhau trong âm vang của những bản tình ca Tây bắc đằm thắm và những giai điệu hào hùng của ông cha về vùng đất thân yêu của Tổ quốc…

Sáng hôm sau, tất cả đem theo tư trang từ phòng ngủ lên xe, đi ăn sáng rồi bịn rịn chia tay những người bạn Sơn La và được nhận quà từ những người bạn yêu quý ở đây. Những túi gạo nếp thơm, những hạt lạc săn chắc mẩy đều cùng những chai mật ong vàng sếnh thấm đẫm tình nghĩa bạn bè được chuyển lên xe. Ha ha… vậy là tất cả chúng tôi đều đều có quà. Đúng là vừa được ăn, được nói, lại vừa được gói mang về…Chúng tôi bắt tay, vỗ vai nhau cười ha hả và hẹn ngày gặp lại. Xe rời Sơn La trong nỗi niềm bịn rịn và tiếc nuối. Những cánh tay từ trên xe vẫy chào những người bạn Văn đang đứng trên phố, vẫy chào Sơn La để về xuôi…

Dọc đường về, lại hát, lại cười bởi những câu chuyện tiếu lâm như “chuyến bay VN Elai” của Lưu Xuân Lý hay “Bà rủa cho mày lòi ruột ra ” của Phạm Xuân Đào… như không bao giờ dứt. Đôi lúc mệt quá, không khí trong xe tạm lắng xuống, nhưng chỉ một lát thôi, các nhà thơ, các ca sỹ lại hát, lại đọc thơ và lại cười ha hả. Trưa ấy, chúng tôi dừng ở Mộc châu, vào thăm nhà bạn Thức (Văn A) và ăn bữa cơm mang đặc bản sắc núi rừng. Lại rượu, lại xôi nếp nương và những món ăn dân tộc thơm lừng được bày trên mâm lá chuối…nhưng tất cả quá ngon, ngon đến nỗi không ai có thể cưỡng lại được... Quá trưa, chúng tôi mới chính thức lên xe tạm biệt nơi này…

Mọi người trên xe đều hồ hởi về chuyến đi lịch sử và đều có chung một cảm nhận: cuộc gặp Sơn La của Văn K22 , Đại học Tổng hợp Hà Nội lần này thật ấm áp và tình nghĩa. Chỉ tiếc là nhiều anh chị, nhiều bạn vì những lý do nào đó đã không thể tham gia được cuộc gặp này. Nhưng không sao, sẽ có những cuộc gặp sau đông hơn, vui hơn, ý nghĩa hơn và đằm thắm hơn…Tuy không nói ra, nhưng tất cả đều có chung một cảm nhận rằng, có cuộc hội ngộ Sơn La vui vẻ như hôm nay, mọi người phải cảm ơn bạn Phạm Thanh Hà, (một phóng viên gạo cội của báo Nhân dân nay đã nghỉ hưu) trong việc kêu gọi, gắn kết và tổ chức cuộc gặp đầy ý nghĩa này. Cũng không thể không ghi nhận sự chuẩn bị chu đáo và sự đón tiếp nồng hậu thắm tình anh em bè bạn của Quang Khải, Đặng Sơn và Vương Oanh để cuộc gặp gỡ hay đến thế, vui đến thế, say đến thế, ý nghĩa đến thế và đáng nhớ đến thế. Nhưng sẽ là thiếu sót, thiếu sót đáng phải phê phán nếu chúng ta không nói tới một người bạn (với tôi là chú em) nhưng hắn có cái tầm và cái tâm tuyệt vời, đó là Nguyễn Thế Kỷ, người đã tạo điều kiện để chúng ta có một cuộc gặp gỡ đằm thắm, ấm áp và nghĩa tình sau 40 năm chúng ta tựu trường… 

Chào nhé Sơn La, chào nhé Tây bắc thân thương, chào bạn bè yêu quý và thân thiết, chúng ta tạm chia tay và hẹn gặp lại năm sau. 

Hà Nội, những ngày giữa tháng 11/2017

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}