Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Huy Cận tâm tình với hồn thơ Nguyễn Du

Trương Sỹ Hùng | Thứ Sáu, 08/01/2016 14:24 GMT +7

Năm 1965 kỉ niệm 200 năm sinh đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, đây là "là lần đầu tiên Hội đồng Hòa bình thế giới và nhân dân nhiều nước trên thế giới chính thức kỷ niệm một danh nhân văn hóa của nước ta. Việc kỷ niệm lại được tổ chức đúng vào năm nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa tròn 20 tuổi, lúc phong trào chống Mỹ cứu nước đang dâng cao ở cả hai miền nước ta và đang thu được những thắng lợi to lớn, do đó dư luận rộng rãi trên thế giới đang ngày càng quan tâm sâu sắc đến tình hình nước ta và tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta."(Chỉ thị số 112 - CT/TW, ngày 26 tháng 10 năm 1965).(1)

 

Tiến sĩ Trương Sỹ Hùng và nhà thơ Huy Cận

(Ảnh: Nguyễn Ngọc Thiện - Tạp chí Diễn đàn văn nghệ)

Trước khi có ngày tổ chức trọng thể kỉ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du - trong Hồi ký song đôi - nhà thơ Huy Cận  đã nhớ lại: "Theo chủ trương của nhà nước ta, anh Hoài Thanh và tôi đã vận động Hội đồng Hòa bình thế giới, cụ thể là gặp ông Laffite, ủy viên Hội đồng tổ chức kỷ niệm Nguyễn Du, thi hào dân tộc Việt Nam ở một số nước. Để cung cấp tài liệu cho các nước tổ chức kỷ niệm, anh Hoài Thanh và tôi đã cùng soạn ra quyển Tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp của  Nguyễn Du bằng tiếng Pháp và tiếng Anh (Notice sur la vie et l'oeuvre de Nguyen Du)." (2)Bấy giờ Huy Cận đương chức thứ trưởng bộ văn hóa (1955 - 1984); dù lu bù với công việc hành chính, ông vẫn trực tiếp đọc tác phẩm và viết bài hướng dư luận khoa học. Sáng tác thơ là sở trường, nên trong dịp này ông có bài:

 

                                                     NHỚ TỐ NHƯ

 

Năm Sáu nhăm, thế kỷ Hai mươi,

Hỡi Tố Như, Anh có ngậm cười ?

Lúc khắp non sông trừ giặc Mỹ

Là khi dân tộc nhớ lòng ai...

 

Lòng ai căm giận, ai đau xót,

Mắt nhắm, nhưng lòng chẳng dễ chôn.

Lệ, máu trăm năm còn nhỏ giọt,

Trăm trang thơ đẹp vẫn bồn chồn.

 

Lòng thơ thức trắng giữa đêm dài;

Yêu nước non, yêu vạn cảnh đời;

Đời khổ, mà chưa phương cứu khổ,

Càng đau biết mấy Tố Như ơi !

 

Vạn thân vùi dập đời tan nát

Rút ruột xe vào một kiếp Anh.

Chẳng muốn làm tiên, không muốn Phật

Đang khi cuộc sống bị hành hình.

 

Làm người lo số phận con người,

Ràng rịt yêu thương biết mấy mươi !

Cái thuở tối tăm trời đất ấy,

Lòng Anh làm một ánh trăng soi.

 

Hôm nay trời đã sáng quê nhà,

Đẩy nốt vào đêm lũ quỷ ma.

Rạo rực thơ Anh thêm tuổi mới;

Đã thôi đau đớn phận đàn bà...

 

Số phận người, xưa Anh ước mơ,

Rõ ràng trước mắt chẳng còn ngờ...

Ba trăm năm...tính chưa đầy nửa,

Cả cuộc đời nay hiểu Tố Như.

 

Từ buổi thanh minh Kim gặp Kiều

Trải qua đau đớn đủ trăm chiều

Hôm nay tái hợp lòng vui thật,

Đời lại về thơ trọn tấm yêu.

