Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Không gì bình đẳng hơn sự chịu đựng và mức độ là thuộc tính của đẳng cấp

Nhà thơ, Nhà viết kịch Nguyễn Thế Kỷ | Thứ Năm, 28/02/2019 19:04 GMT +7

(Vanhien.vn) Trân trọng giới thiệu bài  tham luận của Nhà thơ, Nhà viết kịch Nguyễn Thế Kỷ "Không gì bình đẳng hơn sự chịu đựng và mức độ là thuộc tính của đẳng cấp" do Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tạp chí Văn hiến Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 21/12/2018 nhân kỷ niệm  74 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1994 - 22/12/2018) và 5 năm ngày mất của Đại tướng.

Vì muốn ngắn, nên nhan đề bài tham luận của tôi hơi dài. Nhưng chuyện Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Văn hóa dân tộc là bất tận, tôi viết mấy vẫn thấy còn quá ngắn.


Thời xưa: Ông vua bên cạnh luôn có hàng trăm cung tần mỹ nữ và muốn chém ai thì chém? Ông ăn mày cam chịu rách rưới, cam chịu làm cho thân thể tiều tụy hơn sự tiều tụy mình vốn có, tàn tật hơn cái tàn tật của chính mình kiếm sống qua ngày.Thời nay vua chúa không còn, ăn mày đã hiếm, nhưng còn có ít người chức cao quyền trọng sở hữu những gia tài đồ sộ, gặp buổi kê khai tài sản lại sinh ra nhớ quên lẫn lộn. Ít người nghèo khó, thương tật, con cái bị nhiểm chất độc da cam. Các tầng lớp cao thấp xưa nay thời nào ở góc độ chịu đựng cũng bình đẳng. Bình đẳng không có đối lập trong sự chịu đựng. Nói chung con người sinh ra để chịu đựng nhau mà sống.


Khi đặt vấn đề Hội thảo: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Văn hóa dân tộc”, tôi thấy ngay trước mắt hình tượng một con người văn võ song toàn. Không phải ngẫu nhiên mà  Bác Hồ gọi Võ Nguyên Giáp là “chú Văn”.  – Văn và Võ. Quân sự và Văn hóa. Trận mạc và nhân văn đã quyện vào sự chịu đựng suốt một đời Đại tướng. 


“Một cây làm chẳng nên non/ ba cây dụm lại thành hòn núi cao”. Từ thập kỷ thứ 11 thế kỷ 20, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mang tư tưởng văn hóa Việt ấy đi khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước và ngay trên đường đi những năm 1929 – 1930, Bác đã dụm cây thành núi trên cả đất khách. Võ  


Võ Nguyên Giáp đã là học trò của Nguyễn Ái Quốc sau 30 năm trở về. Sự chịu đựng đầu tiên mà “anh Văn” chạm phải là việc giữa năm 1942 trên đường sang Trung Hoa, Hồ Chí Minh và Dương Đào bị Quốc Dân Đảng bắt giam, tra tấn, giải đi qua mấy chục nhà tù. Đặng Văn Cáp được mặt trận Việt Minh phái đi Trung Hoa tìm hỏi, tên Chủ nhiệm chỉ huy sở của Tưởng Giới Thạch ở Tĩnh Tây trả lời: “Hai người Việt Nam bị bắt thì một người già đã chết. chôn ở đâu không biết”. Đặng Văn Cáp đau đớn trở về Pắc Pó báo tin. Những ngày đầu phong trào Cách mạng như măng mới mọc. Lãnh tụ là cái gốc mà như vậy, sự chịu đựng chẳng riêng ai. 


Phạm Văn Đồng viết điếu văn, Võ Nguyên Giáp và Vũ Anh đem chiếc vali của Bác xem còn những gì để làm lưu niệm! Nhưng: “Va-ly của Bác mở ra/Bên là đôi giép, cạnh là chiếc khăn/Ngoài bao tấm chiếu, cái chăn/Gia tài của Bác chỉ bắng ấy thôi/Ròng ròng Khuổi Nặm suối trôi/ Điếu văn nước mắt viết rồi chưa khô”. Võ Nguyên Giáp giây phút đó lặng trào theo từng bước chân:”Đi trong xao xác hoàng hôn/Triền tranh núi buốt tận hồn cô đơn/ Vệt xanh sơn thạch trắng giờn/Rơi nhằm bêp lửa chập chờn nhà ai”.


