Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Lên đồng xuyên quốc gia: Những thay đổi trong thực hành nghi lễ đạo mẫu ở California và vùng Kinh Bắc

Nguyễn Thị Hiền - Karen Fjelstad (*) | Thứ Tư, 13/01/2021 22:20 GMT +7

Lời của người sưu tầm: Xin giới thiệu với độc giả bài viết "Lên đồng xuyên quốc gia: Những thay đổi trong thực hành nghi lễ đạo mẫu ở California và vùng Kinh Bắc" in trong sách "Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay" - Nhiều tác giả, Nxb Thế giới, Hà Nội 2008. Vì để dễ dàng cho người đọc nên người sưu tầm Phạm Tứ xin phép lược bỏ phần chú thích, sách báo tham khảo và phần mở đầu bằng tiếng Anh. Chân thành cảm ơn và xin lỗi các tác giả. Trân trọng!

Dẫn nhập

Nằm tại một làng văn hóa vùng Kinh Bắc, khu nhà ở kết hợp với một khối kiến trúc khép kín 3 tầng làm điện thờ, lầu cô, lầu chúa, ban Sơn Trang đang sắp được hoàn thành.

Chủ nhà của khối kiến trúc này là thầy Nghĩa (1), một đồng thầy nam, mà con nhang đệ tử thường gọi là “Cô”.

Nhiều khi tôi gọi điện thoại cho thầy, biết là một đồng thầy trông rất “nam tính” nhưng đôi khi vẫn nhầm tưởng là giọng một phụ nữ đang nói chuyện. Thầy rất tự hào về phong cách hầu đồng của mình (đứng hang đầu ở vùng Kinh Bắc), biết xem bói, tiên đoán số phận, điều may mắn bất hạnh của cuộc đời con người.

Thầy rất có uy tín đối với người dân trong vùng làm các lễ như “Di cung hoán số”, “Cắt giải tiền duyên” với niềm mong mỏi “thay đổi thân phận và có cuộc sống tốt hơn”.

Cơ ngơi và vị thế của thầy vượt lên “hàng ngôi thứ” trong vùng là do có cuộc hội ngộ giữa thầy và một nhóm ông đồng, bà đồng Việt Kiều (2) ở thành phố San Jose, California, Hoa Kỳ.

Nhờ chính sách đổi mới trong quan hệ ngoại giao giữa hai chính phủ, Pháp lệnh mới về tự do tôn giáo, tín ngưỡng, cùng với sự giúp đỡ kết nối của hai tác giả mà đồng Nghĩa trở thành một đồng thầy xuyên quốc gia, không phải chỉ ở vùng Kinh Bắc mà còn làm lễ, hướng dẫn Lên đồng cho một số ông đồng, bà đồng ở Hoa Kỳ.

Những người Việt Kiều này trở về miền Bắc Việt Nam với mục đích cơ bản là trở về với cội nguồn, nơi sinh ra Đạo Mẫu và Lên đồng để được hầu ở “đền to phủ lớn”, đền thờ chính thờ các vị Thánh của tín ngưỡng, đồng thời học hỏi thêm kinh nghiệm Lên đồng và làm các nghi lễ liên quan từ một đồng thầy.

Bài viết đề cập đến những tiếp xúc, trao đổi, những chuyến trở về quê hương đất nước tạo nên mối quan hệ khăng khít của nhóm người Việt Kiều với đồng thầy ở Kinh Bắc, từ đó dẫn đến những thay đổi trong nghi lễ và vị thế của họ trong cộng đồng.

Bài viết phân tích tác động của vấn đề xuyên quốc gia khiến cho nghi lễ Lên đồng và tín ngưỡng Đạo Mẫu thay đổi.

Qua những lý giải này, bài viết sẽ làm rõ tầm quan trọng của vấn đề tâm linh trong việc tạo nên một cồng đồng xuyên quốc gia.

Để có thể tiếp cận vấn đề đã nêu, bài viết sử dụng phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu những ông đồng, bà đồng ở San Jose và vùng Kinh Bắc.

Hai tác giả đã có nhiều năm làm nghiên cứu về Đạo Mẫu và Lên đồng.

Karen Fjelstad đã hơn 15 năm tìm hiểu về Lên đồng và Đạo Mẫu ở California. Gần đây chị đi cùng với ông đồng, bà đồng Việt Kiều về Việt Nam, quan sát các buổi Lên đồng cũng như tìm hiểu quan điểm của họ khi thực hành nghi lễ tại qhê hương của tín ngưỡng này.