                                       11- 1965

 

Ba năm sau bài thơ được in vào Những năm sáu mươi.(2) Tập thơ là một bức tranh ngôn từ nghệ thuật, bao gồm cả những nét đậm, nét thanh và nhất là những thể nghiệm hiện thực ảo giác về một thời kỳ lịch sử đầy biến động, biến động trong y học, biến động trong cuộc đời; biến động giữa chiến tranh và hòa bình trên cả hai miền đất nước Việt Nam. Nét ảo trong thơ Huy Cận dường như đã trở thành dấu ấn riêng khó phai mờ, khởi nguồn từ Lửa thiêng (1940), Vũ trụ ca (1943). Dĩ nhiên, khi đã chiếm lĩnh được vị trí là một nhà thơ nổi tiếng từ phong trào thơ mới (1930 - 1945), lại là bài thơ viết về thi hào dân tộc Nguyễn Du, bút lực của Huy Cận chắc chắn là chứa chất những điều suy nghĩ thận trọng. Ông đặt câu hỏi tự vấn để bộc lộ tâm tình với Nguyễn Du:

Lòng ai căm giận, ai đau xót,

Mắt nhắm, nhưng lòng chẳng dễ chôn.

Lệ, máu trăm năm còn nhỏ giọt,

Trăm trang thơ đẹp vẫn bồn chồn.

 

Lòng thơ thức trắng giữa đêm dài;

Yêu nước non, yêu vạn cảnh đời;

Đời khổ, mà chưa phương cứu khổ,

Càng đau biết mấy Tố Như ơi !

Trong bài Nguyễn Du- nhà thơ cổ điển lớn, cũng là nhà thơ lãng mạn lớn đầu tiên của dân tộc ta, đăng báo Văn nghệ, Huy Cận đã nhận định: "Dầu sao thì trong thơ Nguyễn Du ta nghe rõ vang vọng âm hưởng của nguồn thơ Ly tao. Hồng lâu mộng chăng? Hồng lâu mộng có nêu những khía cạnh nói về hạnh phúc cá nhân, nhưng vấn đề đặt ra đâu có da diết, xoáy sâu như trong Truyện Kiều, có hơi hướng gần gũi nhất với xúc cảm của Nguyễn Du là thơ Đỗ Phủ. Thơ Đỗ Phủ nói đến thân phận con người, điêu đứng, đắng cay, tủi nhục dưới sức áp bức, chà đạp (coi con người không ra gì) của chế độ phong kiến hà khắc của Trung Quốc ngay trong thời thịnh của nó. Nhưng xúc cảm của Nguyễn Du trước thân phận con người ở thời đại ông mang màu sắc cận đại hơn, ở chỗ nhấn mạnh rõ rệt một cách có ý thức quyền sống, quyền có hạnh phúc của cá nhân con người, với tư cách là đơn vị được tự khẳng định trong tập thể xã hội.

Đọc đi đọc lại Truyện Kiều và thơ Nguyễn Du, điều làm tôi ngạc nhiên là Nguyễn Du có nhiều điểm gặp nhau với văn học phương Tây từ thời Phục hưng trở về sau. Cái cảm quan về cuộc đời, cái lo lắng cho số phận con người, cái cách nhìn con người trong một chân trời rộng mở ngoài cái chân trời đóng kín của xã hội phong kiến trước kia, bao nhiêu điều có thể đặt Nguyễn Du vào dòng văn học cận đại, và cả vào dòng văn học lãng mạn thế giới. Tôi cảm thấy một "tính bà con" - không gần thì xa - giữa Nguyễn Du và những nhà thơ tiêu biểu của nền văn học nhân đạo chủ nghĩa phương Tây, với cách xúc động gần như hiện đại về vấn đề hạnh phúc, về thân phận con người. Hiển nhiên là không phải Nguyễn Du đã tiếp nhận ảnh hưởng của văn học cận đại phương Tây. Nguyễn Du không hề biết đến, không hề nghĩ đến sự tồn tại của nền văn học ấy, Nguyễn Du đã được đào luyện trong dòng văn học, triết học cổ điển Trung Quốc, và ở chừng mực nào trong dòng triết học Ấn Độ thông qua đạo Phật." (3)

