Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Kịch Xuân Trình - Kịch "đối đầu về tư tưởng"

Nhà văn Phạm Xuân Nguyên | Thứ Hai, 20/01/2020 09:55 GMT +7
Trân trọng giới thiệu tham luận của Nhà văn Phạm Xuân Nguyên "Kịch Xuân Trình - Kịch 'đối đầu về tư tưởng' " tại Hội thảo khoa học “Xuân Trình – Nhà viết kịch, Nhà lãnh đạo Sân khấu tiên phong của sự nghiệp đổi mới” tổ chức ngày 30/11/2019 tại Hà Nội.
 
 
Năm chữ “đối đầu về tư tưởng” là của Xuân Trình.
 
Trong bài viết “Nâng cao chất lượng văn học của kịch chống Mỹ’ sau khi điểm qua một số thành công bước đầu của ngành kịch nói hồi đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, Xuân Trình đã chỉ ra một khuyết điểm của các vở kịch viết vào thời kỳ này là “không có mặt đối lập về tư tưởng”(1). Ông nói điều này khi nhắc đến cuộc thảo luận của giới sân khấu về vấn đề kịch phản ánh nội bộ nhân dân trong cuộc chiến đấu chống Mỹ ở miền Bắc có nhất thiết phải mang mâu thuẫn xung đột hay không. Thực chất đây là ảnh hưởng của “thuyết không xung đột” trong văn học nghệ thuật từ Liên Xô vào nước ta hồi đó. Mặc dù ông nói “thực tế thì vấn đề đã được những nhà lý luận sân khấu ở các nước xã hội chủ nghĩa giải quyết rồi”, nhưng thực ra không phải vậy. Thực tế là “thuyết không xung đột” đã gây tác hại lớn cho văn học nghệ thuật ở các nước xã hội chủ nghĩa một thời gian dài và khi thuyết đó vào Việt Nam cho đến lúc Xuân Trình viết bài này nó vẫn là một nguyên nhân chính gây ra sự tẻ nhạt, một chiều của nghệ thuật trong đó có kịch nói. Ông nêu lên một biểu hiện tiêu biểu của “thuyết không xung đột” trong kịch là kết cấu của vở thường xoay quanh một câu chuyện hiểu lầm. Và kịch kết thúc bằng cách “đại đoàn viên” vui vẻ khi sự hiểu nhầm đã được gỡ bỏ mà theo Xuân trình thì tỷ lệ kết thúc như vậy nếu không phải một trăm phần trăm thì cũng là chín mươi chín phần trăm. Đến mức ông phải kêu lên: “Đã có thời kỳ sự hiểu lầm trong kịch phổ biến tới mức mà tôi có cảm tưởng như xã hội ta không còn vấn đề gì phải đem ra mà thảo luận nữa”. Đời sống vào kịch là hoàn toàn tốt đẹp, lãnh đạo không có khuyết điểm, tập thể nhân dân là một khối thống nhất thuần chất, không có mâu thuẫn nội bộ, không có những chuyện tiêu cực, không có những vấn đề gai góc, mọi sự đều ngọt ngào, êm đẹp. Nhưng như thế là cái chết của kịch, như thế là kịch không có chất văn học, điều mà Xuân trình đang đòi hỏi ở chính mình và các đồng nghiệp. Viết kịch theo “thuyết không xung đột” ông cho là không nói được cái cốt tủy của đời sống hiện thực đang diễn ra ngay trong cuộc kháng chiến vĩ đại của đất nước.
 
Cốt tủy của đời sống, theo Xuân Trình, là sự đấu tranh của các mặt đối lập như tối sáng, đen trắng, phải trái, là phải nhìn đời sống như một quá trình trong đó “bên cạnh những điều tốt đẹp vẫn còn những cái chưa hoàn mỹ”. Và trong việc thể hiện cốt tủy của đời sống thì kịch có một khả năng hơn hẳn các loại hình văn học nghệ thuật khác vì “bản thân kịch được cấu tạo nên bằng những mặt đối lập”. Từ đó Xuân Trình đưa ra một luận điểm chống lại “thuyết không xung đột” để mở đường cho sự phát triển của kịch nói Việt Nam: “Muốn miêu tả những vấn đề cốt tủy của đời sống, người viết kịch phải chú ý đến những mặt đối lập về tư tưởng về quan điểm (nhấn mạnh của tôi – PXN) hay tập tục sinh hoạt; người viết kịch phải đề cập đến cuộc đấu trang của cái đúng, cái thiện, với những cái sai trái thậm chí hoặc phản động”.
 