Nguyễn Thị Hiền cũng có nhiều năm làm nghiên cứu về Đạo Mẫu và Lên đồng ở Hà Nội và vùng châu thổ sông Hồng, đồng thời đã nghiên cứu thực tế ở thành phố San Jose năm 2003-2004.

Hai tác giả kết hợp tư liệu điền dã, kiến thức tích lũy trong nhiều năm làm nghiên cứu với phương pháp luận trong nghiên cứu văn hóa dân gian và nhân học làm rõ sự thay đổi của tín ngưỡng đạo Mẫu, Lên đồng của những người thực hành nghi lễ ở hai quốc gia cách nhau nửa bán cầu.

Mối quan hệ phát sinh và phát triển giữa hai nhóm người ở San Jose, Kinh Bắc là do những ông đồng, bà đồng ở San Jose có nhu cầu mở khóa lễ đồng bói (hay còn gọi là đồng quạt) tại đền Nguyệt Hồ ở Bắc Giang, thờ các bà chúa bói.

Theo tín ngưỡng dân gian, những đệ tử được “ăn lộc” của các Bà Chúa Bói ở đền có thể xem bói và chữa bệnh. Trong chuyến về đầu tiên của một nhóm bà đồng Việt Kiều ở San Jose vào năm 2005, có 03 bà đồng đã mở đồng quạt, tiếp theo đó có thêm nhiều lễ Lên đồng của họ ở Việt Nam.

Hầu như các buổi Lên đồng có thể nói là thành công và đem lại niềm phấn khởi cho những Việt Kiều, trừ một trường hợp bà đồng phàn nàn về chuyện đồng thầy không phân biệt rõ giữa các Lễ Lên đồng, chẳng hạn lễ “mở đồng quạt” và “Lễ tạ”.

Cuộc gặp mặt và những buổi Lên đồng xuyên quốc gia giữa hai nhóm ông đồng, bà đồng dẫn đến những thay đổi quan trọng trong mối quan hệ, ứng xử và trong thực hành nghi lễ của đạo Mẫu.

Những thập kỷ trước đã chứng kiến sự nở rộ của việc nghiên cứu di dân và những vấn đề mang tính xuyên quốc gia. Nghiên cứu tập trung vào những đợt di cư lớn trên toàn cầu, trong đó những nhận định của các nhà nghiên cứu về bản chất của di cư đã thay đổi, phân tích sâu về mối quan hệ mà những người di cư duy trì với đất nước quê hương của họ (Brettel, 2003; Glick-Schiller, 1999).

Mặc dù không phải là mới, vấn đề xuyên quốc gia càng ngày càng được quan tâm do nhiều yếu tố tác động trực tiếp vào người di cư, như chính sách mở của các nước đối với cộng đồng sống xa xứ, công nghệ thông tin phát triển giúp cho việc duy trì mối quan hệ với quê hương được dễ dàng và do xu hướng toàn cầu hóa trong nền kinh tế (Kearney, 1995; Levitt, 2001; Warner, 1998).

Những người định cư ở nước ngoài ngày càng gắn bó và duy trì mối quan hệ với người thân, tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tôn giáo ở đất nước quê hương (Brettell, 2003: 54). Dù sao, các nghiên cứu tập trung vào kiều dân, vấn đề xuyên quốc gia, nhưng chưa bao giờ di cư ra nước ngoài (Levitt, 2001; Kennedy và Roudometof, 2002). Vì vậy, trong bài viết này vấn đề xuyên quốc gia, sự trở về quê hương đất nước của nhóm bà đồng, ông đồng Việt Kiều ở California không chỉ dẫn đến sự thay đổi rất lớn đối với chính bản thân họ, với nghi lễ Lên đồng, mà còn có tác động mạnh mẽ vào thầy Nghĩa vùng Kinh Bắc, chưa bao giờ ra khỏi biên giới Việt Nam.

Nghiên cứu về tôn giáo, di dân xuyên quốc gia tập trung vào một số lĩnh vực như bản chất của tôn giáo theo người di cư, vấn đề tôn giáo hội nhập và tiếp thu ở nơi cư trú mới (War và Wittner, 1998).

Gần đây, một số nhà nghiên cứu xem xét vấn đề tôn giáo tín ngưỡng trong quá trình trao đổi qua lại giữa những người di cư sang nước khác và những người ở đất nước quê hương và sự thỏa hiệp về sự khác nhau mang tính quyền lực trong các nhóm mang tính xuyên quốc gia (Brettell, 2003; Levitt, 2001; Vasquez và Marquardt, 2003).