Là học trò của Hồ Chí Minh, không có việc gì Cách mạng đề ra mà Võ Nguyên Giáp không đảm trách: Sau khi vừa thành lập đội “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” 22/12/1944 chỉ có 34 người trang bị 34 cây súng dài đủ các loại tại giữa khu rừng Trần Hưng Đạo – Hoàng Hoa Thám thuộc dãy Khâu Giáng núi Dền Sinh ở Việt Bắc. Bác Hồ đã hạ lệnh phải thắng trận đầu. Không lâu sau, Võ Nguyên Giáp tìm đủ mọi cách đánh tan các đồn bót của Pháp xây thêm ở Khai Phắt – Nà Ngần và đợt khủng bố dữ dội của giặc lúc ấy trên các vùng Kỳ Chỉ, Gia Bằng, Tam Kim… quân ta phần nào cũng hạn chế được mức tàn phá của địch. 


Chiến thắng trận đầu có phần dùng vũ khí sắt thép, Võ Nguyên Giáp càng về sau càng dùng vũ khí tuyên truyền tập họp quần chúng theo Văn hóa dân tộc: “Nhiều tay vỗ nên kêu” mà Bác đã khái quát là “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”. Việt Minh – Tên gọi của Tổ chức Cách mạng Việt Nam hồi đó đã đoàn kết tốt. Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 thành công. Dòng chữ “Bắc môn tỏa thược” (Khóa chặt cửa Bắc) khắc đậm trên cổng đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư từ 1.000 năm trước và Chỉ dụ của Lê Thánh Tông cho các quan trấn thủ khắp biên thùy từ thời nhà Lê: “Kẻ nào dám đem một thước đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc sẽ bị tru di”. Theo di chỉ trên, rõ ràng văn hóa dân tộc là “Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”. Với mục tiêu đó. Võ Nguyên Giáp theo Bác Hồ làm cách mạng giải phóng dân tộc, không bao giờ mơ hồ về sự tồn tại đất nước khi chủ quyền không nắm chắc trong tay.


Tuyên ngôn độc lập, Bác vừa đọc tại Ba Đình – Hà Nội ngày 2/9/1945. Pháp tái chiếm Gia Định Sài Gòn 23/9/1945. Hiệp định 6/3/1946 Pháp đưa 15.000 quân ra thay thế cho quân Tưởng. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa 8 tháng tuổi, Pháp mời Bác với cương vị thượng khách đến Paris. 30/5/1946 Bác lên đường. 21/10/1946 Bác về ở Bắc Bộ Phủ và nhà số 8 đường Lý Thái Tổ - Hà Nội. Đêm 19/12/1946 Pháp đánh úp cả hai nơi này. Cuối mùa đông một chiều đầu tháng 11/1946 Bác ra ngoại thành, trên vùng đất Bưởi. 12/11/1946 Pháp gây hấn Hải Phong – Hà Nội. 23/11/1946 Bác gửi thư cho Đại tướng Valuy Thượng sứ kiêm Tổng chỉ huy và Móc-li-e Tư lệnh Pháp.   Với tinh thần văn hóa dân tộc là “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Bác hỏi Võ Nguyên Giáp: 


 - Hà Nội giữ thành được bao lâu? - Dạ, chừng hơn một tháng. - Thế còn các địa phương khác? - Xin thưa, bước đầu tỉnh thành nào cũng phải gặp khó khăn  - Đồng bằng thì thế nào? - Dạ nhất định giữ được ạ! Bác nói khẽ: “Tân Trào”!” 


 Ngày17/12/1946 Pháp tấn công Đà Nẵng, Hải Phòng. 18/12/1946 Ban Liên kiểm Pháp gởi tối hậu thư: “Pháp phải bảo an Hà Nội”. 20/12/1946, Không còn cách nào khác, Bác họp khẩn TW và tuyên bố: Toàn quốc kháng chiến! Đến đây sự chịu đựng bình đẳng không riêng Đại tướng mà cả dân tộc gian nan và xương máu. Phải chịu đựng để tồn tại. Một sự chịu đựng đầy đủ chất văn hóa dân tộc toát ra từ kháng chiến chống ngoại xâm. Thế mà về sau có kẻ còn nói: Kháng chiến làm gì? – Không kháng chiến – không chịu đựng nhau để mà sống, để mà giữ nước hay sao?


