Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Khái niệm, đặc điểm phổ quát của đạo đức hành nghề*

TS. Lưu Bình Nhưỡng | Thứ Bảy, 21/09/2019 10:58 GMT +7

Tôi không phải là một nhà đạo đức học. Nhưng đã may mắn có chút thời gian trải nghiệm hành nghề luật. Vì vậy, khi được đề nghị tham gia nghiên cứu chuyên đề này, tôi rất hào hứng, muốn được suy nghĩ – trình bày và học hỏi những vấn đề căn bản, cốt lõi về một lĩnh vực rất đáng quan tâm, có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống và trong xã hội.


1. Mấy nét chung về đạo đức


Đạo đức là một vấn đề rất lớn quán xuyến đời sống con người. Có thể nói, xét  về mặt tư tưởng, ý thức thì chưa có gì lại có thể rộng lớn, ăn sâu đậm và đời sống của mỗi con người và toàn xã hội loài người như đạo đức. 


Theo cách hiểu thông thường, đạo đức là một dạng chuẩn mực xã hội, chứa đựng trong đó những quy tắc xử sự của con người trong các giới hạn không gian, thời gian và chủ thể, giúp xác định, đánh giá một con người, nhóm người, từ đó làm cơ sở lựa chọn cách xử sự thích hợp, hiệu quả vì các lợi ích nhất định.


Đạo đức (morality/ ethic) còn được coi như “đạo lý”, “giáo lý”, hành vi ứng xử tốt đẹp của con người. Theo GS. Nguyễn Lân, “đạo” là “đường đi”, “lẽ phải”, “bày tỏ ý kiến”; còn “đức” là “điều tốt lành”, “nguyên lý phải theo trong quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội, tùy theo yêu cầu của chế độ kinh tế và chính trị nhất định”. 


Xung quanh vấn đề đạo đức có mấy điểm rất đáng lưu ý, đó là:


Đạo đức luôn có tính chuẩn mực xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nhưng lại được coi như “khuôn vàng”, “thước ngọc” để con người soi chiếu mình và đo lường hành vi của người khác. Các quy tắc đạo đức nảy sinh từ đời sống xã hội, bắt đầu từ sinh hoạt cá nhân, dần hình thành nên những giá trị phổ quát, rộng lớn. Từ chỗ được hình thành dưới dạng tạm thời, ngẫu nhiên, sau thời gian thử thách, đánh giá, dần được công nhận, đề cao và tôn trọng.


Không chỉ là các chuẩn mực, quy tắc ứng xử thông thường, đạo đức chnhs là một trong các nền tảng của tư tưởng xã hội, pháp luật và tôn giáo. Nó vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện, chỗ dựa vững chắc cho Nhà nước, tôn giáo, chính trị và pháp chế trụ vững và thành công. Các chủ thuyết đạo đức nổi tiếng có tầm ảnh hưởng lớn đến nhân loại và đã trở thành kinh điển lâu dài trong xã hội, nhiều thứ trở thành chân ngôn rộng rãi, có giá trị.  


Đạo đức có tính giới hạn: Các quy tắc đạo đức không phải là vô hạn mà chúng có thể là hữu hạn tuỳ thuộc vào quan niệm của xã hội hoặc nhóm người. Có những giá trị đạo đức có tính trường tồn, lan toả rộng rãi, thành quy tắc chung phổ quát cho mọi tầng lớp, không phân biệt về chủ thể, thời gian…Tuy nhiên, có những quy tắc đạo đức chỉ có giới hạn đối với một khu vực, nhóm người, tôn giáo, dân tộc…thậm chí chỉ có giá trị trong khoảng thời gian nhất định. Ngay cả những quy tắc có tính “trường tồn” cũng là có tình hữu hạn, có thể bị tu chỉnh, thay đổi do quan niệm xã hội. Vì vậy, cũng có thể nói đạo đức là một giá trị có tính thời đại.


