Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Giọng điệu trẻ trung nhưng kinh lịch trong thơ Quang Hoài

Bùi Văn Kha | Thứ Hai, 23/03/2020 11:16 GMT +7

Tôi quen anh Quang Hoài đủ lâu để trò chuyện tâm giao, nhưng đọc thơ anh thì chỉ hai mươi năm nay, khi tôi cùng nhà thơ Bùi Việt Mỹ làm cuốn “Hà Nội thơ tình tuyển chọn”. Tôi chọn bài thơ “Nôn nao anh nhớ Nam Hồng” vì nó thật sáng sủa. Tôi cho anh là người làm thơ lục bát thuộc tạng quen tay…


Rồi mười năm sau tôi gặp anh thường xuyên hơn khi anh làm biên tập thơ cho Tạp chí Tản Viên Sơn chỗ nhà thơ Dương Kiều Minh làm Tổng biên tập, sau là hoạ sĩ Nguyễn Văn Chuốt Phó tổng biên tập phụ trách. Lúc này tôi mới thật sự đọc thơ Quang Hoài nhiều vì hai lẽ: một là, anh đều đặn cho ra các tập thơ chất lượng; hai là, anh ham mê hoạt động thơ với tư cách nhà thơ.


Càng ngày, Quang Hoài càng sáng tác và hoạt động với ý thức tác giả. Anh gần như không tính những sáng tác thời kỳ trước 1975 của mình, mà chỉ chuyên chú vào các ấn phẩm có mốc thời gian là thế kỷ Hai mốt. Anh không nhận mình là nhà thơ chống Mỹ, mà là nhà thơ của hiện thời và hôm nay.


Trong tập “Gió sông Hồng vẫn thổi” xuất bản năm 2006, anh cho thấy quan niệm của anh về một thứ thơ dù có vẻ hơi hướng báo chí: “Nhà thơ…/ Chỉ có nhà thơ/ Sung mãn đôi cánh mềm mại/ Tung hoành giữa có và không” (Nhà thơ).


Tuy nhiên giữa có và không, Quang Hoài nghiêng về cái không hơn: “Mẹ đã cho con cánh cò giấc mơ tuổi nhỏ, mà sao con chẳng thể bay cao bay xa giữa trời lộng gió, để lụi tàn bếp lửa mẹ nhen?” (Trước mộ mẹ).


Chẳng biết trái ngang đời thực thế nào, mà hình tượng Mỵ Châu cứ ám ảnh nhà thơ, để mấy lần trong thơ đọng nỗi niềm oan khuất: “Dẫu lầm lỡ hay dại khờ/ Trắng trong sao hoá vết nhơ để đời?/…Cúi xin hỏi đất cùng trời/ Oan này kêu đến bao đời cho khuây” (Trước am thờ Mỵ Châu). Hay: “Sang Đìa qua chợ Vân Trì/ Ý chừng em bảo nhớ về Đông Anh/ Kẻo quên chuyện cũ Loa Thành/ Mỵ Châu xưa gửi thân mình cho ai?” (Nôn nao anh nhớ Nam Hồng).


Mấy câu này tuy không nói rõ là ai, mà cái liên tưởng lại trầm buồn đến vậy: “Thương ai trót nông nổi/ Đợi chờ ai sám hối/ Mà mắt sóng đỏ hoe/ Rưng rưng bên cố đô?” (Gió sông Hồng vẫn thổi).


Xin nhắc lại, đây là những câu thơ làm trước năm 2006.


Đã buồn như bao anh chàng làm thơ, thì cũng không thể không dẫn thêm mấy câu này: “Giá đừng dốc cái đắm say/ Dại khờ đổi lấy tháng ngày xót xa/ Giá đừng bèo bột sẻ chia/ Cả tin kẻ thả bùa mê lọc lừa/ Giá đừng tỉnh bán mê mua/ Vàng thau lẫn lộn thiếu thừa quẩn quanh” (Gửi em đi Côn Sơn).