 Rút lên Việt Bác, 4 tháng trời mới đến An Toàn Khu. Tháng 2/1947 thủ tướng Pháp Lê-ông-blum sụp đổ, Ra-ma-đi-e lên thay. Bô-la-e lập tức sang làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Chính phủ mới nước Pháp cho Pôn-muyt tìm gặp Hồ Chí Minh qua thông điệp Hòa bình ngày 14/4/1947. Uyn-xơn - Tổng lãnh sự Anh làm ngang nối. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bố trí lực lượng bảo vệ cuộc giao hòa Việt – Pháp. Bác nói một câu tiếng Pháp kết thúc cuộc hòa đàm: “Dans Lunion Francaise il ne doit pas y avoir de phace pour des laches” (Trong Liên Hiệp Pháp, họ sẽ cho tôi hèn mạt, nếu tôi làm theo những bó buộc phi lý của các ông).


Tháng 9/1947 sau khi Bô-la-e đến Hà Đông đọc diễn văn không công nhận Chính phủ Hồ Chí Minh, Va-luy tuyên bố Pháp mở ngay đòn kết thúc chiến tranh Việt – Pháp như một cuộc bắn pháo hoa. 10/1947 chúng tấn công Việt Bắc với 200.000 quân. Lính dù Xô-ma-nhắc đổ xuống Việt Trì, quân bộ ngược Sông Lô đến Bắc Cạn. Quân đội Võ Nguyên Giáp chặn giặc Bông Lau, Đoan Hùng, Bình Ca…Tấn công Pháp liên tục buộc chúng rút khỏi Thái Nguyên chạy xuống Hà Nội. Thu Đông 1947 ta thu thắng lợi lớn. Cơ quan TW từ vùng dân tộc Người-Mán-Đeo-Tiền tận thượng nguồn sông Đáy trở lại Tân Trào. 


Võ Nguyên Giáp theo Hồ Chí Minh từ dòng văn hóa dân tộc “Dựng nước và giữ nước” không bao giờ phai nhạt. Sau thất bại Thu Đông 1947, địch chuyển hướng chiến lược bằng viện trợ Mỹ. Ta cầm cự 2 năm thắng lợi, Bác phân công Võ Nguyên Giáp Chỉ huy trưởng chiến dịch Biên giới. Sau khi san bằng đồn địch ở Phìa Khóa, Yên Ngựa, Cam Phầy, Đông Khê, Thất Khê. Chiến thắng không ngừng, ngày 7/10/1950 Võ Nguyên Giáp tự nâng sức chịu đựng mình lên đề nghị TW mở tiếp các chiến dịch: Trung Du 12/1950. Chiên dịch Uông Bí – Đông Triều 3/1952. Chiến dịch Quang Trung 5/1952. Chiến dịch Lý Thường Kiệt 10/1952. Chiến dịch Hòa Bình 12/1952 - 2/1953. Chiến dịch Tây Bắc - Biên giới thượng Lào 10/1953. 


Hoàng loạt chiến dịch chỉ điểm qua trên, còn dành sự chịu đựng cho trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Ngày 3/12/1953 tướng Nava từ Pháp chăm chắm sang Đông Dương cùng một số can thiệp Mỹ xây dựng Điện Biên Phủ thành Tập đoàn cứ điểm Đông Dương kéo theo 16.200 quân, máy bay, xe tăng thiết giáp liên đội liên đoàn, 34 phân khu cùng 49 chốt cắm liên hoàn. Pháp, Mỹ và cả những chính khách của họ đều chắc như đinh đóng cột: Đây là chiếc cối-xay-máy khổng lồ, sẽ nguyên liệu chính là Việt Minh sẽ bị nghiền nát.“Điện Biên Phủ là chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay”! – Lời khẳng định của Bác Hồ truyền năng lượng cực mạnh đến toàn quân. 


Không có trận nào Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chịu đựng. Nhưng trận này, sự chịu đựng chẳng ai thấu nổi nỗi lòng của Tổng chỉ huy mặt trận tới mức độ nào ngay từ khi xuất quân, giấu quân, đào hầm, kéo pháo ra kéo pháo vào… dến lúc cửa ngỏ Him Lam mở toạc 17 giờ 13/3/1954, tiếp theo đồi E, đồi D1, chốt D2 địch lộn nhào… Từ những ngày cơm chờ chia từng lưng đọi, đạn đợi tận cấp cao của mặt trận duyệt từng viên, từng viên cho từng khẩu đội cuối đợt 1… đến giờ triệt hạ được đồn Mường Thanh, đồi A1, cầu Nậm Rốn 17,30 phút 7/5/1954 giữa đợt 2… Ngọn cờ quyết thắng nhuộm máu của chiến sĩ, của đồng đội đỏ tươi cắm trên nóc hầm Đờ-cát và hàng binh Pháp như khói trắng khỏa khắp trời Điện Biên? Đại tướng Võ Nguyên Giáp chịu đựng cả sự chịu đựng của dân tộc! 