Bài viết khám phá một vấn đề rất mới là những chuyến trở về cội nguồn của tôn giáo tín ngưỡng tại mảnh đất quê hương tạo ra một sự thay đổi mạnh mẽ trong thực hành nghi lễ và vị thế của nhóm người xuyên quốc gia trong cộng đồng của họ.

Nhưng có lẽ để hình thành sự trao đổi xuyên quốc gia và có những chuyến trở về để Lên đồng ở Việt Nam của Việt Kiều, trước hết phải đề cập đến sự thay đổi trong chính sách Mở cửa của chính phủ Việt Nam và sự hồi sinh và phát triển nở rộ của nghi lễ Đạo Mẫu trong bối cảnh kinh tế thị trường.

Hồi sinh và phát triển của Đạo Mẫu

Đạo Mẫu được nhiều nhà nghiên cứu nhận định là một tôn giáo bản địa của Việt Nam, thực chất là một tôn giáo hỗn dung bao gồm tín ngưỡng dân gian, yếu tố của tôn giáo thế giới như Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo.

Đạo Mẫu nảy sinh và phát triển trong bối cảnh lịch sử văn hóa Việt Nam, chấp nhận nhiều yếu tố dân gian và ngoại lai trong suốt quá trình hình thành.

Số lượng các vị Thánh trong Đạo Mẫu không cố định, tính cả các vị Thánh có ban thờ và tượng thờ, lẫn vị Thánh không hiện hữu trong điện thờ thì có khoảng 70 vị, thuộc các hàng Mẫu, đức Vua Cha, Nhà Trần, Quan, Chúa Bà, Chầu, Ông Hoàng, Cô, Cậu, Quan ngũ Hổ và Quan Xà. Ngoài ra, trong điện thờ còn có Phật Bà Quan Âm, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Người Việt chấp nhận những vị thần mới trong điện thờ, có thể là các nhân vật trong thần tích và anh hùng dân tộc, điển hình là Trần Hưng Đạo, một vị tướng đánh đuổi quân Nguyên Mông vào cuối thế kỷ XIII.

Vị Thánh mới nhất có mặt trong một số điện thờ Mẫu là Hồ Chí Minh, tượng của Ngài đặt ở ban Công đồng hoặc một ban thờ riêng (3).

Mặc dù có sự khác trong trong các vùng miền, ở các cộng đồng trong và ngoài nước về điện thờ và trong các lễ Lên đồng, có một số vị Thánh nhất định giáng hoặc nhập Hầu đồng diễn ra rất sinh động với các trang phục truyền thống cho các “giá đồng” từ hàng Mẫu đến hàng Cậu, ông đồng, bà đồng khi nhập đồng nhảy múa, nghe Chầu văn, ban tài phát lộc, chứng sớ, chứng lễ cho các “con nhang đệ tử”.

Những người đến dự cầu Thần Thánh phù hộ, cầu sức khỏe, cầu đường công danh, sự nghiệp, cầu làm ăn, cầu chuyện học hành của các con, trai thanh gái tú cầu duyên số.

Tất cả khách dự đều được nhận lộc do các người hầu ban phát và họ ra về với một túi lộc và ít tiền lộc.

Ông đồng, bà đồng có căn số phải ra hầu đồng, có thể họ nằm mơ gặp rắn, gặp các vị quan, các cô, hoặc có thể họ bị ốm mà không rõ nguyên nhân. Nếu họ tự cho rằng, hoặc một ông thầy cúng, thầy đồng phán họ có căn số, thì họ phải ra “trình đồng mở phủ”. Nếu không, họ có thể bị “Thánh phạt”, sẽ bị ốm đau, làm ăn lụi bại.

Một số khác tuy không cho là có căn số, nhưng cũng “ra đồng mở phủ” để cho “mát mẻ”, làm ăn phát đạt. Khi trở thành “con nhà Thánh”, họ phải hầu Thánh ít nhất một năm hai lần (ở San Jose, ít nhất là một lần), thường xuyên tham dự những buổi Lên đồng khác, đi lễ ở đền to phủ lớn, đền thờ chính của các vị Thánh.

Theo họ, nếu không hoàn thành nghĩa vụ của con cái nhà Thánh, họ có thể bị ốm, gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Mặc dù, họ đặt niềm tin vào việc hầu Thánh đề được các Thánh che chở và phù hộ, nhưng nhiều người phải cân nhắc kỹ lưỡng khi “ra đồng mở phủ” vì phải cống hiến thời gian, tiền của cho các buổi Lên đồng và đi lễ ở các đền, các phủ.

Từ những năm 1990, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới trong kinh tế, cởi mở hơn với những nghi lễ tôn giáo, khuyến khích Việt Kiều trở về đóng góp cho quê hương (4).

