Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Hào khí Điện Biên trong ba bài thơ của Tố Hữu*

Hồ Sĩ Vịnh | Thứ Tư, 19/04/2017 10:58 GMT +7

Năm 1954, Tố Hữu đã được mùa bội thu trên cánh đồng sáng tạo về đề tài: Đất nước, Tổ quốc. Có thể kể bộ ba liên hoàn: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên (5 - 1954), Ta đi tới (8 - 1954) và Việt Bắc (10 - 1954)[1]. Đó là những bài thơ đậm chất sử thi - trữ tình.

Sinh thời, theo chúng tôi biết, chưa bao giờ nhà thơ gọi chúng là những trường ca. Nhưng xét về bản chất, đặc điểm và ý nghĩa của ba bài thơ nói trên, chúng ta có thể nhận dạng thể loại, đó là trường ca - trữ tình.

Vậy trường ca trữ tình có những đặc điếm gì?

Đề tài và chủ đề nằm ở trung tâm của những biến cố lịch sử: Tổ quốc và dân tộc, đất nước và quê hương, những hành động anh hùng và con người anh hùng;
Tinh thần thời đại, những biến thiên của lịch sử dân tộc được “cá thể hoá” thông qua sự xao động của con tim nhà thơ, mở ra “cánh cửa tâm lý” của sự kiện.
Phương thức miêu tả thường hoành tráng, được khái quát hoá, tính lạ, yếu tố bất ngờ, những bức tranh thiên nhiên hùng vĩ v.v... là những thành tố tạo nên tổng thể thi pháp của trường ca.
Nhà thơ viết trường ca không giáo huấn lộ liễu, nhưng hiệu quả của hình tượng, biểu tượng ngôn ngữ là những ký hiệu lấp lánh có sức lay động tình cảm, có ý nghĩa giáo dục thâm trầm, tự nhiên.

Đọc Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, chúng ta thấy nhiều tố chất nghệ thuật trường ca. Các chiến sĩ Điện Biên, vị tướng tổng tư lệnh chiến dịch Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được nhà thơ khái quát hoá để trở thành dân tộc anh hùng từ trong cái đêm 7 - 5 - 1954; cái đêm “lịch sử Điện Biên sáng rực” trở thành mốc son lịch sử chói lọi của đất nước được gắn nhiều huân chương trên ngực. Bài thơ cũng mang tính chất hoành tráng nhờ thi pháp tạo ấn tượng với các sự kiện của chiều dài thời gian lịch sử chiến đấu và chiến thắng (Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ); chiều rộng không gian của đất nước, của đồng bằng và Tây Bắc, của nước ta và nước Pháp nhân dân và bạn bè gần xa; chiều sâu lịch sử với truyền thống toàn dân đánh giặc, khi “tre đã thành chông, sông là sông lửa”, với truyền thống vừa đánh vừa đàm của một dân tộc muốn sống trong thái bình và thịnh vượng, một giá trị của chiến tranh tự vệ, vốn kế thừa tư tưởng hoà hiếu của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v..

Khắc hoạ bức tranh hoành tráng, Tố Hữu không quên biện pháp “cá thể hoá”. Chỉ vài nét phác thảo, người đọc thấy được hình tượng Bác Hồ ở tầm cao và chiều sâu; tầm cao tư tưởng chiến tranh yêu nước của vị tổng tư lệnh tối cao và chiều sâu nhân ái của người cha lực lượng vũ trang nhân dân, gần như lúc nào cũng có mặt, kề sát bên cạnh các chiến sĩ gối đất nằm sương, các đoàn dân công ngày đêm tải đạn, thồ hàng ra tiến tuyến:

Bác đang cúi xuống bản đồ

Chắc là nghe tiếng quân hò, quân reo...

Từ khi vượt núi qua đèo

Ta đi Bác vẫn nhìn theo từng ngày...