1945 – 1954 đánh Phap. 1954 – 1975 chống Mỹ. Thời gian chinh chiến gấp đôi. Quân sự gấp nhiều lần. Sự chịu đựng cả đôi bên sau này khác với trước kia.Trước đánh Pháp cả nước thống nhất Trung Ương địa phương gần gũi, công việc trên dưới trực tiếp. Nay đánh Mỹ núi sông chia cắt, mọi thứ đều gián tiếp, nhưng văn hóa dân tộc là: “Hồi xa cách vách cũng xa/ Khi gần cách huyện cách nha cũng gần”. Nói vậy, nhưng kháng chiến kéo dài, sự chịu đựng không chỉ riêng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỗi ngày một lớn. 


Tháng 8/1955 bất chấp Hiệp định Jeneve, Ngô Đình Diệm phá bỏ Tổng Tuyển cử thống nhất đất nước. 26/4/1956 Mỹ hất Pháp ra ngoài rìa. Trong 10 năm Mỹ Diệm giết hại 20 vạn và làm tàn phế 70 vạn người dân yêu nước miền Nam. Từ 1955 – 1960 trên miền Nam đất Việt đã có mặt 23.000 cố vấn Mỹ. Tháng !2/1963 chế độ gia đình trị họ Ngô bị Mỹ phế truất. Chiến tranh Cục bộ 1963, chiến tranh phá hoại 1964 – Cái mà Mỹ gọi là leo thang, sự chịu đựng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có mức độ đã làm cho thang của Mỹ trở nên không bậc từ 1965 - 1967 đã gãy. 19/5/1965 Bác viết di chúc lúc 75 tuổi. 17/7/1965 Mỹ đưa vào miền Nam 20 vạn quân Chư hầu. 


Tháng 7/1967 Bác từ khu An dưỡng Trung Quốc về thông qua chương trình Xuân Mậu Thân 1968. Quân đội hậu phương chia sẻ lực lượng 94. 000 Trung, Sư đoàn ra tiền tuyến. Võ Nguyên Giáp vừa lo lắng dõi theo hướng Bắc vừa kiểm soát quân tình nhanh chậm đến phương Nam. Ngoài ra còn hàng vạn dân công hỏa tuyến lưng khuân, vai vác 118.923 tấn vũ khí, lương thực thực phầm trên vạn dặm đường mòn Trường Sơn đèo cao hố thẳm. Bên cạnh đó chưa kể 122.000 tấn hàng lương khô, thuốc men đạn dược và 42.619.081 USD quá cảnh từ các nước bạn đến Trung Quốc – quá cảnh qua cảng Xianucvil vào Nam phần nước Việt. Tất cả đều có liên đới đến sự chịu đựng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


Cuối tháng 12/1967, sau khi thu thanh bài thơ thay lệnh mở màn chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968 của Bác xong câu kết “Toàn thắng ắt về ta”, Bác liền trở sang nơi an dưỡng. Riêng Võ Nguyên Giáp phải nén xúc động mình thấp xuống thành sự chịu đựng cao hơn mọi người. Vì chiến dịch Tết Mậu Thân tuy gián tiếp bởi sự cách ngăn giới tuyến tạm thời, nhưng về quân sự đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp là trực tiếp. Chiến dịch Tết Mậu Thân ba đợt, kéo dài đến 28/9/1968 mới kết thúc. Ta tấn công dữ dội 27 thành thị. Phá hủy hàng 100 Chi khu, quận lỵ. 3 tổng kho hàng hóa quân sự, 6 Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Đặc biệt đêm 30/1/1968 quân ta tuy không tóm được đại sứ Bun-ke (Ellsworth Bunker), nhưng lá cờ nước Mỹ ta đã hạ xuống đất trên nền Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn suốt 6 tiếng đồng hò. 