Chính sách Đổi mới cũng dẫn tới sự trỗi dậy của nhiều hình thức nghi lễ, lễ hội, tôn tạo đền chùa, miếu mạo, và nhiều hình thức kinh doanh nhỏ phục vụ cho nghi lễ (Fjelstad, 2006; Nguyễn Thị Hiền, 2006; Lương Văn Hy, 1993; Malarney, 2002; Taylor, 2004).

Đổi mới dẫn tới sự hồi sinh và phát triển của nghi lễ Lên đồng không chỉ ở trong nước mà còn ở các cộng đồng Việt Kiều ở nước ngoài.

Có một số nguyên nhân dẫn tới sự hồi sinh và phát triển của một số nghi thức truyền thống mà trước đây cho là mê tín dị đoan. Trước hết, đó là chính sách mở cửa kinh tế của chính phủ Việt Nam khiến người dân có nhiều quyền tự do hơn trong một số lĩnh vực kinh tế, xã hội, tôn giáo.

Trước khi có Đổi mới, trong một số văn bản về tôn giáo tín ngưỡng của nhà nước, có sự phân biệt giữa tín ngưỡng dân gian như xem bói, gọi hồn, Lên đồng, bùa chú, các lễ cúng với tôn giáo thế giới như đạo Phật, Công giáo, đạo Hồi v.v…. (Norton, 2000; Nguyễn Thị Hiền, 2006).

Chính sách Đổi mới đã làm thay đổi dần dần trong quan điểm chính thống về tín ngưỡng dân gian đã từng bị coi là mê tín dị đoan.

Sự chuyển biến này một phần là do kết quả nghiên cứu của một số chuyên gia về tôn giáo tín ngưỡng, cho rằng nhiều hình thức nghi lễ thuộc lĩnh vực tự do tín ngưỡng của quần chúng nhân dân và họ có quyền được thực hành nghi lễ.

Chẳng hạn, có học giả nhận định tín ngưỡng thờ Mẫu phản ánh chế độ mẫu hệ cổ xưa, một hình thức tôn thờ Nữ thần (Ngô Đức Thịnh, 2006).

Ngay những ông đồng, bà đồng đấu tranh cho quyền thực hành nghi lễ của mình, lý luận rằng nghi lễ Lên đồng, thờ Mẫu, thờ Thánh cũng tương tự hình thức thờ cúng Tổ tiên, các vị Anh hùng ân tộc, tôn trọng và cầu khấn những người thuộc thế giới bên kia, đấng siêu nhân. Không những vậy, họ còn đấu tranh cho đạo Mẫu, Lên đồng có tổ chức, đoàn thể để điều phối các hoạt động tín ngưỡng và có thể chế.

Bên cạnh tín ngưỡng đạo Mẫu, hiện tượng gọi hồn, tìm mộ của các nhà ngoại cảm giúp người thân tìm hài cốt của người quá cố trong gia đình và của liệt sĩ nổi cộm trong xã hội và cuộc sống của Việt Nam trong suốt hơn một phần tư thế kỷ qua đến nay khiến cho người nhà khoa học phải đặt lại câu hỏi về tính biện chứng của nó.

Nhiều vấn đề tâm linh vượt ra khỏi phạm vi kiểm chứng của khoa học đang đòi hỏi cần xem xét, lý giải lại.

Một thay đổi mang tính bước ngoặt của chính sách nhà nước đối với các hiện tượng tín ngưỡng là sự công nhận chính thức thờ cúng Thần Thánh nói chung, không phân biệt với việc tôn kính các vị anh hùng dân tộc và thực hành tín ngưỡng trong đối trọng với các tôn giáo chính thống.

Đó là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQG11, ngày 18/6 năm 2004 và có hiệu lực ngày 15 tháng 11 năm 1004.

Hồi sinh và phát triển của hiện tượng Lên đồng là chủ đề được các nhà nghiên cứu quan tâm trong hai thập kỷ qua. Các công trình nghiên cứu phân tích không chỉ vấn đề truyền thống, văn hóa của khía cạnh Đạo Mẫu và Lên đồng, mà còn tìm hiểu số phận và hoàn cảnh phải “ra đồng” của những người có căn số, cơ đẩy ở nông thôn và thành thị.

Tầng lớp thương nhân và doanh nhân trong thời kỳ Đổi mới kéo theo sự lớn mạnh của nghi lễ Lên đồng do nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh cao và khốc liệt khiến cho họ tìm đến vấn đề tâm linh để cầu thành phù hộ và giúp đỡ (Enderes, 2001 và 2006; Fjelstad, 2005; Lương Văn Hy, 1993; Malarney, 2002; Nguyễn Thị Hiền, 2002; Norton, 2002 và 2006; Taylor, 2004).