Đến nỗi, trước mộ cụ Nguyễn Tiên Điền, càng buồn, mà buồn cũng chỉ “một mình mình biết, một mình mình hay” : “Anh cúi đầu đứng lặng/ Buồn không được cùng em…/… Một nỗi đau tái tê/ Em ơi! Em có biết?” (Thơ tình viết trước mộ Nguyễn Du).


Trước những sự tình xảy ra buồn nhiều hơn vui, mà chỉ “giống nhà thơ ” mới rõ: “Ơi Thái Bình! Mẹ và em/ Ngày đêm lận đận lo toan…//…Tôi ở Đồng Châu đêm ấy/ Hồn theo trăng nhảy lung linh.” (Trăng nhảy ở Đồng Châu).


Chỉ Quang Hoài, khi trước biển mới viết ra được cái hình ảnh trăng nhảy. Ban ngày là hoa sóng, ban đêm trăng trên sóng như đang nhảy. Tôi không bàn về cái sự vận động này. Thơ, đôi khi khó nói tách bạch được. Thì kệ nó đi. Miễn là nó đẹp.


Trong tập “Chớp lửa đường cong” làm năm 2009, nhà thơ Quang Hoài lại có suy ngẫm liên tưởng phi thực mà có lý: “Người ngồi chuốc rượu dưới hoa/ Cùng Trăng với Bóng kết ba bạn đời/Trăng nào chạm được chén mời/ Bóng nào cạn được cùng Người…Người ơi!” (Với Lý Bạch).


Cùng mạch này, Quang Hoài viết về nhà thơ tiền bối Lê Đạt: “Người “tử tế” của chữ/ ông tin không bao giờ không có/ và mê mải kiếm tìm/ suốt cuộc đời cách tân thơ Việt/ “phu chữ” chan chan nước mắt/ “bóng chữ” nhập nhoà bóng đen…” (Người “tử tế” của chữ).


Cái tâm sự của người xưa truyền sang người nay một tâm trạng dài như một tứ thơ xuyên thời gian: “Mặt trăng gần ta dịu êm/ Mặt trời xa ta chói loá/ Ai bảo đó không là sự thật”(Sự thật).


Đúng quá còn gì cái anh hoàng đế của Andecxen.


“Ai bảo ao tù không có sóng/ Khi thấy gió về sóng chẳng nổi lên/ Gió càng to sóng càng lặn xuống/ Ở đáy ao sóng ẩn trong bùn” (Sóng ở ao tù).


Sáng tạo nhất là câu “Ở đáy ao sóng ẩn trong bùn”. Lặn xuống là ẩn mình, như cọp, như rồng.


“Men tình còn một chút này/ Ta làm cà cuống trút cay cho đời!” (Cà cuống).


“Mải mê tìm ngọt đầu môi/ Nên sa mộng mị… nửa đời long đong/ Biết đâu rực rỡ cầu vồng/ Chẳng bằng chớp lửa đường cong đầu mày” (Chớp lửa đường cong).


Đây là những câu thơ tình, đậm cá thể.


Khi đọc tập “Giữa hai bờ trăng khuất” làm năm 2010, tôi cứ băn khoăn về cái bờ trăng nó có hay không, vì trăng vốn hình tròn, vô thuỷ vô chung. Giữa trăng có phải là tâm hình tròn không? “Giữa hai bờ trăng khuất/ Nõn nà hai vầng trăng/ Giữa hai bờ trăng khuất/ Thẳm sâu một mạch ngầm/ Anh về với miền em/ Về với miền bình yên/ Giữa hai bờ trăng khuất…” (Giữa hai bờ trăng khuất).


Tôi bèn đọc câu dưới thì rõ là thi trung hữu hoạ. Tưởng như cái vùng lõm là một dòng sông, đó là nude. Nhưng về với miền em là thực, thực ra đây cũng là triết lý nhân bản gốc rễ. Ngay cả cái triết lý cộng sinh diễn giải quá hay: “Chiều xuân bên gốc lim già/ Tôi ngồi nhẹ vuốt rễ đa mọc nhờ/… / Sum suê đa giấu lá cành/ Rễ tìm về đất một nhành cắm sâu/ Chẳng làm tầm gửi lim đâu/ Rễ đa chiu chắt mỡ màu cho lim/Cộng sinh rễ khoẻ gốc bền/ Rễ đa trường thọ sống bên lim già” (Bên gốc lim già).