Đến đợt 2 Tết Mậu Thân sự chịu đựng của Võ Nguyên Giáp thấy nhẹ nhõm khi Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ Líp-phớt (Clippheutte) cách chức Oet-mô-len cho tướng A-băm (Creighton Abrams) lên thay. Nhưng liền sau đó thư của Bác từ Trung Hoa gửi Tổng Bí thư Lê Duẫn đề nghị vào thăm miền Nam đầu đợt 3 với lời lẽ thiết tha, nhẫn nại của Người: “Từ trước TW có hứa khi giải phóng hoàn toàn sẽ đưa Bác vào thăm đồng bào miền Nam, nhưng giữa chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968 này vào để kịp động viên cán bộ chiến sĩ thì mới đúng lúc. Hơn nữa từ khi rời bến Nhà Rồng đến chừ cũng đã gần 60 năm rồi! 


 Bác khao khát vào thăm miền Nam đã truyền đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp một sự chịu đựng phi thường, nhưng đâu bằng khi đồng chí Vũ Kỳ dừng tay phất quạt bên chỗ Bác nằm như ngủ trên cái giường gỗ, trải chiếc chiếu đơn sơ trong căn nhà nhỏ và Phạm Văn Đồng khẽ nói trong nhịp thở: “Bác có còn đau đớn gì đâu! Thôi để Bác yên nghi”!  Trong giây phút cuộc biệt ly lớn nhất cuộc đời, Võ Nguyên Giáp thấy đất trời hoàn toàn một màu trắng  – “Trắng hoang sóng bạc, lá vàng/ Trắng hoang sông núi khăn tang Một Người/ Trắng hoang vạn vật xanh tươi/ Trắng hoang đến cả mười mươi lòng mình”.Và chính lúc tràn đầy chịu đựng đó, Đại tướng nghe rất rõ:“Chú Văn! Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một”! Đó là Văn hóa dân tộc!


Không phải bây giờ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nghe Bác nói rõ điều đó từ lâu.Điều đó, tôi xin nhắc lại: “Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một”. Vì thế mà tháng 7/1954 tướng Đờ-cát gục đầu xuống đất Điên Biên. Vì thế mà Tổng thống Mỹ Nít-xơn (Richard M. Nison) từ 31/3/1968 đã xuống thang, ngừng ném bom miền Bắc. Vì thế mà trận thử lửa Xuân 1968 vàng thau càng lộ mặt. Vì thế mà khi Mỹ ỷ mạnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ ngay Bác nói với Phùng Thế Tài từ cuối năm 1967: “Sớm muộn gì đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua ”. 


Vì thế mà tháng 12/1972 Hà Nội cuối Đông giá buốt 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, “Rồng lửa Thăng Long” bay lên bầu trời thiêu cháy rơi rụng tất cả tham vọng điên cuồng của quân xâm lược. 77 máy bay hiện đại trong đó có 33 B52. 24 phản lực của Hải quân Mỹ, 2 máy bay trinh sát,1 máy bay lên thẳng. Giặc lái tử thương và bắt sông hơn 100 tên. Ngoài ra ta còn bắn cháy 8 tàu chiến Mỹ. Vì thế mà 22/12/1972 Nichxơn phải đưa công hàm đề nghị ta họp lại theo nội dung thỏa thuận hồi tháng 10/1972. Uy thế không lực Hoa Kỳ sụp đổ. Mỹ hy vọng thương lượng trên thế mạnh tan biến. Trưa 23/1/1973 dưới trời nước Pháp lất phất mưa thêm giá buốt khi mưu sĩ Kitxinhgiơ đến tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế trên đường Klêbe ký tắt để bốn ngày sau 27/1/1973 Hiệp định Pari về Việt Nam chính thức có hiệu lực.


Pháp thua Việt Nam sau trận Điện Biên Phủ dưới đất. Mỹ thua Việt Nam sau trận Điện Biên Phủ trên trời. Điện Biên Phủ dưới đất, không những Tập đoàn cứ điểm Dờ-Cát chịu đựng, mà Chính phủ Pháp chịu đựng, nhân dân nước Pháp chịu đựng. Trận Điên Phủ trên trời Mỹ thua không những Tổng thống Giõnxơn, Nichxơn chịu đựng mà Nhà Trắng chịu đựng, nhân dân nước Mỹ chịu đựng.        