Đa số các học giả đều cho rằng Lên đồng càng ngày càng trở nên phổ biến ở các thành phố, đặc biệt ở Hà Nội. Nhưng một số nhà nghiên cứu lại đặt vấn đề liệu: Lên đồng thực tế phát triển mạnh hay chẳng qua là bây giờ dễ dàng nhận thấy chứ không phải hầu vụng trộm như trước đây? (Taylor, 2004).

Sự khác nhau cơ bản giữa thời kỳ trước và sau Đổi mới không hẳn là vấn đề liên quan đến lĩnh vực tâm linh thời kỳ kinh tế mở cửa, mà đơn giản là người dân được tự do thực hành các nghi lễ tôn giáo hơn.

Một điều không thể không nhắc đến ở đây là khi người dân có kinh tế hơn, thì họ có tiền tổ chức nghi lễ và cúng bái (Fjelstad, 2006). Càng ngày càng thấy nhiều người “ra đồng mở phủ”, kể cả Việt Kiều cho thấy sự phát triển về chiều sâu và phổ biến của nghi lễ Lên đồng và cầu cúng ở điện thờ Mẫu sau “hàng thập kỷ ngự trị của hệ tư tưởng trần tục, vô thần” (Phan Đăng Nhật và Salemink, 2004: 11)

Các buổi Lên đồng được tổ chức trong điện thờ Đạo Mẫu trên khắp các vùng miền ở Việt Nam và trong cộng đồng Việt Kiều ở nước ngoài, như ở Hoa Kỳ, Canadda, Úc, Pháp, Bỉ, Đức, Nga, Ba Lan, Trung Quốc, v.v...

Lên đồng được những người nhập cư ở Hoa Kỳ hầu vào những năm 1960 và sau đó càng có nhiều người Lên đồng sau những đợt di tản từ năm 1975. Một số ông đồng, bà đồng không nghĩ là họ có thể Lên đồng ở nước ngoài và khi họ sang Hoa Kỳ đã để lại khăn áo và đồ lễ ở Việt Nam (Fjelstad, 2006).

Dù sao, nhiều ông đồng, bà đồng cần có điện thờ để hầu Mẫu và các vị Thánh, một phần vì họ đã “trình đồng mở phủ”, phần khác một số người rời đất nước cũng đã hứa với các ngài là sẽ hầu Thánh khi ổn định ở vùng đất mới.

Do nhu cầu cần thiết này, ở San Jose một người Việt Kiều cùng với chồng lập đền vào giữa năm 80 của thế kỳ XX (Fjelstad, 2006). Điện thờ đầu tiên này được xây dựng với những đồ thờ cùng có thể mua được ở Hoa Kỳ và đặt trong một gian nhà. Sau khi “ngôi đền” đầu tiên được thành lập, những ngôi đền khác lần lượt ra đời, cho đến nay có khoảng mười ngôi đền ở San Jose và mỗi đền có khoảng từ năm đến tám ông đồng, bà đồng theo, chưa kể các “con nhang đệ tử” và những người thường xuyên đến dự lễ Lên đồng, tạo thành những phe cánh xung quanh người đồng đền.

Ở Việt Nam, ngoài những điện thờ chính của các vị Thánh được xây dựng từ thế kỷ XIX, những điện thờ tư gia ngày càng nhiều. Mỗi một ông đồng, bà đồng khi có điều kiện, có đủ kinh nghiệm trong việc hầu Thánh, và “có số” phải lập đền thờ thì đều muốn xây dựng một điện thờ riêng, không chung với đồng khác. Họ có thể hầu đồng ở các điện thờ chính, đặc biệt vào dịp lễ Thánh, còn lại hầu tại điện tư gia.

Còn ở San Jose, một nhóm ông đồng, bà đồng chung nhau thiết lập nên một điện thờ cùng nhau trông nom, thờ tự và là nơi hầu của nhóm. Nhưng xu hướng tách khỏi điện thờ chung và dần dần xây dựng riêng rất phổ biến. Ba năm vừa qua, chúng tôi đã chứng kiến một nhóm nhỏ bốn ông đồng, bà đồng đã có ba lần tách điện thờ.