Riêng cái suy lý ở bài này thì cần phải tán rộng, tỷ mà phú nhiều: “Em và anh – hai cốc nước đầy/ Nước tràn bờ nhau trơ hai cốc rỗng/ Sau tột cùng giao hoan khát vọng/Ta mất gì trong nguyên vẹn pha lê?” (Pha lê).


Có mấy bài về đêm và hoàng hôn cũng làm ta chú ý về kiểu nói: “Từ đêm ta nhìn ta rõ hơn/ bình minh và ngày sáng/ sân khấu cuộc đời/ chạng vạng hoàng hôn” (Về với đêm). “Bất ngờ… có một hoàng hôn/ Nắng cơn cớ tắt, tôi bồn chồn mong/… / Thế rồi … đêm cứ lê thê/ Chờ tôi khắc khoải tìm về phía em/… / Từ hoàng hôn ấy đến giờ/ Chờ em – tôi phấp phỏng chờ… hoàng hôn!” (Có một hoàng hôn).
Càng chú ý hơn ở ý thơ về gió: “Gió lang thang từ nơi này đến nơi khác – gió có lạnh không?”/… / Đốt lòng anh: Gió có lạnh không?/ Ơi, những ngọn gió lang thang thăm thẳm cánh đồng!” (Gió có lạnh không?).


Thuở nhỏ có tình tuổi nhỏ. Nữ thập tam, nam thập lục. Bây giờ nhớ lại chỉ nhiều đắng đót. Xứ sở xa xanh là đâu? Còn đây chiếc cọc chơ vơ nơi ao tù. Cám cảnh: “Có một thời như thế/ Có một tình yêu như thế/ Ơi em, con chuồn ớt của anh/ Không sợ cay chỉ sợ nhựa mít/ Đâu rồi xứ sở xa xanh/ Ao tù – chiếc cọc một mình chơ vơ!?” (Con chuồn ớt của anh).


Tôi đã được chính nhà thơ Quang Hoài kể về chuyện tên bài thơ lấy làm tập “Giọt trời trên lá sen”, làm năm 2012.


“Mùa đến… mùa đi… mùa không mùa/ Trong vô tận giọt giọt/ Anh tìm những giọt em/ Giọt trời trên lá sen…” (Giọt trời trên lá sen).


Bài thơ này có cái tinh trong cái dục. Nhưng không tà ý. Đây là siêu tinh tuý em. Thơ nói được. Còn phàm thì khó.
Cũng như: “Trăng Hồ Văn ngàn năm/ Bùn Hồ Văn ngàn năm/Ngàn năm hương sóng…” (Hồ Văn đêm Nguyên tiêu).


Hay như cách nói khác: “Trên đầu ta/ Hồn 54 dân tộc/ Phần phật trưa Lũng Cú/ Ta kính cẩn cúi chào màu đỏ/ Ngẩng đầu lên/Chất ngất cánh vàng bay!…”
(Trưa Lũng Cú).


Hay như câu hỏi thật, thật đến độ không cần suy diễn: “Nhìn em và các bạn em/ Lòng tôi quặn thắt/ Rừng sao xanh mà người Mông héo hắt?/ Bao giờ điện sáng vùng biên?/Bao giờ những chàng trai Mông như cây sến, cây lim?...” (Ghi vội ở công trường thuỷ điện sông Nhiệm Ba).


Và tội tội: “Hoa ơi, lại tháng Tư rồi/ Em còn có nở cho người già nua?” (Với loa kèn tháng Tư).


Đành: “Giá có một giấc dài/ Tôi mơ/ Trên sóng Mô bai – em đầy gió!” (Gió).


Lại gió! Gió là nỗi người. Còn đây là nỗi đời:


“Có một nỗi lo/ Về một sự lụi tàn/ Không phải niềm tin/ Không phải tôi không biết/ Nhưng tôi vẫn trừng mắt!” (Có một nỗi lo).


