Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Góp phần bàn về triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay

PGS. TS. Trần Văn Thụy | Chủ Nhật, 07/03/2021 22:15 GMT +7

Từ tháng 9/1945 đến thời kỳ trước đổi mới (1986), việc xây dựng và phát triển giáo dục Việt Nam gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế, trên diễn đàn xã hội đã xuất hiện cuộc tranh luận sôi nổi xung quanh các vấn đề giáo dục, trong đó có vấn đề triết lý giáo dục.

1. TRIẾT LÝ GIÁO DỤC

Giáo dục (education) với nghĩa chung là hình thức học tập, theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người hay một người được trao quyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận hay hành động đều có thể được xem là có tính chất giáo dục.

Giáo dục được hiểu dưới hai góc độ: 1) Giáo dục được xem như là tập hợp các tác động sư phạm đến người học với tư cách là một đối tượng đơn nhất; 2) Giáo dục như là một hoạt động xã hội, dạng tái sản xuất lực lượng lao động mới với đối tượng là thế hệ trẻ, là tập hợp các đối tượng đơn nhất.

Khi nói tới giáo dục theo nghĩa rộng ta thường liên tưởng đến hai cụm từ "giáo dục theo nghĩa hẹp” và “đào tạo”. Giáo dục theo nghĩa hẹp là một quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của giáo dục nhằm tác động vào hệ thống nhận thức của người đó để làm phát triển trí thông minh, phát triển khả năng nhận thức phù hợp với thế giới khách quan và làm phát triển nhận thức của người đó lên, qua đó tạo ra một con người mới có những phẩm chất phù hợp với yêu cầu được đặt ra. Đây là quá trình nuôi dưỡng làm phát triển cái có sẵn như tính thông minh, tính thiện lên nấc mới. Đào tạo là tạo ra cái mới hoàn toàn, không phải là cái có sẵn ví dụ như chữ viết, các kiến thức khoa học, các kỹ năng nghề. Ban đầu, chúng chưa có ở một con người. Chỉ sau khi được đào tạo thì chúng mới có, ví dụ như sinh viên được dạy môn toán là để có kỹ năng tính toán, một nhà khoa học được đào tạo là để có khả năng nghiên cứu khoa học, một người công nhân được đào tạo tay nghề để làm việc sau này… Vậy, giáo dục là hoạt động hướng tới con người qua một hệ thống biện pháp tác động nhằm truyền thụ tri thức, kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng, lối sống, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức cần thiết cho đối tượng để hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất phù hợp với mục đích, mục tiêu cho đối tượng tham gia sản xuất và đời sống xã hội. Đây là hoạt động tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện tất yếu để duy trì, phát triển con người và xã hội.

Triết học về giáo dục (philosophy of education) là một lĩnh vực thuộc về triết học xã hội, chuyên nghiên cứu về các mục tiêu, hình thức, phương pháp và kết quả của giáo dục với tư cách là một quá trình, là một ngành thuộc lĩnh vực xã hội. Triết học về giáo dục quan tâm đến việc phản biện, lý giải các ý tưởng và thực hành giáo dục. Các câu hỏi của triết học về giáo dục thường được dùng: giáo dục là gì? mục đích của giáo dục là gì? người học cần học những gì? người dạy phải dạy như thế nào?

Triết lý giáo dục là quan điểm, tư tưởng chủ đạo, cốt lõi của hoạt động giáo dục mà chủ thể hoạt động đề ra nhằm định hướng cho con người hành động. Câu hỏi chung nhất mà triết lý giáo dục phải trả lời là hoạt động dạy - học nhằm mục đích gì? nền giáo dục muốn đào tạo ra con người như thế nào?

Như vậy, triết lý giáo dục có thể hiểu là những quan điểm, tư tưởng chủ đạo, cốt lỗi phản ánh một cách khái quát dưới dạng mệnh đề cô đúc, ngắn gọn về mục đích của giáo dục nhằm đáp ứng các yêu cầu của xã hội trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, có tác dụng định hướng hành động cho con người. Xét theo các mối quan hệ, thì triết lý giáo dục là một tư tưởng giáo dục xuất phát từ nhu cầu nhu cầu thực tiễn, tồn tại trên nền tảng của văn hóa, chịu sự chi phối của ý thức hệ, hướng đến lý tưởng, là cơ sở nhằm xác lập các nguyên lý thực hành.

2. TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY

Từ thế kỷ X, sau khi giành được độc lập dân tộc trên toàn lãnh thổ, chế độ phong kiến Việt Nam được hình thành và trải qua quá trình biến đổi, phát triển đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cơ sở tư tưởng chủ yếu để hoạch định đường lối đức trị, định ra pháp luật, hoạch định việc giáo dục khoa cử lựa chọn nhân tài là Nho giáo. Nền giáo dục thật sự có hệ thống, có tổ chức của Việt Nam thời kỳ phong kiến là nền giáo dục Nho học với văn tự là chữ Hán.

Tư tưởng giáo dục chủ đạo phổ biến của Việt Nam trong nền giáo dục khoa cử Nho học là "học để làm quan". Vì vậy, "Học để làm quan” trở thành triết lý giáo dục của nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến. Tư tưởng này đáp ứng được các tiêu chí của Triết lý giáo dục, vừa đủ khái quát cho cả giai đoạn lịch sử và vừa đủ đáp ứng những nhu cầu của Việt Nam trong giai đoạn lịch sử ấy. “Học để làm quan” cũng là mục tiêu cho cả người đi dạy và đi học. Để được làm quan thì phải thi cử. Việc thi cử và làm quan cần kiến thức gì thì người xưa chỉ tập trung dạy và học đúng những kiến thức đó. Làm quan trong một xã hội cần được xây dựng trên cơ sở đường lối đức trị, cần ổn định hơn phát triển, nên việc trọng đạo đức hơn tài trí là việc tất yếu vì “quan cai trị cần thiết là đức, có đức thì an dân, có đức thì thông cảm với trời đất, thì gió hòa, mưa thuận”. Tiên học lễ, hậu học văn là tư tưởng phản ánh thứ tự ưu tiên giữa đạo đức và văn hóa trong giáo dục. Những tư tưởng phản ánh vai trò của người thầy trong phương pháp giáo dục để đạt mục tiêu thi đậu làm quan là “không có thầy đố mày làm nên”, “muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.

Xã hội Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp thống trị, triết lý giáo dục cai trị được thay đổi từ “học để làm quan” sang “học để làm công chức phục vụ chính quyền thuộc địa”. Đối lập với triết lý giáo dục cai trị là triết lý giáo dục của lực lượng tri thức yêu nước và của đại bộ phận dân chúng Việt Nam. Tư tưởng “giáo dục yêu nước” với mục tiêu giành độc lập dân tộc trở thành triết lý giáo dục chủ đạo. Vì vậy các tư tưởng “khai dân trí”, “khoa học, dân tộc, đại chúng” thể hiện những mục tiêu và giải pháp cụ thể của triết lý giáo dục yêu nước. Khi nhân dân giành được độc lập, triết lý của lực lượng trí thức yêu nước này đã bị vượt qua.

Giai đoạn từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến trước thời kỳ đổi mới (1986) là giai đoạn chuyển tiếp. Chính vì tính chất chuyển tiếp, cho nên có nhiều tư tưởng giáo dục xuất hiện. Việc xác định tư tưởng nào có thể trở thành triết lý giáo dục rất khó khăn, phức tạp. Mở đầu đất nước giành được độc lập là tư tưởng “Xây dựng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”. Tư tưởng này hướng đến tạo ra một thế đứng cho nền giáo dục, không nêu mục đích của giáo dục, do vậy không phải là triết lý giáo dục. Tháng 9/1949 khi đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ngày nay) trong một hoàn cảnh cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở, khuyên răn những cán bộ lãnh đạo các cấp của Việt Nam trong tương lai trên bước đường học hỏi, tu dưỡng là “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, cho nên, đây chưa phải là một triết lý giáo dục. Nhằm khắc phục những hạn chế trong giáo dục, một số tư tưởng giáo dục phản ánh mục tiêu cục bộ ra đời, chưa đạt tới triết lý giáo dục đó là “kết hợp lý luận với thực tế”, “học đi đôi với hành”, “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”. Các tư tưởng “Học mãi để tiến bộ”, “học suốt đời”, “xây dựng xã hội học tập” thể hiện yêu cầu, cách thức giáo dục liên tục trong không gian và thời gian.