Đạo đức có tính giá trị hiệu lực: Đạo đức có giá trị đặc biệt, trong những giới hạn nhất định có thể phát huy hiệu lực rất lớn, thậm chí áp đảo các quy tắc khác. Ở những nơi tôn trọng giá trị đạo đức truyền thống, những lĩnh vực đề cao tính đạo đức, những công việc coi trọng luân lý, hạnh kiểm như giáo dục, quan hệ gia đình, tình yêu…thì đạo đức là những thử thách rất khắc nghiệt đối với người trong cuộc. Ở một số khu vực trên thế giới đạo đức truyền thống có một giá trị và hiệu lực đặc biệt, vượt qua cả những giá trị pháp luật thông thường do quan niệm cộng đồng tạo ra và được công nhận vững chắc, có tính bắt buộc.


Tính định hướng: Đạo đức về cơ bản luôn định hướng tới cái chung, cái tốt đẹp, của con người. Chỉ có cái phản đạo đức mới đi ngược lại những giá trị tốt đẹp. Hầu như các quy tắc đạo đức, thậm chí kể cả những quy tắc cực đoan, đều có định hướng tới cái toàn thiện, tìm sự hoàn hảo trong lẽ sống, sự an toàn trong tâm hồn, sự công nhận và tôn trọng trong gia đình và xã hội.


Đạo đức có tính lợi ích: Các quy tắc đạo đức mang lại những lợi ích to lớn cả về vật chất và tinh thần. Chính sự định hướng đến các giá trị, lợi ích nhất định mà người ta đặt ra và duy trì các quy tắc đạo đức. Lợi ích khi hành xử, duy trì các quy phạm đạo đức có thể ngắn hạn hoặc lâu dài, nhưng đều là mục tiêu có định hướng, có thể coi như “đáp án” cho trước trong quan hệ xã hội. Mục tiêu mà đạo đức đặt ra là bảo vệ lợi ích chung, lợi ích cá nhân và tiến đến sự “hài hòa hóa” các lợi ích. Trong một xã hội đề cao đạo đức, các lợi ích đều được tôn trọng, đặc biệt các quyền con người, giá trị nhân bản là những vấn đề căn bản nhất luôn được đặt lên hàng đầu.
Đạo đức liên quan đến nhiều vấn đề và phạm trù, như:


“Nghĩa vụ: Nghĩa vụ là trách nhiệm của cá nhân đối với nhu cầu, lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Có hai loại nghĩa vụ cơ bản là nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ pháp lý. Khi nhu cầu, lợi ích cá nhân nảy sinh mâu thuẫn với nhu cầu lợi ích xã hội: cá nhân phải biết hi sinh cái riêng vì cái chung; Xã hội có trách nhiệm bảo đảm cho sự thoả mãn nhu cầu, lợi ích của cá nhân.”


Theo ý nghĩa nêu trên thì “nghĩa vụ” hay là “trách nhiệm” đều thể hiện ở khía cạnh bổn phận của con người. Tính bổn phận cao hơn những nghĩa vụ thông thường, ở đó có sự áp đặt từ phía bên ngoài cho một chủ thể. Vì, nếu các nghĩa vụ có tính miễn cưỡng do áp đặt thì bổn phận thường thể hiện tính tự nguyện, thôi thúc từ suy nghĩ công hiến/ chịu đựng/ thậm chí không màng thiệt hơn, so đo, tính toán và khả năng thực hiện hoàn thành các công việc. Vì thế, có thể coi “bổn phận” là loại nghĩa vụ tự thân, được một người đặt ra để thực hiện, thử thách chính bản thân mình, càng nâng cao giá trị của bản thân trước xã hội.


“Lương tâm: Lương tâm có thể được hiểu như tiếng nói bên trong đầy quyền uy chỉ dẫn, thôi thúc con người ta làm những điều tốt, ngăn cản, chỉ trích làm những điều xấu. Theo quan điểm biện chứng của đạo đức học thì lương tâm là ý thức trách nhiệm và tình cảm đạo đức của cá nhân về sự tự đánh giá những hành vi, cách cư xử của mình trong đời sống xã hội. Sự hình thành lương tâm là quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp xã hội. Có thể nêu ra các mức độ phát triển của lương tâm như sau: Ý thức về cái cần phải làm do sự sợ hãi bị trừng phạt bởi thiết chế xã hội hoặc ý niệm tâm linh; Ý thức về cái cần phải làm, cần phải tránh vì xấu hổ trước người khác và trước dư luận xã hội; Ý thức về cái cần phải làm vì xấu hổ với bản thân. Khi cá nhân xấu hổ với bản thân, với những hành vi của mình là bước đầu của cảm giác lương tâm. Từ cảm giác đó đến sự phán xét các suy nghĩ, hành vi của mình thì đó chính là lương tâm. Vì thế lương tâm có quan hệ chặt chẽ với ý thức nghĩa vụ của con người. Khi con người làm những điều xấu, độc ác thì lương tâm cắn rứt. Trái lại khi cá nhân làm những điều tốt, cao thượng thì lương tâm thanh thản. Do vậy, trong cấu trúc của lương tâm tồn tại khái niệm xấu hổ, hối hận. Giữ cho lương tâm trong sạch là một tiêu chí hạnh phúc và tiêu chí sống của con người.”


