Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Lê Ngọc Hân – Nàng công chúa được nhiều người mến mộ trong lịch sử phong kiến Việt Nam

Vương Quốc Hoa | Thứ Năm, 29/12/2016 21:45 GMT +7

Toàn bộ bài Ai Tư Vãn bao gồm 164 câu đầm đìa nước mắt: “Chữ tình nghĩa trời cao đất rộng/Nỗi đoạn trường còn sống còn đau”.  Ngoài bài Ai Tư Vãn, Lê Ngọc Hân còn có bài Văn tế Hoàng đế Quang Trung, bài Văn tế lại đậm tính chất bác học, có phần khác so với bài Ai Tư Vãn.

Lê Ngọc Hân sinh năm Canh Dần 1770, thân sinh là vua Lê Hiển Tông (1716 – 1786), thân mẫu là bà Nguyễn Thị Huyền, người làng Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (ngày nay thuộc Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Lê Ngọc Hân chính là công chúa,là  con gái út của vua Lê Hiển Tông.

Từ nhỏ Lê Ngọc Hân sống trong cung nhà Lê, được rèn cặp kinh sử, tập tành thơ văn, lớn lên nàng rất thông minh và xinh đẹp, nhan sắc nàng tuyệt vời, mà nói năng thì nết na, nên nàng đặc biệt được vua cha yêu mến. Nhà vua đã có lần nói: “Con gái này, ngày sau phải gả chồng làm bà vương phi mới xứng, chứ không thể gả cho bọn phò mã tầm thường được”.

Năm Bính Ngọ 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ (1753 – 1792), kéo quân ra Bắc với danh nghĩa “phò Lê diệt Trịnh”. Vua Lê Hiển Tông đã phải ban thưởng cho Nguyễn Huệ chức Nguyên Súy, tước Uy Quốc Công, là chức tước cao bậc nhất trong triều. Vua Lê Hiển Tông lúc đó đã 70 tuổi, nhà vua tìm cách lôi kéo Nguyễn Huệ để tìm chỗ dựa vững chắc về sau. Ý định của nhà vua được các quan ở Viện Cơ Mật nhất trí, họ bàn nên kết thân gia với Nguyễn Huệ, bằng cách gả công chúa cho Nguyễn Huệ.

Lúc bấy giờ vua Lê Hiển Tông vẫn còn 6 nàng công chúa chưa có chồng, trong số đó, thì Lê Ngọc Hân là công chúa út, nhan sắc kiều diễm nhất, nên nàng được chọn để gả cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Đúng ngày lành tháng tốt, ngày 8 – 3 – 1786, hôn lễ đã diễn ra, hôm làm lễ yết các vị Tiên đế ở nhà Thái Miếu, Nguyễn Huệ và công chúa Lê Ngọc Hân gióng kiệu cùng đi, lễ xong lại gióng kiệu cùng về, ngay sau đó Nguyễn Huệ kéo quân và đưa nàng về Nam.

Khi Nguyễn Huệ kéo quân về Nam, thì vua Lê Hiển Tông cũng mất, hưởng thọ được 70 tuổi, chấu đích tôn của vua Lê Hiển Tông là Lê Duy Kỳ (tự Lê Duy Khiêm) lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Chiêu Thống. Nhưng lúc bấy giờ tình hình Bắc Hà rối loạn, cuối cùng vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh. Ngày 22 – 12 năm Mậu Thân 1788, Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang, lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân (Huế), lấy niên hiệu là Quang Trung.

Sau khi lên làm Hoàng đế, Quang Trung phong cho Lê Ngọc Hân làm Bắc cung Hoàng hậu (sau chính cung Hoàng hậu họ Phạm – mẹ vua Quang Toản sau này). Đầu năm Kỷ Dậu 1789, sau khi đại thắng 29 vạn quân nhà Thanh, Hoàng đế Quang Trung đã vội vả cho người đem đào Nhật Tân vào tận kinh đô Phú Xuân  để tặng cho Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân.

