Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Kỳ diệu rau muống

Tùy bút của Vũ Bình Lục | Chủ Nhật, 26/03/2017 23:59 GMT +7

Cây rau muống có mặt trên mặt đất của chúng ta từ bao giờ? Ai dễ biết! Người ta đã đặt cho nó một cái tên khoa học bằng tiếng Tây gì đó. Và nếu tôi không nhầm, thì nhà bác học Lê Quý Đôn, trong cuốn Vân Đài Loại Ngữ, hình như cũng có đôi lời giới thiệu về tổ tông dòng tộc rau muống thì phải! Còn như trong ca dao, trong văn học nghệ thuật nói chung, thì hình ảnh cây rau muống thật gần gũi thân thương. Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta nó lại càng thân thuộc, gần như không thể không có nó trong cuộc sống vui buồn của con người.

Ao rau muống xưa - Ảnh: Việt Long

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương…

Cũng có thể nói không ngoa rằng: Hầu hết người Việt ta, bất luận là gì, cao sang hay hèn mọn, đều có sự gắn bó ít nhiều với rau muống. Vua chúa quan lại ngày xưa, cho dù có đủ cao lương mỹ vị, yến tiệc dài dài chăng nữa, cũng chắc đâu dễ quên cái anh chàng rau muống nhà quê hèn mọn kia được. Rau muống nghiễm nhiên trở thành người bạn đường, người “bạn đời” yêu dấu của người Việt mình. Hơn thế nữa, nó cũng nghiễm nhiên đi vào thơ ca, đi vào nghệ thuât, đi vào văn hoá, bất tử cùng văn hoá, cho dù có thể là bao gồm cả văn hoá ẩm thực đi chăng nữa!

Đã đành rằng anh bạn rau muống quý mến của chúng ta, vốn là người nhà gần gũi của dân quê, của những thân phận nghèo hèn. Nhưng cũng chẳng phải vì thế mà “anh ta” không thi thoảng được làm khách của lớp người cao môn vọng tộc, lầu son gác tía ngày xưa, và ngay cả cái “thời @” này nữa. Biết đâu đấy, vì một lý do vật đổi sao dời nào đó mà người ta bỗng chốc sa cơ lỡ vận, thì rồi cuối cùng cũng lại “về vườn”, tức trở về với cái máng lợn sứt mẻ của mình, lại làm bạn thường nhật thường niên với rau muống chân quê, chứ còn biết nói sao!

Cụ Nguyễn Trãi “ao quan thả gửi hai bè muống”, rồi đến cụ Trạng Trình khi chán cảnh làm quan vào luồn ra cúi, chán cái sự đời “mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi”, chẳng phải cũng đã lui về bầu bạn với cái ao nhà mà ngồi câu cá, mà ngắm mấy chú cá rô don thi thoảng nhảy cỡn lên đớp đớp mấy cái lá non ở bè rau muống đấy ư?

Chỉ nói riêng một điều: Sức sống của anh bạn rau muống quả là bất diệt. Và chính “anh” đã cứu vớt con người trong những lúc nguy nan nhất. Năm 1945, lính Nhật bắt dân Bắc Kỳ nhổ lúa trồng đay, khiến vài triệu nông dân chết đói, nhiều nhất là nông dân Thái Bình, Nam Định, ai mà dễ quên, dẫu rằng đôi khi cũng muốn quên đi những năm tháng đau thương buồn thảm ấy! Cho dù là như thế, trong những tháng ngày đau thương ấy, anh bạn rau muống nhà quê lại chính là vị cứu tinh cho cuộc đời những người nông dân trong cái đận khốn khó khốn khổ tận cùng. Không có gạo ư? Đã có tôi đây (thay lời rau muống) xin được hiến dâng cho người nghèo kẻ đói tất tần tật, từ gốc đến ngọn, cả củ cả rễ, để cứu nguy cứu nạn, giúp bà con vượt qua cơn bĩ cực tội ác diệt chủng của lũ giặc Lùn! Về điểm này, rau muống nhà ta quả xứng đáng được tôn vinh là Đấng cứu thế. 