           
Chiến thắng qua hai cuộc chiến tranh, ai cũng vui mừng! Mừng tận đất! vui tận trời!  Nhưng trước cảnh máu chảy xương rơi ngay trên mặt trận Điện Biên Phủ 7/5/1954, ngay trên trận địa phòng không khắp miền Bắc và thủ đô Hà Nội 18/12/1972. Ở cương vị Đại tướng của một quốc gia,Võ Nguyên Giáp chịu đựng khủng khiếp đến chừng nào? Những bà mẹ 20 năm chờ con bên 2 bờ giới tuyến tạm thời chịu đựng cằn cỗi đến chừng nào? Những người vợ chưa hóa đá đợi chồng chịu đựng mòn mõi đến chừng nào?, những đứa con trong các gia đình kháng chiến bị giặc bắt lính phải chặt cẳng, chăt tay để khỏi bắn vào “đối phương” là mẹ cha, anh em, họ hàng thân thuộc mình chịu đựng đau đớn đến chừng nào? 


 Thì ra sự chịu đựng bình đẳng cả địch và ta, cả chính nghĩa và phi nghĩa, cả thấp hèn và cao thượng. Tướng Giáp “Không chém kẻ dưới ngựa”. Đó là Văn hóa dân tộc. Đó cũng là sự chịu đựng có mức độ của một Võ tướng Việt Nam đầy đặn tính nhân văn của nhân loại. Tướng Đờ-cát, binh lính Pháp nhất định sẽ được trở về trên đất Pháp. Những tù hàng binh Mỹ, những giặc lái Mỹ bị bắt trong chiến tranh Việt Nam, thậm chí những tử sĩ Mỹ và các nước chư hầu của Mỹ bị vùi xác trên đất nước Việt Nam nếu tìm được, cũng tạo điều kiện để đưa về đất Mỹ“Bầu ơi thương bí với cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Đó là Văn hóa dân tộc Việt Nam.


Hòa bình lập lại ai cũng tưởng Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người được ưu tiên nghỉ ngơi tự tại vì suốt 30 năm chiến tranh, ông đã lập nhiều chiến công hiển hách, bây giờ còn gì phải chịu đựng nữa? Nhưng giữa năm 1980 Đại tướng Võ Nguyên Giáp được TW giao một nhiệm vụ mới: Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân số Sinh đẻ có kế hoạch. Không chỉ có Giáo sư Vũ Khiêu bực mình hỏi mà cả những người không thân thuộc gia đình cũng hỏi: “Tại sao lại giao cho Đại tướng việc ấy”? 


 Với sự chịu đựng có mức độ, Võ Nguyên Giáp trả lời còn hơn sắt thép: “Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta: Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Chúng ta đã từng vượt qua mọi khó khăn, đánh thắng mọi kẻ thù trước kia, thì nay Đảng giao công việc gì ta cũng phải nhất định phải làm tốt việc ấy. Hãy bắt tay vào làm đi”. Mức độ chịu đựng đến mức đó thì quá cao thượng. 


Vì sự chịu đựng bình đẳng nên tôi lúc đó cũng chia sẻ, một sự chia sẻ âm thầm: “Chắc là Đại tướng Võ Nguyên Giáp quá chịu đựng, một sự chịu đựng hơn tất cả mọi chịu đựng bom đạn, máu xương trong hai cuộc chiến tranh với hai đế quốc lớn thế giới. Nhưng đẳng cấp về nhân cách của Đại tướng siêu cao, nên sự chịu đựng mới đến mức độ như vậy”.Trong thời điểm đó có một trí thức Bắc Hà nói với tôi cũng trong sự chịu đựng của ông: “Chắc Đại tướng nghĩ rằng – Không ai vĩ đại hơn người mẹ, vì không có người mẹ thì không có lãnh tụ, không có anh hùng. Nhưng không có “bà đỡ đẻ” thì làm sao có người mẹ? – Hay quá! Trí thức Bắc Hà thời nào cũng là bậc thầy trong thiên hạ! 

 

Từ đầu đến cuối tham luận, sự chịu đựng không đâu và không ai ngoại lệ. Đến đây, tôi thấy chỉ có nhân loại là không chịu đựng vì đã thấy được một con người có mức độ. Con người có mức độ là con người có trình độ. Trình độ là gồm cả chính trị , quân sự, Văn hóa và chịu đựng. Thế giới công nhận Võ Nguyên Giáp là một trong 10 Võ tướng của Thế giới, ngang tầm Alexandros (356 – 323 TCN), Cezar (100 – 44 TCN), Thành Cát Tư Hãn (1162 – 1227), Napoleon (1769 – 1821), Mikhain Cutuzop (1896 – 1974). thì có chịu đựng gì đâu?. Và đến đây tôi cũng xin kết bài tham luận bằng một câu: “Sự chịu đựng và mức độ, cũng là Văn hóa dân tộc”.  


 N.T.K                                                                                         

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}