Ngoài sự bất đồng trong nhóm về việc tân trang, quy mô và sang sửa ngôi đền chung, nguyên nhân tách riêng lập đền thờ mới là thiên hướng muốn sở hữu riêng một ngôi đền cho riêng mình để thờ Thánh. Vậy, việc tách điện thờ và xu hướng có điện thờ riêng dẫn đến sự phát triển nhanh về số lượng điện thờ ở San Jose, đồng thời khiến cho việc thờ Mẫu và Lên đồng trở nên sôi động trong cộng đồng Việt Kiều.

Từ thời kỳ Đổi mới, nhất là từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam thiết lập lại quan hệ ngoại giao, càng ngày có nhiều người Việt Kiều trở về Việt Nam hầu đồng. Một số người nói rằng, họ muốn về Việt Nam vì là nơi sinh ra đạo Mẫu, một số khác muốn hầu đồng ở điện thờ chính của các Thánh, có đầy đủ đồ vàng mà mà không thể mua được ở Hoa Kỳ (Fjelstad, 2006). Không kể đến số điện thờ và số người mở phủ trình đồng ở San Jose ngày càng nhiều, Lên đồng đã thu hút những người nước ngoài, như người gốc Hoa và gốc châu Âu song ở Hoa Kỳ theo hầu.

Gần đây nhất có một phụ nữ gốc Thụy Điển lai Đức sống ở San Jose làm lễ đội bát nhang và có kế hoạch đến thầy Nghĩa ở Kinh Bắc cùng với nhóm ông đồng, bà đồng mà chúng tôi làm nghiên cứu để mở phủ.

Tiếp xúc và trở về

Mối quan hệ giữa người miền Bắc và Việt Kiều gốc người miền Nam, những người cộng sản và những người tỵ nạn rất phức tạp, khó tách bạch và hiểu chi li về các vấn đề chính trị, quan điểm, thái độ. Thái độ ứng xử với nhau phụ thuộc rất nhiều vào nhãn quan, tính cách, thế hệ trẻ sinh tại Hoa Kỳ, thế hệ có nhiều trải nghiệm trong cuộc chiến đẫm máu, sự mất mát và nỗi niềm trăn trở của người ra đi sống ở nơi đất khách quê người.

Trong mối quan hệ đa chiều và bị tác động bởi nhiều yếu tố, hoàn cảnh, thân phận này, ngoài yếu tố quê hương và mối quan hệ họ hàng, một trong những cách để người miền Bắc và người Việt Kiều gốc miền Nam có thể hiểu và quan hệ thân mật với nhau nhằm cùng tạo dựng một mối quan hệ mới đã bị đứt quãng trong quá khứ đau buồn là họ cùng chung một tôn giáo, cùng thực hành một nghi lễ tín ngưỡng. Và quan trọng hơn là họ cùng chia sẻ những nét văn hóa mang đậm bản sắc Việt Nam.

Năm 1996, khi tác giả, một nghiên cứu sinh ở miền Bắc đi du học ở Hoa Kỳ, đã được người thân và bạn bè kể nhiều chuyện về sự căng thẳng giữa người miền Bắc và Việt Kiều, đặc biệt ở tiểu bang California có nhiều người có thái độ cực đoan với người miền Bắc.

Đối với họ, người miền Bắc đồng nghĩa với cộng sản, có thể bị đánh, bị hành hung. Có một số nhà văn, nhà nghiên cứu được mời sang California bị nhóm Việt Kiều cực đoan biểu tình, gây rối.

Một giáo sư người Mỹ đã khuyên chị học ở một trường miền Trung-Tây Hoa Kỳ, nơi có nhiều người da trắng, ít kiều bào để tránh xảy ra những chuyện đáng tiếc.

Thậm chí, một giáo sư Việt Kiều còn khuyên chị khi gặp những người di tản sang Hoa Kỳ, hoặc đã từng phục vụ trong chính quyền Sài Gòn thì không nên nói là sinh viên quốc tế từ miền Bắc đi du học, mà nên giới thiệu là thuyền nhân hoặc người tỵ nạn. Trong các nhà hàng của Việt Kiều ở Quận Cam, California, chị nên nói nhỏ nhẹ, tránh bị phát hiện giọng Bắc.

Trong thời gian dài học tập và nghiên cứu ở Hoa Kỳ, đã xảy ra nhiều lần va chạm giữa chị và Việt Kiều. Có đôi lần, khi gặp Việt Kiều, chị nói là nghiên cứu sinh từ Hà Nội, ngay lập tức, họ phản ứng, suy đoán chị chắc phải con nhà một người “con ông cháu cha” và gọi chị là “cộng sản” hay “cán bộ”.