Lê Ngọc Hân sống với Hoàng đế Quang Trung được 6 năm, sinh hạ được hai người con là hoàng tử Nguyễn Văn Đức, và công chúa Lê Thị Ngọc. Ngày 17 – 9 năm Nhâm Tý 1792, Hoàng đế Quang Trung đột ngột băng hà, hưởng dương được 39 tuổi, lúc đó Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân mới được 22 tuổi. Trước cái chết đột ngột của Hoàng đế Quang Trung, Lê Ngọc Hân đau xé lòng, nàng khóc chồng bằng bài Văn tế và một khúc ngâm gọi là Ai Tư Vãn, Ai Tư Vãn nhắc lại mối lương duyên giữa Hoàng đế Quang Trung với công chúa Lê Ngọc Hân, Nguyễn Huệ ra Bắc với lý do “tôn phù” nhà Lê, Ngọc Hân vâng mệnh phụ hoàng, lấy Nguyễn Huệ. Theo lời văn, Nguyễn Huệ dường như vì “thương hoa” mà “đoái cội” đối xử tốt với tôn thất nhà Lê. Những tưởng cuộc tình “trăm năm” còn dài, nào ngờ “lòng trời tráo trở, vận người biệt ly”, Hoàng đế Quang Trung lâm bệnh nặng, chạy chữa không khỏi và qua đời, Lê Ngọc Hân buồn đến nỗi lắm lúc muốn chết theo chồng, nhưng phải gắng gượng vì các con nhỏ dại. Nỗi đau của người vợ mất chồng, mà tác phẩm diễn tả cũng có thể xem như nỗi đau của thần dân mất một vị vua tôn kính. Giọng văn não nùng thống thiết, lời văn đẹp đẽ sang trọng.

Ai Tư Vãn đã tô điểm cho Hoàng đế Quang Trung rất nhiều, hướng người đọc vào sự ngưỡng mộ đối với công tích của Hoàng đế Quang Trung và vương triều nhà Tây Sơn. Ai Tư Vãn chịu ảnh hưởng đáng kể của Chinh Phụ Ngâm, và Cung Óan Ngâm Khúc, nhưng Ai Tư Vãn vẫn có sắc thái riêng, bởi tính chất ai điếu sâu đậm của nó. Ai Tư Vãn giản dị, mực thước, tuy vẫn sử dụng hệ thống ước lệ tượng trưng và từ chương của Hán học. Toàn bộ bài Ai Tư Vãn bao gồm 164 câu đầm đìa nước mắt: “Chữ tình nghĩa trời cao đất rộng/Nỗi đoạn trường còn sống còn đau”.  Ngoài bài Ai Tư Vãn, Lê Ngọc Hân còn có bài Văn tế Hoàng đế Quang Trung, bài Văn tế lại nặng tính chất bác học, có phần khác so với bài Ai Tư Vãn.

Hoàng đế Quang Trung mất, Quang Toản lên nối ngôi, nội bộ triều đình nhà Tây Sơn lục đục, suy yếu dần, lúc bấy giờ lực lượng của Nguyễn Ánh ngày càng lớn mạnh, đem quân đánh nhà Tây Sơn, nhà Tây Sơn liên tiếp bị thua. Lê Ngọc Hân và hai con phải đổi danh tính, sống lẩn lút trong dân chúng thuộc trấn Quảng Nam, nhưng chẳng bao lâu thì bị phát hiện và bị bắt, chứng kiến cái chết bị thắt cổ của hai con, Lê Ngọc Hân uống thuốc độc tự tử, bảo tồn tiết hạnh để không rơi vào tay của quân Nguyễn Ánh, sự kiện trên diễn ra vào năm Kỷ Mùi 1799, Lê Ngọc Hân mất, hưởng dương được 29 tuổi.

Bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền là thân mẫu của Lê Ngọc Hân, lúc đó đang sống ở quê Phù Ninh (tục gọi là làng Nành, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) nghe tin cái chết thê thảm của con gái Lê Ngọc Hân và hai cháu ngoại là Nguyễn Văn Đức và Lê THị Ngọc, bà liền thuê người vào trấn Quảng Nam, lấy trộm xác của Lê Ngọc Hân và hai cháu ngoại đem về mai táng tại làng Nành, rồi cho dựng miếu thờ, miếu hiệu là Bà Chúa Tiên. Vua Quang Toản truy tôn là Như Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu.

Về sau này  đến đời Vua Thiệu Trị (1807 – 1847), ở làng Nành có một ông Tú nhớ công lao của bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, nên đã quyên tiền tu tạo lại ngôi miếu của con gái bà là công chúa Lê Ngọc Hân, không ngờ có tên Phó tổng cùng làng, vì mối thù riêng với ông Tú, đã mật báo với chính quyền trung ương về việc thờ “Ngụy Huệ”. Vua Thiệu Trị bèn cho quật phá ngôi miếu, quật mộ Lê Ngọc Hân, ném hài cốt xuống sông, còn về phần ông Tú cũng bị xử tử. Nhưng sau sự việc trên, dân làng Nành vẫn lập đền thờ nàng công chúa Lê Ngọc Hân. Phẩm hạnh của Lê Ngọc Hân xứng đáng được người đời kính trọng, quý mến và tôn thờ qua tục gọi “Bà Chúa tiên”.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}