Nhớ hồi chiến tranh chống xâm lược Mỹ, đúng vào dịp tết năm 1970, chúng tôi, tám chàng lính trẻ vừa tốt nghiệp khoá bồi dưỡng cán bộ chỉ huy trung đội, đại đội đặc công Quân khu V, từ Ba Tơ (Quảng Ngãi) trở về đơn vị cũ (tiểu đoàn đặc công 409 Quân khu V), thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam. Quãng đường không xa, vậy mà chúng tôi phải hành quân ròng rã gần một tháng trời, vượt qua rất nhiều đèo cao suối sâu, nhất là phải vượt qua cái đói. Số gạo, sắn khô và muối mỗi người được cấp chỉ đủ dùng được khoảng hơn một tuần, còn thì tự túc. Một bữa nghe đâu là tết, chẳng ai nhớ là ngày mồng một hay mồng hai tết. Chúng tôi đi qua một vạt sình khá bằng phẳng nằm lọt thỏm giữa rừng già, thi thoảng thấy có mấy ngọn rau muống đang cố ngoi lên, chen chúc luồn lách giữa xanh mướt cỏ hoang. Đoán rằng đây là một vạt ruộng của đồng bào dân tộc thiểu số nào đó, hoặc giả, là đất khai hoang trồng trọt tăng gia của một đơn vị bộ đội nào đó, đã bỏ hoang bỏ hóa lâu ngày. Chúng tôi mừng rỡ ra mặt, như bắt được vàng. Thế là tạm dừng chân. Vả lại, trời cũng đã ngả về chiều. Tất cả chúng tôi đều lội xuống vạt cỏ, nhanh tay nhanh mắt hái những cọng rau muống non tơ trà trộn trong đám cỏ hoang để sắm sửa một bữa tết cho ra trò. “Tổng kho” của đoàn chỉ còn đúng một vài lon gạo đỏ. Và bây giờ có anh bạn rau muống chung vui, thế là thành tết. Một cái tết trong rừng sâu hoang vắng, thật hiếm có trong đời, có thể nói thêm là một đi không trở lại. Ôi chao! Nhìn những cọng rau muống chen vai thích cánh cố vươn lên để tranh lấy sự sống cùng đám cỏ dại mà xao xuyến trong lòng. Rau muống lại một lần nữa cứu chúng tôi, vui tết cùng chúng tôi, những người lính đang đói khát giữa rừng hoang…Hoá ra anh bạn rau muống lại có thể có mặt ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào khi con người gặp khó khăn hoạn nạn. Thế chẳng phải rau muống đã cứu nhân độ thế là gì!

Sau bữa rau cháo ngày tết đặc biệt ấy. chúng tôi, tám chàng sĩ quan đặc công tuổi đời còn rất trẻ, lại phải chiến đấu quyết liệt với chính mình, vượt qua hai lần say nấm độc và sắn độc trong rừng, tưởng không thể lết đi tiếp được nữa. Phần vì kiệt sức rồi. Phần vì suối sâu đèo cao, thác ghềnh hiểm trở, ốm đau dọc đường. Từ Ba Tơ tỉnh Quãng Ngãi, ra huyện Trà Mi của tỉnh Quảng Nam, bây giờ xe bon đường nhựa, chỉ chừng hơn một tiếng đồng hồ, vậy mà chúng tôi phải lần mò đi mất 24 ngày mới về tới đơn vị. Tám anh em, chủ yếu quê ngoài Bắc. Đôn, Vịnh, quê Kiến Xương và tôi quê huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình. Huê, quê Hải Dương. Nguyễn Hữu Sạn quê Tiên Cát Việt Trì…Hầu hết anh em trở về phụ trách trung đội, đại đội, thuộc tiểu đoàn Đặc công 409 anh hùng. Tôi về Ban tham mưu tiểu đoàn. Vậy mà sau chiến tranh, chỉ còn sót anh Nguyễn Hữu Sạn và tôi, đều là thương binh. Các bạn tôi đã lần lượt hy sinh, thân xác đều nằm trong nhiều lớp hàng rào thép gai của địch, bây giờ cũng vô tăm biệt tích, không biết hài cốt ở đâu…