Những tư tưởng này đều đúng và cần nhưng chưa đủ khái quát thành triết lý giáo dục. Cùng với các tư tưởng thể hiện nội dung bộ phận, thì lại có những tư tưởng thể hiện những nội dung khái quát chung chung. Tư tưởng “dạy tốt, học tốt” thể hiện nội dung quá chung về phương pháp giáo dục, không nêu lên được mục đích đào tạo ra con người như thế nào, nên không phải là Triết lý giáo dục. Các tư tưởng “vừa hồng vừa chuyên”, giáo dục đức, trí, thể, mỹ ở miền Bắc trước đây hay tư tưởng bốn trụ cột của UNESCO: “Học để biết”, “học để làm”, “học để chung sống”, “học để tồn tại” đều đúng và đáp ứng được các yêu cầu mà khái niệm triết lý giáo dục đòi hỏi. Tuy nhiên, những triết lý giáo dục với mục tiêu giáo dục toàn diện, hay giáo dục để thích ứng với cuộc sống biến đổi như vậy thì ở Việt Nam hay UNESCO nêu ra cũng đều là những triết lý giáo dục tổng quát. Trong không gian, chúng không chỉ đúng cho Việt Nam mà cho cả thế giới; trong thời gian chúng không chỉ đúng cho bây giờ mà cả mai sau. Chúng không nhằm vào việc đáp ứng những yêu cầu thực tiễn cụ hể của giáo dục Việt Nam hiện nay nên không phải là triết lý giáo dục Việt Nam trong giáo dục hiện tại.

Trong xã hội Việt Nam thời kỳ trước đây, đại bộ phận người Việt Nam đều mong muốn con em của mình thông qua giáo dục đáp ứng được hai yêu cầu “ngoan” và “giỏi”. Người “ngoan” là yêu cầu về giáo dục phẩm chất, người “giỏi” là yêu cầu giáo dục về năng lực, trí tuệ. Trong cuộc sống, ngoan và giỏi là cặp từ đi liền với nhau. Tư tưởng “con ngoan, trò giỏi” vừa đáp ứng được các yêu cầu của triết lý giáo dục, vừa cho thấy những mục tiêu mong đợi cơ bản của kết quả giáo dục một cách cụ thể, rõ ràng theo nguyện vọng của đa số người Việt Nam từ truyền thống đến hiện tại. Đó là mục tiêu lý tưởng của một xã hội nông nghiệp trên nền tảng văn hóa làng xã ưa ổn định với tinh thần cộng đồng đậm nét. Những mục tiêu ấy đã được hiện thực hóa trong giai đoạn truyền thống và chuyển tiếp, về cơ bản vẫn còn dùng cho ngày nay.

Triết lý giáo dục Việt Nam thời phong kiến là “học để làm quan”; Thời thực dân Pháp thống trị là “học để làm công chức phục vụ chính quyền thuộc địa”; Thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến trước công cuộc đổi mới là “con ngoan trò giỏi”. Triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay là “nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” để xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

Giai đoạn cách mạng mới của Việt Nam được bắt đầu khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Để tiếp tục thực hiện thành công lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã cụ thể hóa mục tiêu xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thành tám đặc trưng, trong đó đặc trưng xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là đặc trưng xuyên suốt. Đồng thời Cương lĩnh cũng đã định hướng: giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực bồi dưỡng nhân tài góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo cho nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.

Trên cơ sở mục tiêu lý tưởng xã hội xã hội chủ nghĩa và định hướng về giáo dục và đào tạo của Đảng, ta có thể khái quát triết lý giáo dục Việt Nam thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: Giáo dục nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng trên của Đảng về giáo dục và đào tạo đáp ứng được yêu cầu của triết lý giáo dục, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đất nước, thể hiện qua các phương diện:

Thứ nhất, xét về không gian, triết lý giáo dục nêu trên vừa đảm bảo được yêu cầu của từng trường, vừa đảm bảo yêu cầu của cả nước trong hoàn cảnh hiện tại và tương lai.

Thứ hai, xét về thời gian, triết lý giáo dục nêu trên đúng cho hiện tại - giai đoạn đầu thời kỳ quá độ và đúng cho cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thứ ba, xét về mục đích giáo dục, triết lý nêu trên đã phản ánh trước về kết quả mong muốn trong tương lai của quá trình giáo dục; phản ánh trước về sản phẩm dự kiến của hoạt động giáo dục. Cả kết quả và sản phẩm ấy là kiểu nhân cách cần đạt được ở người học. Cụ thể: Ở cấp độ xã hội là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; Ở cấp độ nhà trường, mục đích giáo dục được cụ thể hóa thành mục tiêu giáo dục cho một cấp học, một ngành học, một loại hình đào tạo; Ở cấp chuyên biệt, mục đích của giáo dục chuyên biệt thể hiện cụ thể cho từng môn học, từng bài dạy.

Thứ tư, xét về lý tưởng xã hội, triết lý giáo dục nêu trên nhằm phục vụ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tóm lại, triết lý giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập là một tư tưởng giáo dục xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Triết lý giáo dục ấy tồn tại trên nền tảng của nền văn hóa Việt Nam, chịu sự chi phối của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm hướng tới xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 

Nguồn: tuyengiao.vn

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}