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên có thể xếp vào thể loại trường ca. Ngoài những hình tượng vừa hiện thực vừa lãng mạn của các chiến sĩ vệ quốc, còn có những biểu tượng ngôn ngữ hào hùng:

Đạn ta rào lưới sắt

 Đai thép ta thắt chặt

 Chiến sĩ anh hùng, đầu nung lửa sắt v.v...

để nói lên sức mạnh sấm sét dáng xuống đầu quân xâm lược. Nhà thơ có lúc bùi ngùi, xót xa, xao động trước những gương hy sinh của đồng bào và chiến sĩ Điện Biên để cho mai sau đồng ruộng xanh tươi, cho mùa hoa ban nở trắng, cho vườn cam vàng ở Tây Bắc và ở khắp đất nước.

Trong Ta đi tới, hào khí Điện Biên chỉ được miêu tả trong ba câu của một khổ thơ tự do:

Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu

Những bàn chân đã vùng dậy, đạp đầu

Lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp!

nhưng bài thơ đã dựng nên một tượng đài chiến thắng về con người Việt Nam sau đại thắng Điện Biên với chiều kích dài rộng, với ý chí lớn như biển Đông với sức mạnh của đội ngũ trùng trùng, điệp điệp để thống nhất đất nước. Những môtíp ước lệ con đường (đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên v.v...) được láy đi láy lại ở đoạn đầu bài thơ, nhà thơ muốn nhấn mạnh truyền thống cách mạng ở nhiều vùng miền, của hôm qua và của hôm nay tạo nên chiến thắng.

Cũng chủ đề non sông, đất nước sau chiến thắng trọn vẹn Điện Biên Phủ, ở Việt Bắc, nhà thơ muốn nói lên lòng chung thuỷ sắt son của cách mạng đến với nhân dân, lòng tri ân của nhân dân đối với Đảng, với Bác Hồ, bắt nguồn từ truyền thống hoà hiếu, nhân nghĩa hàng ngàn năm của nước non Hồng. Trong Việt Bắc chỉ có hai câu trực tiếp nói về Điện Biên:

Tin vui chiến thắng trăm miền

Hoà bình Tây Bắc, Điện Biên vui về...

nhưng âm vang Điện Biên thì vẫn còn đó, còn đó những đoàn quân điệp điệp trùng trùng, còn đó những đoàn dân công đỏ đuốc, còn đó những con đường từ Việt Bắc toả ra khắp mọi miền đất nước. Viết những tình cảm lớn của dân tộc trong Việt Bắc, Tố Hữu đã “cá thể hoá” những nhân vật trữ tình thành Mình và Ta để vừa nói lên được cái lớn lao của sự nghiệp cách mạng, công lao trời bể của nhân dân vừa nói lên được tình cảm chung thuỷ riêng tư giữa người ở lại và người về xuôi, giữa nhân dân và lãnh tụ, giữa ngọn nguồn thơ với nhà thơ.

Viết về trận đại thắng Điện Biên Phủ và các chiến sĩ Điện Biên, Tố Hữu không có dịp may ra trận với những đoàn quân “xương đồng da sắt” những đoàn dân công “chị gánh, anh thồ”. Đó là một sự thật. Nhưng từ đó có một số người nông nổi nghĩ rằng, không cần thâm nhập thực tế vẫn có thể viết những tác phẩm hay. Chưa nói họ hiểu khái niệm thực tế một cách phiến diện (thực tế bao gồm thực tế cuộc sống trước mắt, cuộc sống quá khứ, những dự báo tương lai và vốn tri thức văn hoá, lịch sử của dân tộc và thời đại mà nhà thơ nắm được). Họ còn viện cớ trong văn học thế giới không hiếm trường hợp tương tự; Sêchxpia viết Hăm lét là dựa vào truyện cổ về chàng hoàng tử Đan Mạch trả thù cho vua cha bị chú ruột giết chết để chiếm ngôi và lấy chị dâu làm vợ; kịch Ôtenlô là phỏng theo truyện Người Morơ ơ Vơnidơ của một nhà văn Italia; Hecnani của Huygô lấy bối cảnh trong lịch sử Tây Ban Nha thế kỷ XVI. Puskin suốt đời bị giam hảm trong nhà tù của chế độ Nga Hoàng chuyên chế, thế mà ông đã có hàng nghìn trang về văn minh Cận đông, về phong trào giải phóng dân tộc ở Ban căng và các cuộc khởi nghĩa ở Hy Lạp. Vậy giải thích thế nào hiện tượng Tố Hữu và bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, có sự trùng hợp với các nhà thơ lớn thế giới? Đó là vì ở Tố Hữu có những tố chất sáng tạo sau:

Nhà thơ là người đồng thời với các nhân vật lịch sử, cùng sống, chiến đấu và sinh hoạt với họ trong những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc, được thông tin chính xác và kịp thời những diễn biến, những sự kiện lịch sử trên chiến trường và cả trên bàn đàm phán Hội nghị ngoại giao.
Cảm hứng chủ đạo về đề tài đất nước anh hùng và những con người Việt Nam anh hùng đã được nhà thơ nuôi dưỡng nhiều năm, có thể từ các bài thơ trong tập Từ ấy, đặc biệt là trong Sáng tháng năm (1951). Đến khi được tin đại thắng Điện Biên Phủ, thì đấy là, cơ hội, là tia chớp sáng tạo dục dã nội tâm, dấy lên ngọn lửa bên trong cảm hứng phản xạ của nhà thơ lớn. Thế là những vần thơ có tiết tấu dồn dập, có tính chất thông báo ở đầu bài thơ:

Tin về nửa đêm

Hoả tốc, hoả tốc

Ngựa bay lên dốc

Đuốc cháy sáng rừng...

Tiếp đến là những đoạn thơ miêu tả hào hùng, đượm chất sử thi đại quân ta và cảnh đầu hàng nhục nhã, thê lương của quân viễn chinh Pháp. Không có Cảm hứng chủ đạo định hướng cho lý tưởng yêu nước, thiếu đi cảm hứng phản xạ thôi thúc nồng độ sáng tạo, Tố Hữu không thể có bài thơ hay, kịp thời và đi cùng năm tháng.

Thành công của Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, của Ta đi tới và Việt Bắc còn là nhờ sức tưởng tượng xán lạn trong quá trình sáng tác của nhà thơ. Lênin hơn một lần nói rằng, sức tưởng tượng là một phẩm chất đặc biệt có giá trị. Nó cần cho nhà thơ, nhà toán học và cả cán bộ quản lý. Chúng ta không sợ sức tưởng tượng, tính lãng mạn tích cực trong sáng tạo, bởi vì ở đâu mà lý trí, trí tuệ chưa với tới, thì ở đó sức tưởng tượng giúp chúng ta tiếp tục lao động trí tuệ trên cơ sở thực tiễn được kiểm nghiệm, được thông tin chính xác. Tôi nghĩ, dù miêu tả đậm hay nhạt, trực tiếp hay gián tiếp con người và cảnh vật ở chiến trường Điện Biên năm xưa, thì ở cả ba bài thơ nói trên, hào khí Điện Biên là ngọn nguồn cảm hứng cháy sáng trong quá trình sáng tạo của nhà thơ lớn.

 

Hà Nội, nhân kỷ niệm 60 năm

Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 - 2014

Tạp chí Tản Viên Sơn Hội Văn nghệ Hà Nội

Đăng lại số 5 / 2014.

------------------------------

* Trích trong sách "THƠ TỪ CUỘC ĐỜI

                             THƠ ĐẾN MỌI NGƯỜI

(Hợp tuyển tiểu luận, phê bình về thơ 1963 - 2013) của Hồ Sĩ Vịnh do NXB Dân Trí xuất bản

 

[1] Thơ Tố Hữu (tuyển). NXB Văn học, 1968.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}