Như vậy, có thể hiểu lương tâm như là “lò lửa hồng” trong một con người, có thể làm ấm những tâm hồn giá lạnh, thiêu cháy những trái tim nóng bỏng, lại có thể là “núi băng” hay “dòng lũ” mạnh làm lạnh giá, tan chảy, huỷ hoại một con người hoặc một cộng đồng người; lương tâm ví như “vị quan toà” thứ nhất trong cuộc đời và là người phân xử vĩ đại nhất trên hết thảy các toà án. Người có lương tâm coi như có một thứ “gia vị” tốt nhất của đạo đức. Không có lương tâm rất khó nói đến “bổn phận” hay nghĩa vụ tự thân. 


“Thiện và Ác: Thiện và ác là cặp phạm trù đối lập nhau trong mọi thời đại, là thước đo đời sống đạo đức của mọi cá nhân trong xã hội. Cái thiện là cái tốt đẹp biểu hiện lòng nhân ái của con người trong cuộc sống hàng ngày. Đó chính là hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp với yêu cầu và sự tiến bộ xã hội. Cái thiện phải được thể hiện qua việc góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, đem lại lợi ích cho mọi người trong xã hội. Hồ Chí Minh đã nói: "Việc thiện thì dù nhỏ đến mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ đến mấy cũng tránh" (Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1990, tr. 55). Làm cái thiện là phấn đấu cho cuộc sống của con người ngày càng trở nên tốt đẹp hơn và giàu tính nhân văn hơn. Cái ác là cái đáng ghét, ghê tởm, cái cần phải gạt bỏ trong đời sống cá nhân và xã hội. Cái ác làm mất đi sự văn minh của cuộc sống con người. Quan điểm về thiện và ác mang tính lịch sử và có thể hoán đổi cho nhau. Cái thiện và ác được chúng ta đánh giá tuỳ vào nó có thúc đẩy hay cản trở sự phát triển của xã hội, hạnh phúc của con người.” 


Nhưng nói như trên không có nghĩa đạo đức chỉ coi trọng phân biệt hai loại giá trị trái ngược nhau là cái thiện và cái ác. Đạo đức hay quy về hai nhóm giá trị mang tính tổng hợp là “cái tốt” và “cái xấu”. Một người có lòng tốt thường thể hiện sự trắc ẩn, thương cảm, giúp đỡ, dám hy sinh vì người khác; ngược lại, kẻ xấu luôn có tâm địa, lòng dạ đen tối, âm mưu để trả thù, hãm hại, tranh quyền, đoạt lợi bất chấp sự chê bai, lên án, xa lánh của người đời…Người có lòng tốt thường hướng thiện, cầu thiện, hành thiện, khuyến thiện; kẻ xấu xa thường nuôi dưỡng, che giấu tâm địa thù hận, dễ chấp nhận và cổ xuý cho bạo lực, phũ phàng phá bỏ các chuẩn mực để thoả mãn cái tôi.


Bên cạnh đó, nói tới đạo đức thì không thể bỏ qua một số vấn đề quen thuộc như sự dũng cảm và hèn hạ. Dũng cảm, theo Xu khôm lin xki (1918-1970), người Ucraina, một nhà giáo dục học Liên xô (cũ), là “lưỡi dao” tinh vi nhất trổ nên vẻ đẹp của một con người. Một người có lòng dũng cảm thường không sợ khó khăn, thử thách, áp lực, coi thường các thế lực sự đe doạ, hãm hại, không ngại mất mát, hy sinh; người hèn hạ thường sợ sệt, lo lắng, không dám đối mặt với lực lượng xấu xa, sự thất bại, không dám chịu trách nhiệm cá nhân trước trong công việc.  