Rau muống là “bài ca” của người lính. Rau muống là tri kỷ của sinh viên. Tôi biết người Hà Nội ta bây giờ chất lượng cuộc sống có phần tăng lên, khá giả hơn trước đây khá nhiều. Một số người giàu có, điều kiện hưởng thụ cuộc sống cao hơn nhiều. Tuy nhiên người nghèo thành thị cũng không phải là ít. Thế nhưng, những người đã từng sống qua cái thời khó khăn, chắc chưa thể quên những bữa ăn hàng ngày của tầng lớp công chức bình dân, hưởng chế độ tem phiếu. Sau khi đã xếp hàng rồng rắn từ sáng sớm, vất vả lắm mới mua được chút thịt lợn theo đẳng cấp C, D, E gì đó của mình, rồi không quên ghé qua mấy chị hàng rau mà mua lấy vài bó rau muống ngoại thành còn xanh mơn mởn. Bữa ăn “ tươi” của gia đình công chức, thường vẫn thấy có đĩa thịt kho kẹo đắng với cùi dừa thắt lát mỏng. Rồi thì lại đĩa rau muống luộc. Nước rau chêm vào mấy quả sấu chua, hoặc vài quả me chua với chút xíu bột ngọt, thế là thành bát canh đạm bạc, thanh tao…Đó chính là nét riêng của Hà Nội ba mươi sáu phố phường những ngày gian khổ mà lạc quan ấy.

Rau muống có những thành phần hoá học gì, giá trị bổ dưỡng và khả năng chữa bệnh ra sao, chuyện này xin nhường cho các nhà nghiên cứu y học. Chỉ biết rằng khi cụ Nguyễn Công Trứ viết “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no”…thì cứ cho là cụ có đùa tếu lên một tý, thi vị quá lên một tý. Nhưng nếu như quý vị hàn Nho không gạo nấu cơm, cứ “giã” đều đều ngày ba bữa rau, nếu không phải là rao muống, thì đố có cái hầu bao nào chịu nổi. Xem thế, đủ biết anh bạn rau muống của chúng ta thật là quý hoá làm sao! Tôi chỉ muốn nói thêm rằng: Rau muống, và sự hấp dẫn bền bỉ của nó, đã góp phần không nhỏ trong đời sống văn hoá ẩm thực muôn màu.

Rau muống đi với con người trong suốt hành trình gian nan tới bến bờ hạnh phúc. Khi nước cạn, rau muống bủa rễ bám sâu vào đất, chắt chiu bền bỉ sinh tồn. Chả thế mà Nguyễn Trãi từng viết: “Ao cạn vớt bèo cấy muống”. Lại đến khi nước lũ, bão giông, rau muống bứt lên kết thành bè mảng, anh dũng vô cùng, hình như không bao giờ chịu chết. Thân thể anh ta mới tuyệt vời làm sao, sẵn sàng từ mặt đất mà vươn cao, dâng lên cùng nước lớn nước cường, lại cũng sẵn sàng ngả ngón mà sống chung với lũ trong những hoàn cảnh bất thường. Thân mềm mà tiết cứng, thì hoạ chăng chỉ có cái anh chàng rau muống này thôi. Vậy nên, cũng vì “anh chàng” rau muống cao cả kia mà cao hứng ca rằng: “Trải bao gió dập sóng dồi / làm thân rau muống đứng ngồi sợ chi”!

Rau muống trường tồn với con người. Và cùng với cây lúa nhiệt đới, chẳng phải rau muống cũng đã góp phần làm nên nền văn minh độc đáo của người Việt ta, nền văn minh sông nước đấy ư? Và cũng có thể nói không ngoa rằng, họ hàng nhà rau muống có thể tự làm nên một vẻ đẹp riêng, một bản sắc văn hoá riêng, chẳng lẫn với ai!

Thế mà ngày nay, anh bạn rau muống chân quê dịu hiền cần mẫn của chúng ta, lại được người ta vỗ béo, tắm rửa thơm tho, rồi đội nón lên tàu đi đến tận trời Tây, ví như nàng Chiêu Quân đi cống Hồ trong chuyện cũ, chẳng ngậm ngùi lắm sao? Dẫu thế nào thì “thời đã thế, thế thời phải thế”. Khen chê mặc lòng, nhưng tôi cũng muốn vì anh bạn rau muống thuỷ chung mà ca rằng: Kỳ diệu thay, rau muống!

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}