Sau này, vào những năm 2000, mối quan hệ căng thẳng giữa người Việt Kiều quá khích và người Bắc cũng dần lắng xuống khi chính phủ có nhiều chính sách đổi mới áp dụng với kiều bào, đặc biệt là Nghị quyết số 36-NQ/TƯ ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Dù sao, sự căng thẳng, mối nghi ngờ, sự khác biệt về quan điểm chính trị, văn hóa, lối sống vẫn còn đeo đẳng.

Khi cha mẹ của một sinh viên Việt Kiều biết chị sẽ làm nghiên cứu thực tế trong cộng đồng của họ ở California năm 2003 đã cảnh báo rằng chị sẽ không được chấp nhận và tiếp đón ở đó. Kết quả lại hoàn toàn ngược lại, khi chị được đồng tác giả bài viết này đã từng nghiên cứu về Đạo Mẫu và Lên đồng ở California giới thiệu.

Nhóm ông đồng, bà đồng Việt Kiều đã đón tiếp chị như một người thân trong nhà, sẵn sàng chia sẻ những nỗi niềm của người xa xứ, và niềm tin tín ngưỡng của họ về Lên đồng. Họ cũng không ngần ngại kể về quãng đời hãi hùng lênh đênh trên biển khi rời Tổ quốc ra đi bằng con đường vượt biên.

Trong số khoảng 20 người Việt Kiều mà chị gặp, câu chuyện đáng buồn hơn cả là cô Oanh, có chồng và con bị giết trên thuyền vì yêu cầu người chủ thuyền đưa mọi người quay lại Việt Nam khi thuyền hết lương thực và nhiên liệu. Thay vì hòa giải, người chủ thuyền đã bắn chết chồng và một người con đi cùng. May mắn người con gái thoát chết do trùng tên với một cô gái khác trên thuyền và cô gái đó đã chết thay cho người con của chị khi chưa tròn tuổi xuân. Ngày nay, chị được hưởng chế độ phúc lợi xã hội, được phân căn hộ và tiền bảo trợ hàng tháng. Các con đều có việc làm ổn định ở các công ty lớn ở California, hàng tháng có thể trợ cấp thêm tiền cho mẹ. Mẹ con chị đều đến Đạo Mẫu như một niềm an ủi cho số phận và cầu mong cho cuộc sống hiện tại tốt đẹp, bình yên.

Đặc biệt, chị Tình, người con út làm trợ lý hành chính ở một công ty, rất có Tâm với Đạo Mẫu. Chị đã có điện thờ Mẫu riêng và tháng bảy vừa qua, chị cùng chồng về Việt Nam lần thứ hai để học hỏi đồng thầy Nghĩa về cách thức mở phủ cho tân đồng tại điện thờ của chị.

Trong số Việt Kiều, cô Nga là dân buôn bán và bà đồng từ khi còn ở Việt Nam mà hiện nay có một ngôi đền bề thế nhất ở San Jose. Chồng cô là một đại tá phi công cho quân lực Việt Nam Cộng hòa, nay sống nhờ chế độ phúc lợi xã hội, làm đồng đền, trông coi điện thờ cho vợ. Nhờ có sự giúp đỡ của đồng Khương, người có cả điện thờ Mẫu ở California và ở Việt Nam, vợ chồng cô đưa tượng thờ, tất cả các hiện vật thờ cúng khác từ Việt Nam sang.

Khi tiếp xúc, trao đổi với họ, tác giả thổ lộ điều băn khoăn về mối quan hệ căng thẳng giữa người miền Bắc với người miền Nam, chồng cô Nga nói: “Chiến tranh đã qua đi. Chúng ta đều chịu những thiệt thòi và mất mát. Cháu còn có đất nước, còn chúng tôi là những người phải rời bỏ quê hương sống xa xứ. Bây giờ cháu ở đây, chúng ta đều là người Việt Nam, thờ chung các vị Thánh” (Nguyễn Thị Hiền, 2003b).

Nói những điều này, ông đã nhấn mạnh một điểm chung, mấu chốt của hai nhóm người khác nhau về lối sống, điều kiện sống, và đã có thời đối lập về hệ tư tưởng chính trị, là họ cùng chia sẻ những vấn đề về Tâm linh, tín ngưỡng đa thần giáo của Đạo Mẫu.

Sau đó, tác giả đã làm đầu mối, kết nối nhóm người Việt Kiều ở San Jose với đồng Nghĩa ở Kinh Bắc, dẫn đến những chuyến trở về để mở phủ, Lên đồng, và nay đã hình thành một nhóm ông-bà đồng xuyên quốc gia.