Tóm lại, xét trên bình diện chung, thì:  


Thứ nhất, đạo đức là vấn đề thuộc phạm trù ý thức. Triết tự của từ “đạo đức” cho thấy hai vấn đề: “đạo” và “đức”. Tính chất “hai trong một” này quán xuyến đầy đủ ngữ nghĩa và hiệu lực tinh thần. Đạo là thứ dẫn đường, đưa lối, định hướng, quy định cách đi, lối nghĩ, làm người ta có quán tưởng, có ý niệm…Còn đức là ý chủ, là tiêu chí, là vốn đời, quả nghiệp của con người. Cho nên người ta nói đức cần có đạo để dẫn đi, còn đạo không có đức coi như một con đường vắng. 


Thứ hai, đạo đức là một phạm trù xã hội. Đạo đức chỉ có khi xuất hiện xã hội loại người, là sản phẩm đặc hữu, ngay khi con người hiểu được thế giới của mình. Bình minh xã hội loài người phải nhờ các quy phạm đạo đức để cai quản xã hội, sau mới dần hình thành pháp luật, pháp chế. Rồi dần dần, khi đã đạt một mức độ nhất định, pháp luật giúp hình thành nên hệ thống đạo đức – pháp lý ở tầm cao. Có những lĩnh vực người ta vẫn duy trì đạo đức thay vì pháp luật, vì không thể đưa pháp luật vào sâu mối quan hệ của con người, đó là đạo đức trong tình yêu, tình cảm hôn nhân…Cốt lõi của pháp luật vẫn là đạo đức, vì vậy, một trong các nguyên lý đạo đức dường như đang quán xuyến rất toàn diện các mối quan hệ của con người, trở thành cốt lõi của các quan hệ pháp luật mang tính dân sự. Bên cạnh yêu cầu hành vi không trái pháp luật, thì nhà nước còn quy định là không trái đạo đức xã hội. 


Thứ ba, đạo đức là vấn đề liên quan đến cả cá nhân và xã hội. Đạo đức mang tính cộng đồng, cho dù nhỏ hay lớn ở quy mô. Có những hệ thống quy phạm đạo đức được sử dụng lâu đời đến nay vẫn được tôn thờ ở nhiều lĩnh vực, cộng đồng dân cư, quốc gia. Nó đòi hỏi mỗi cá nhân phải thấm nhuần, tuân thủ vô điều kiện nhằm tạo ra sự thống nhất, một thứ “kỷ cương” không sắt thép mà lấy “lạt mềm” trói buộc các thành viên có liên quan. 


Thứ tư, khi nghiên cứu các quy tắc đạo đức có thể thấy rõ là các chuẩn mực đạo đức luôn được đặt trong các mặt đối lập nhằm tăng thêm khả năng nhận thức, đồng thời tạo cơ sở vững chắc cho hành vi ứng xử. Đặc trưng nhất của đạo đức là đặt ra những tiêu chí về cái tốt, cái đúng để đối lập với cái xấu, cái sai. Những điều đúng, cái hay, như lòng tốt, tinh thần giúp đỡ, tình thương yêu, đức hạnh, sự hy sinh… được tôn thờ, ca ngợi, nêu gương. Ngược lại cái xấu xa, hèn hạ, đểu cáng, lừa lọc, ác độc…đều bị lên án, tẩy chay, trừng trị, xa lánh…Khi đưa ra một vấn đề người ta thường đặt chúng trong sự so sánh cả ở khía cạnh tâm lý lẫn khía cạnh hành xử.


Thứ năm, các chế tài đạo đức rất đa dạng, mang tính xã hội nhưng rất sâu sắc, có ảnh hưởng đậm chất nhân bản. Được tạo ra gồm các chế tài nhẹ (nhắc nhở bằng lời nói, ra dấu bằng cử chỉ, động tác, ánh mắt…), các chế tài nặng (bêu riếu, cảnh cáo, kêu gọi cộng đồng tẩy chay, loại khỏi cộng đồng, xử phạt về thân thể, tài sản…). Ngày nay, nhiều chế tài đạo đức vẫn được thịnh hành, có cái đã trở thành chế tài pháp lý, như chế tài khiển trách, cảnh cáo…Mặc dù là các chế tài phi vật chất nhưng lại có chức năng giáo dục, răn đe đáng kể đối với những người vi phạm pháp luật.