Bài thơ này hàm ngôn, nhưng hiểu được. Và ta lại gặp Mỵ Châu:


“Vàng rộm phù sa/ Mướt mát bãi bờ sông Cái/… / Em ở đâu? Ở đâu/ Nỗi đau Mỵ Châu/ Oan khiên tượng đá cụt đầu…”(Chiều tất niên).

 

Trong tập “Trong veo nước suối nguồn”, làm 2015:


“Bản xa/ Đảo xa/ Sương mờ khói phủ/ Thầm tiếc một thời/ Ta từng canh giữ!...”(Bù nhìn).


Hiểu được. Ai cũng đều như vậy. Đến như:


“Gió buồn không thổi nữa/ Nằm khàn giữa bến sông/ Có con thuyền mắc cạn/ Chết trước mùa nước dâng!” (Trước mùa nước dâng).
Đó đâu chỉ là thế sự, mà nó còn là tâm nguyện, là hồn cốt cha ông.


Ta còn gặp ở Quang Hoài con người công dân, ý thơ hùng bay:


“Hỡi những mưu ma chước quỷ!/ Hỡi những khát vọng cuồng điên!... / Chúng con có trong mình Điện Biên/ Mẹ ơi Mẹ! Xin Mẹ đừng lo lắng/ Chim Lạc bay trên mặt trống đồng/ Trống Điện Biên dậy sóng biển Đông!” (Trống Điện Biên dậy sóng biển Đông).


Hoặc:


“Biển một ngày không thể vắng các anh/ Chân đạp nước đầu đội trời lồng lộng/ Như cánh hải âu vỗ mềm chân sóng/ Khát vọng hoà bình từ biển bay lên” (Biển một ngày không thể vắng các anh).


Câu “Khát vọng hòa bình từ biển bay lên” rất mới.


Hoặc trên biên giới phía Bắc:


“Một tiếng gáy/ Sương tròn mắt lá/ Trong veo nước suối nguồn/ Bên cỏ bên hoa/ Xanh rờn đỏ thắm/ Nhặt những câu thơ/ Đúc phôi hồng…”(Trong veo nước suối nguồn).


Trước mặt tôi là tập “Trước mùa nước dâng”, làm 2017:


“Lại một mùa xuân tới/ Mùa xuân nào mới hơn?” (Những chiếc lá rơi).


Hỏi được câu trẻ trung “Mùa xuân nào mới hơn?” thật ra phải là người kinh lịch.


“Mảnh trăng lặn dưới đáy hồ/ Nước xưa trong, nước bây giờ còn trong?!”
(Gửi người đứng tựa lan can Tây Hồ).


Câu này đa diện. Mà trúng. Đó không chỉ là tự vấn, mà còn là tự thức, tự thấu tỏ để tỉnh ngộ!


Và còn đây: “Bao lời “bất hủ”/ Nghe mòn lỗ tai… / Ngày mai… ngày mai/ Lại ngóng, lại chờ/ Gió bay… lời bay…”(Bắt chước đồng dao).


“Nguồn ẩn đâu/ Mạch tắc đến bao giờ?” (Thách thức).
Những câu thơ đầy ẩn ý, không thể bỏ qua.


Đã đi cùng nhà thơ một đoạn đường ước khoảng mười lăm năm trong chặng đường sáng tác của anh, tôi phân vân không biết có dám như anh không? Bởi vì cái bảo thủ trong tôi đã yên định một cách nhìn rồi. Nhưng Quang Hoài bảo đây là “ánh nhìn”. Có lẽ cái tươi trẻ trong anh nó thường trực khát khao thay đổi, không phủ định sạch trơn. Có phải vậy không? Vỡ sáng:


“Ta cứ ngỡ đã đêm là tối, đã ngày là sáng/ Đâu biết nắng ngày ủ mật đêm đen/ Bỗng một đêm lòng ta vỡ sáng/ Sáng loang ra xoá sạch ánh nhìn!” (Vỡ sáng).

 

Nghĩa Đô, một mình đêm tháng Giêng Mậu Tuất 2018.

Nguồn: nguoihanoi.com.vn

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}