Hãy đặt câu viết này trong thời điểm bài viết “Nâng cao chất văn học của kịch chống Mỹ’ xuất hiện. Khi đó phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đang là thống soái với tư tưởng chủ đạo là mô tả cuộc sống trong sự vận động cách mạng của nó bằng những hình thức của chính đời sống. Khi đó văn học nghệ thuật nước nhà đang vận động theo xu hướng sử thi với cảm hứng chính là ca ngợi, sự phê phán chỉ dành cho kẻ thù, còn không được động đến nội bộ nhân dân, càng không được phê phán, “nói xấu” lãnh đạo, cấp trên. Đến một người táo bạo như Việt Phương trong tập thơ “Cửa mở” (1970) ra đời như một tiếng sét giữa trời quang mà còn viết về địch ta như thế này: “Tất cả những gì xấu xa của tao là thuộc về mày / Tất cả những gì tốt đẹp của mày là thuộc về tao”. Khi đó những từ “mâu thuẫn”, “đối lập” dùng cho cuộc sống chúng ta gần như là kị húy, nói ra đã khó (y như hai tiếng “biểu tình” mới gần đây vẫn gây sợ hãi), huống chi lấy những mâu thuẫn, đối lập của đời sống làm đề tài khai thác trong tác phẩm văn chương nghệ thuật. Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, Xuân Trình đã dám nói điều cần phải nói vì sự phát triển của bộ môn mình theo đuổi, và rộng ra vì sự phát triển của nền văn học nghệ thuật nước nhà. Ông nhắc lại đặc trưng cơ bản, cốt lõi của kịch là đối lập, là mâu thuẫn, chứ không phải là hành động. Ông coi sự đối lập cao nhất trong kịch, sự đối lập làm bật ra được cốt tủy của đời sống, đó là đối lập về tư tưởng. Không viết được sự đối lập về tư tưởng là kịch thất bại. Nhận xét về kịch nói hai năm đầu chống Mỹ ông thẳng thắn chỉ ra một sự thực là nhiều nhà viết kịch đã tránh né những mặt đối lập của đời sống. Còn với mình ông băn khoăn, trăn trở: “Đời sống đã cho tôi những chất liệu vô cùng phong phú và quý giá. Nhưng rồi từ đó cũng mang đến cho tôi những lo lắng viết thế nào đây để những chất liệu kia của đời sống được tái hiện một cách chắt lọc cô đọng và chân thực trong sáng tác của mình”.
 
Những nghĩ suy, trăn trở này của Xuân Trình giúp hiểu được tại sao các vở kịch ông viết ra lại thường bị lao đao, trắc trở. Đấy bởi chính chúng là những tác phẩm có vấn đề. Mấy tiếng “có vấn đề” một thời và cho đến tận thời nay mà truyền miệng thì thào là ám chỉ tác phẩm bị phê phán chỉ trích, bị cấm đoán thu hồi, với sân khấu là bị cấm diễn, khiến tác giả bị lo lắng, sợ hãi. Nhưng các tác phẩm văn học nghệ thuật mà không có vấn đề, không nêu được vấn đề là vứt, là vô giá trị, là chỉ để tiêu khiển, là “xe không tải”. Những tác phẩm kịch của Xuân Trình là có vấn đề bởi chúng đã được ông nung nấu và viết ra bằng sự “đối lập về tư tưởng”. Mà tư tưởng lớn nhất trong kịch của ông là tư tưởng nhân dân và theo ông tất cả những cái đi ngược lại dân, làm hại dân, gây đau khổ mất mát cho dân dù đến từ đâu đều là tư tưởng đối lập cần phải phê phán và chống lại. Trong “Quê hương Việt Nam” (1967) đó là sự đối lập giữa Nguyên một nữ du kích ngoài đảng sẵn sàng xông trận để giữ làng và Tùy một phó chủ tịch xã vin vào trách nhiệm để thoái thác nhiệm vụ. Nhưng trong vở đó còn ẩn một sự đối lập là chiến tranh và cái giá phải trả cho chiến tranh bằng những sinh mạng người dân mà ở vào thời điểm viết ra nó tác giả dễ bị quy là chủ nghĩa nhân đạo chung chung. Trong “Bạch đàn liễu” (1973) sự đối lập được đẩy tới cao hơn, căng thẳng hơn: đảng sai vì dân không dám nói cái sai của đảng, nhưng dân không dám nói cũng là vì đảng chưa làm cho dân tin. Bi kịch của Độ và gia đình anh chính là vì thế. Từ đây Xuân Trình đặt ra vấn đề dân chủ ở địa phương, đặc biệt ở nông thôn: muốn có dân chủ thì lãnh đạo phải để dân nói và biết nghe dân, còn dân thì phải biết tự mình đấu tranh với những sai trái của người lãnh đạo. Ông đã nói ra điều này qua miệng cụ Thảo: 
 
- “Lẽ ra hội đồng phải có nơi có chốn để dân thường xuyên tiếp xúc, đề đạt nguyện vọng khiếu nại, chứ bà bảo dân có muốn nói nữa thì nói vào đâu.”
 