2. Một số đặc trưng phổ quát của đạo đức hành nghề


Đạo đức hành nghề là những quy tắc đạo đức đặc trưng áp dụng trong một nghề nhằm tạo ra cơ sở của kỷ cương, kỷ luật nghề nghiệp. Đạo đức hành nghề còn được hiểu là đạo đức nghề nghiệp, theo TS. Nguyễn Thanh Thập , “là một nhánh trong hệ thống đạo đức xã hội, là một loại đạo đức đã được thực tiễn hoá. Lương tâm nghề nghiệp là sự tự phán xét, tự ý thức về trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp. Nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp và lương tâm nghề nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau. Đánh mất ý thức về nghĩa vụ đạo đức là đánh mất ý thức về bản thân mình, làm mất ý nghĩa làm người cũng như giá trị động lực của lao động. Do vậy, giáo dục đạo đức nghề nghiệp chính là để hình thành nhân cách nghề nghiệp của mỗi chủ thể; hướng con người vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ trong hoạt động nghề nghiệp.” Nhưng điểm chung của đạo đức hành nghề là:


(1) Đạo đức hành nghề có nhiều loại, tùy thuộc vào số lượng nghề và nhu cầu đặt ra, duy trì những quy tắc đạo đức. Trong xã hội nói chung có khái niệm “đạo đức xã hội”, khái niệm này rất mênh mông, bao gồm và quán xuyến về đạo đức con người. Trong quá trình hành nghề, những người tham gia thực hiện một hoặc nhiều hoạt động thành phần của nghề đều bị điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức. Làm kinh doanh phải có đạo đức kinh doanh; làm giáo viên phải có đạo đức nhà giáo; làm luật sư có đạo đức hành nghề luật sư ; làm tòa án phải tuân theo đạo đức của quan tòa ; làm bác sỹ phải có quy tắc hành nghề y …làm cán bộ phải có đạo đức cán bộ, làm công chức phải có đạo đức công vụ…Ai hành nghề gì phải tuân theo pháp luật và đạo đức hành nghề đó và tiêu chuẩn ấy là yêu cầu bắt buộc ở cả phương diện pháp chế và đạo đức, vừa có tính cưỡng chế, vừa có tính tự giác. Do đặc thù riêng của mỗi nghề nên các bộ quy tắc nội bộ có những quy định khác nhau. Tuy nhiên, đạo đức hành nghề có những đặc trưng phổ quát như sau:


(2) Quy tắc đạo đức của nghề là có tính căn bản, mang đặc trưng nghề nghiệp. Nội dung đạo đức hành nghề là những quy tắc để giúp các thành viên - người hành nghề bảo vệ được chính bản thân và các quyền lợi của nghề. Từ nhu cầu cá nhân, người ta đã đưa ra những quy tắc rút ra từ quá trình hành nghề, thậm chí từ sự thất bại, những xung đột lợi ích, những bài học đắt giá làm tổn thương các lợi ích vật chất và phi vật chất của nghề. Đối với một nghề thì lợi ích lớn nhất là thanh danh, là uy tín, sự tin cậy. Một sự vi phạm pháp luật hay hành vi phi đạo đức của thành viên sẽ mang lại những thiệt hại nhất định, có thể rất lớn cho nghề. Việc hành nghề sẽ gặp nhiều trở ngại, hứng chịu thất bại. Vì vậy, các quy tắc đạo đức trong hành nghề luôn đi vào quy định các nội dung ứng xử, hành vi cần được tôn trọng và thực hiện. Có những quy tắc chung mang tính nguyên lý, bên cạnh đó việc hành nghề còn bị ràng buộc bởi những nội dung đạo đức cụ thể từ giao tiếp, trình tự, thủ tục, các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của thành viên khi thực hiện các hoạt động nghề nghiệp. Vì vậy, các quy tắc hành nghề luôn có tính chuyên môn, đi sâu vào hoạt động chuyên nghiệp từ việc mô tả hoạt động và phương thức ứng xử phù hợp. Từ các nội dung chuyên môn, qua sự kiểm soát mang tính nghề nghiệp thì các hành vi trái với quy tắc đạo đức nghề nghiệp sẽ bị lên án, xử lý phù hợp và công bằng.