Quả thật như vậy, Nguyễn Du không chỉ không biết đến văn học phương Tây, mà ngay cả văn chương quốc ngữ bằng kí tự Latinh đã nảy mầm, ra hoa kết quả, in ở Roma năm 1651, phát hành ở Việt Nam, như: Sách giáo lý (Catechimus - in song ngữ), Phép giảng tám ngày, trước thời điểm Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trên dưới 200 năm mà ông cũng không có nhìn nhận gì. Nguyễn Du là một nhà thơ lớn của Việt Nam, của thế giới trong lĩnh vực sáng tác thơ văn Hán Nôm vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Và Huy Cận lớp người sau ông một thế kỷ, có một điểm chung cùng một "quê choa".

Huy Cận họ Cù, tuổi Tỵ (1919) sinh quán tại làng Ân Phú, huyện cũ Hương Sơn (nay thuộc huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh. Trước khi theo ông cậu vào Huế học chương trình tú tài toàn phần (1939), Huy Cận đi học trường làng. Trong một đoản văn hồi ký Huy Cận nhớ lại: "Hồi đó tôi 7 tuổi, học lớp 5 ở trường tổng Dỵ Long. Tôi ở nhà một ngườu bà con, chừng là phú nông. Trong nhà có một ông quản gia là ông Văn, lúc ấy trạc 60 tuổi (...)

Tôi nằm trong phòng đầu nhà, liền với nhà thờ nhỏ nơi ông Văn ngủ. Mùi hương hoa mộc theo hơi gió nhẹ đêm hè khía vào mũi tôi, cho tôi một cảm giác mê mê, lâng lâng và rạo rực. Rồi thì cùng hương mộc bay thoảng vào lòng tôi giọng ngâm Kiều của ông Vân. Lúc ấy tôi chưa biết Kiều là gì, chỉ nghe người này kể một câu, người kia kể một câu trong câu chuyện hàng ngày. Nghe thinh thích, nhưng không ai cắt nghĩa cho. Những đêm đến nằm nghe ông Văn ngâm từng đoạn dài, giọng sang sảng, tôi bắt đầu khám phá ra một cái gì mới lạ, một cái gì rung động trong tâm hồn thơ bé của tôi.

Đề huề lưng túi gió trăng

Sau lưng theo một vài thằng con con

Tuyết in sắc ngựa câu giòn

Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời

Tôi nhớ mãi cái giọng ông Văn ngâm mấy câu này giọng hào hứng nhuốm ánh trăng hè và hương hoa mộc..Một cảm giác rất trong, rất xanh. Mãi về sau, cho đến bây giờ cứ ngâm lại mấy câu thơ trên, là tôi thấy gợi lại mùi hương hoa mộc trong ánh trăng khuya, và mỗi lúc tôi đi thăm chùa, thoảng mùi hương hoa mộc là tôi lại nghe văng vẳng giọng ông Văn lọt qua cửa chữ thọ ngâm Kiều:

Đề huề lưng túi gió trăng...

Tôi chẳng hiểu đề huề là gì, lưng túi gió trăng là gì, nhưng sao cứ thấy thích nghe, câu thơ cứ quyện vào tôi, vương vấn mãi. Tiếp xúc đầu tiên của tôi với truyện Kiều, với thơ là như thế."(4) Thế là kỉ niệm tuổi thơ khi xa nhà đi trọ học, ngẫu nhiên Huy Cận bắt gặp trong một dạng diễn xướng dân gian trích đoạn truyện Kiều thật lãng mạn, đã khơi dậy trong tâm tưởng một niềm tin yêu, gắn bó với cuộc đời với thơ ca. Dĩ nhiên là khi đã có tên trong làng thơ mới, Huy Cận cũng vẫn tự học, tự tích lũy vốn sống, vốn kiến thức đặng làm thơ viết văn có chất lượng nghệ thuật hơn. Song "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy", hình ảnh vừa chân thực vừa lãng mạn, được thoát thai bởi vần điệu, ngôn từ do lăng kính Nguyễn Du tái tạo đã kích thích hạt mầm thơ Huy Cận nảy mầm, vươn cành, xanh lá; để rồi thế kỷ XX cũng đón nhận một "cây đại thụ thơ" - một nhà thơ lớn trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong bài Nguyễn Du nháp thơ, Huy Cận vẫn để lại dấu ấn kỉ niệm sâu đậm ấy:

Nháp thơ trên cửa sổ

Lời trong, chép vào tờ

Bản thảo là trời xanh, gió mở

Khép cửa rồi chỉ còn lại có thơ.

Đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX, chuẩn bị sang những năm đầu thế kỷ XXI, khi đã được đến độ "tuổi trời - trên đà 90, rồi trên đà 100" những năm 1996 - 2005 Huy Cận vẫn sáng tác đều đặn. Với những tập Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ (Thanh niên, 1997), Lửa nồng muối mặn (Đà Nẵng, 2001), Cha ông nghìn thuở (Văn học, 2002) Huy Cận ghi lại nhận thức thơ về Cha ông ta thuở ấy:

Trở rét, canh khuya đọc Nguyễn Du

Trang thơ trở rét tự bao giờ

Mới năm lăm tuổi thân tê lạnh

Thôi được! Người đi buông bút thơ.

 

Thôi được! Lời chi quá xót xa

Nỗi đau dồn nén buốt sơn hà

Người sang thế giới bên kia, hẳn

Lòng chẳng hề nguôi đau cõi ta.

Người yêu thơ, người ngưỡng mộ Huy Cận vẫn thấy ông - một dáng người như một lão nông, đi bộ có phần chậm chạp trong khuôn viên 49- 53 Trần Hưng Đạo, nơi có nhà xuất bản Văn học và trụ sở cơ quan Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, với nỗi lo toan hiển hiện về "lớp trẻ bây giờ chúng có còn say đắm thơ ca". Lúc gặp họa sĩ Dương Đình Giác thì nhẹ nhàng nhắc nhở công việc thành lập quĩ hỗ trợ sáng tác cho các nhà văn, gặp Trần Bảo Hưng thì hỏi cho biết thông tin công tác nghiên cứu lý luận phê bình văn học ở các tỉnh... ngay tại "sân nhà".   

Sinh thời, Nguyễn Du đã từng gửi lại đời sau lời tâm sự: Bất tri tam bách dư niên hậu/Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như,  thì hôm nay đây "tính dư đầy nửa", 200 năm (1965) và đang rộn lên trong cả nước, và khắp nơi chuộng tư tưởng nhân đạo Việt Nam, thức nhận nhân văn trên thế giới đang diễn ra hoạt động kỷ niệm 250 năm  (2015) ngày sinh Nguyễn Du. Năm 1990, trong bài thơ Nhớ những nhà thơ thế kỷ XVIII Huy Cận điểm diện những gương mặt: Phạm Thái, tác giả Sơ kính tân trang, Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm, Ngọc Hân công chúa của Văn tế vua Quang Trung; nhưng ở hai khổ giữa bài ông vẫn giành cho Nguyễn Du những câu thơ thống thiết:

Ôi Nguyễn Du đau đời bạc tóc

Mỗi sinh linh một kiếp nàng Kiều

Gọi hồn về trong cơn gió lốc

Của trần gian, như đốt như thiêu.

 

Sao âu yếm mặn nồng quá đỗi(5)

Bút nâng niu từng tiếng khóc, nụ cười

Lòng tạo hóa đã nhập vào tiếng nói

Lục bát bền hơi theo nhịp trái tim người.

------------------

(1) Viện văn học, Kỉ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du, Nxb.Khoa học xã hội, H, 1971

(2) Huy Cận, Những năm sáu mươi, Nxb. Văn học, H, 1968

(3) Huy Cận  Hồi ký song đôi, Nxb. Văn học, H, 2011

(4) Huy Cận toàn tập, tập I, Nxb. Văn học, H, 2012

(5) Câu thơ này trong Huy Cận toàn tập (2912) in là: Mà sao âu yếm mặn nồng quá đỗi. Năm 2005 lúc nghỉ giải lao trong hội thảo Việt Nam trong thế kỷ XX, tại hội trường Ba Đình (Hà Nội) Huy Cận đọc cho chúng tôi nghe không có từ .

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}