- “Cán bộ cũng là con em mình chứ ai, nhưng lúc có chức có quyền không dễ ai cũng kiềm chế mình được, thấy người ta sai, mình làm ngơ đi một lần, hai lần, rồi họ sinh hư đi vì thế.” 
 
Trước 1975, trong hoàn cảnh ngặt nghèo của chiến tranh, Xuân Trình đã dũng cảm “đối lập”, thì từ khi có đổi mới ông càng quyết liệt “đối lập” hơn. Trong một bài viết bàn về sự đổi mới trong sân khấu, ông lại nói đến hạn chế của sân khấu (và không riêng sân khấu) một thời khi phản ánh hiện thực: “Nhưng thực tế thật trớ trêu, những tác phẩm của ta ngày càng xa rời cuộc sống. Có khi việc phản ánh một chiều, không đếm xỉa đến những mặt đối lập của xã hội vốn ngày càng phát sinh vô vàn mâu thuẫn này (nhấn mạnh của tôi – PXN) khiến tác phẩm không tránh khỏi chết yểu.”  Thời đổi mới đã giúp ông tự tin và yên tâm hơn về cách viết kịch lấy “đối lập về tư tưởng” làm nòng cốt của mình. Điển hình ở đây là vở “Mùa hè ở biển” (1985) với nhân vật trung tâm Đoàn Xoa, một cán bộ trung ương về làng. Có thể gọi Đoàn Xoa là nhân vật đối lập về tư tưởng, một kiểu nhân vật của Xuân Trình, một sáng tạo hình tượng văn học trong kịch về một loại quan chức. Ông ta đối lập với chính mình trong tư tưởng về cái nghĩ là đúng lại hóa sai, cái ngỡ là sai lại thành đúng, về việc ôm ấp những tín điều đã lạc hậu, lỗi thời. Đoàn Xoa không bơi ra được biển lớn của cuộc sống, của con người. Ông ta không hiểu biển là tổng thành của mọi sự đối lập. Biển luôn là bão tố. Ai biết ra biển và chịu được bão tố của biển, người đó mới vững vàng, trưởng thành. Ông ta đối lập với nhân dân, cụ thể từ trong gia đình mình, ở tư tưởng muốn làm tốt, làm lợi cho dân hóa ra lại làm xấu, làm hại. Ông ta không hiểu vì sao mình đấu tranh cho quyền lợi của dân mà dân lại phản đối mình. Nhân vật cụ Bản đã phải nói cho ông ta hiểu:
 
- “Vì dân chúng tôi không cần đến những người để ban phát sự thương hại, mà cần người giúp đỡ mang đến cho họ nhận thức về quyền lực để chính họ được tham gia làm chủ cuộc đời mình.” 
 
Ở đây lại xuất hiện một nhân vật ông lão làng quê. Trong kịch Xuân Trình các ông lão này là người phát ngôn cho tư tưởng dân quê với các cán bộ lãnh đạo. Cụ Bản đã nói với Đoàn Xoa một tư tưởng lớn của nhà viết kịch Xuân Trình: dân phản đối lãnh đạo vì lãnh đạo tước quyền dân. Kết thúc vở kịch là một sự chờ đợi ghê gớm, một sự hồi hộp căng thẳng tột độ. Mọi người chờ nghe chỉ thị của Trung ương! Ai cũng tin chắc đó là chỉ thị cho nông dân làm khoán. Bí thư huyện ủy Dân cũng đã úp mở nói ra điều ấy. Nhưng vẫn cứ là phải chờ trước khi loa phát đi thông báo. Chính tác giả đã ghi chú chỉ dẫn như vậy trong kịch bản: “Một phút yên lặng như để bùng lên một cái gì ghê gớm”. Cái gì ghê gớm ấy là cái gì? Cứ chờ đã, cứ chờ xem! Cái sự chờ ấy chính là kịch tính. Kịch tính của tác phẩm. Kịch tính của cuộc sống. Kịch tính của Xuân Trình – người viết kịch “đối lập về tư tưởng”.
-----------------
(1). Theo sách: Xuân Trình. Tác phẩm chọn lọc, Nxb Sân Khấu, H. 2004, bài “Nâng cao chất lượng văn học của kịch chống Mỹ”,  tr. 1082-1098. Cuối bài này không đề ngày tháng, nhưng căn cứ vào thời gian được nói đến trong bài thì có thể nó được viết vào năm 1966 - 1967.
 
Hà Nội 25.XI.2019
P-X-N
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}