(3) Đạo đức hành nghề là loại quy tắc nội bộ, do chính các thành viên/ cơ quan lãnh đạo/ đại diện có thẩm quyền hành nghề xây dựng, phát triển qua thời gian, thực tiễn thi hành, được thừa nhận và tôn trọng. Một quy tắc nghề nghiệp đặc trưng được áp dụng cho quá trình hành nghề của một nghề nhất định. Việc “vận dụng” có thể được các thành viên của nghề khác, tổ chức khác thực hiện dưới dạng các kinh nghiệm hơn là sự sao chép máy móc. Mỗi nghề có một hệ quy tắc mang tính “khép kín”, tính chất này bảo đảm gìn giữ cả những bí mật của nghề trên bình diện tổ chức và hoạt động.


(4) Đạo đức hành nghề là loại quy phạm bổ sung hỗ trợ các quy tắc pháp lý. Mặc dù có các quy định của pháp luật nhưng hầu như không nghề nào lại bỏ qua các quy phạm đạo đức. Dường như sẽ có nhiều “lỗ hổng” trong ứng xử, hành nghề, xét đoán, quyết định các sự việc, vụ việc liên quan đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, khách hàng, công dân…nên phải chế định ra các quy tắc đạo đức để bịt các “lỗ hổng” nhân cách trong hành nghề. 


Nhưng xét cho cùng, cái gốc rễ của đạo đức hành nghề được “gói gọn” trong hai từ lớn: lương tâm và trách nhiệm.


Người hành nghề cần phải có lương tâm, dựa trên lương tâm mà hành xử, đối đãi với người khác; đặt mình và vị trí, hoàn cảnh của người khác để hành động cho phù hợp. Đừng vì kiêu hãnh nghề nghiệp mà coi thường người khác nghề; đừng kiêu ngạo nghề nghiệp mà tỏ thái độ khinh rẻ con người. Tóm lại phải có “lòng tốt”, phải thiện tâm, là một người hành nghề tử tế. kẻ không có lương tâm, thiếu lương tâm thường vô tình, vô cảm trước đồng loại. Vì vậy người hành nghề phải triệt bỏ thói vô lương khi nó xuất hiện “vòi vĩnh” mình.


Hành nghề phải có trách nhiệm, tức là phải xác định được bổn phận khi hành nghề. Dám chịu trách nhiệm, gánh vác những nhiệm vụ cho dù nặng nề, khó khăn mà nghề nghiệp trao cho, coi đó là sứ mệnh tự nhiên và vinh quanh của nghề. Một luật sư không dám lên tiếng, không quyết liệt để rửa nỗi oan khuất cho thân chủ; một bác sỹ thiếu trách nhiệm để bệnh nhân rơi vào cơn hiểm nghèo; một cán bộ - công chức thiếu ý thức trong khi thi hành pháp luật, lại vướng vào tham nhũng, tiếp tay cho kẻ khác hà hiếp lương dân…chắc chắn sẽ bị xã hội khinh rẻ, lên án. 


Người có lương tâm và trách nhiệm rất cần lòng dũng cảm để thi triển nhiệm vụ. Thiếu lòng dũng cảm giống như thiếu lưỡi gươm, trong tay không vũ khí để chiến đấu chống lại cái xấu, chống lại lực lượng phản diện, phản động, thì sẽ rất khó “hành nghề” hoặc chỉ hành nghề theo bản năng chứ thực sự chưa có chiều sâu, từ đó sẽ không hiệu quả hoặc phải lụy kẻ có chức quyền. Hành nghề theo luật mà không được tự do nghề nghiệp, không được trọng vọng, phải luồn cúi hoặc bị ca thán, không đáng tin cậy là điều rất đáng buồn.


Khổng Tử đề cao ba chữ: Lễ, Nghĩa, Nhân, trong đó Nhân chính là gốc rễ. Kẻ có lòng nhân mới hiểu được “lễ” và “nghĩa”, mới có lương tâm và trách nhiệm trong hành nghề. Cho nên, nói gì thì nói, muôn trùng gì thì muôn trùng, người hành nghề cần có đạo đức, tức là có gốc rễ mới tạo được uy tín.

------------------------------

* Tham luận tại Diễn đàn khoa học "Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao đạo đức hành nghề trong giai đoạn hiện nay" ngày 28/8/2019 do Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức..

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}