Nhiều người Việt Kiều định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1975 là những sỹ quan cao cấp đã chiến đấu ở chiến tuyến đối lập với nhân dân và quân đội Việt Nam. Sau đó, những người nhập cư thường là những người ra đi tìm kiếm cơ hội làm ăn hay đoàn tụ với thân nhân. Một số ít ra đi theo con đường chính thống, được bảo trợ, còn phần lớn là thuyền nhân, vượt biên bất hợp pháp.

Từ năm 1975 đến năm 1994, có khoảng 1,32 triệu người Việt Nam đến Hoa Kỳ từ Lào, Việt Nam và Campuchia (Freeman, 1995:3). Trong số này, hơn 900.000 người vượt biên. Đa số những ông bà đồng ở San Jose là dân tị nạn, họ lấy lý do kinh tế và chính trị để ra đi. Mặc dù Lên đồng bị cho là mê tín dị đoan vào những năm 70 của thế kỷ trước, nhiều người Việt Kiều ra đi không phải lý do tôn giáo, mặc dù đôi khi tôn giáo là một yếu tố quan trọng trong chuyến đi của họ.

Nhiều người đã tìm sự hỗ trợ tâm linh khi rời Việt Nam đi di tản. Trong khi một số người ra đi vội vã, không có thời gian chuẩn bị, một số khác đã lạy Tổ tiên, Thánh Mẫu, các vị Thánh hỗ trợ trong chuyến đi.

Ví dụ, cô Hà, một thanh đồng khoảng 50 tuổi, trước khi ra đi vào tuổi 20 đã cầu xin Cô Bơ, thuộc Thoải Phủ, thường cứu giúp người ở nơi sông nước. Cô Hà bảy lần vượt biên nhưng không thành. Cuối cùng, cô đến dự một buổi Lên đồng và xin các vị thần Thánh giúp đỡ. Cô nhớ lại việc xin Cô Bơ: “Lạy Cô, hãy cho con biết liệu con có đi được hay không?”. Cô Bơ (lúc đó nhập về bà đồng) nói: “Con sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng ta sẽ chèo thuyền giúp nên con sẽ đến đích”. Trên thuyền của cô Hà, nhiều người bị cướp, bị hãm hiếp và một số bị giết chết. Trong chuyến đi trên biển, cô Hà đã mơ thấy Cô Bơ hiện về giúp đỡ. Cô cảm kích nói: “Trên thuyền, cô luôn luôn cảm thấy Cô Bơ ở bên cạnh giúp đỡ. Những người phụ nữ khác ở trên thuyền bị hãm hiếp, chỉ có một mình cô là không bị làm sao. Cô Bơ đã bảo vệ cô”.

Thực hành tôn giáo giúp cho cộng đồng những người di cư hội nhập vào cuộc sống ở nơi định cư mới. Chia sẻ một niềm tin tôn giáo tạo nên niềm hy vọng, sự an ủi, và hình thành một nhóm xã hội-tôn giáo giúp đỡ nhau tìm kiếm việc làm, chăm sóc trẻ con, tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc hội nhập vào những hoàn cảnh xã hội cụ thể (Bodwin, 2003; McCarthy Brown, 1999).

Dù sao, những người di cư cũng bị áp lực theo những tôn giáo lớn được cộng đồng xã hội chấp nhận, đặc biệt thông qua những nhóm người truyền bá phúc âm trong những khu định cư của người tị nạn.

Trong bối cảnh như vậy, một số người đã phải giấu thực hành tôn giáo bản địa của mình, theo một tôn giáo thế giới để tránh khỏi định kiến (Brodwin, 2003).

Điều này đã giải thích tại sao một số người Việt Kiều ở San Jose nay theo đạo Mẫu, nhưng trước kia lại là Công giáo. Fjelstad khi nghiên cứu những người Lên đồng ở San Jose đã nhận thấy có một số người luôn cầu thần Thánh bản địa giúp đỡ trong quá trình mới định cư, nhưng một số khác đã ngừng thực hành nghi lễ truyền thống trong thời gian bận rộn ổn định cuộc sống ở nơi ở mới (Fjelstad, 2006).

Chỉ sau khi có cuộc sống ổn dịnh vào những năm 90, thì họ mới cảm thấy thoải mái hơn thực hành nghi lễ truyền thống của mình, thiết lập nên mạng lưới xã hội và tôn giáo có ý nghĩa đối với cuộc sống. Họ không còn phải giấu giếm những buổi Lên đồng và điện thờ của họ như trước. Họ mời nhiều bạn bè, kể cả người ngoại quốc tam dự nghi lễ trong những điện thờ có treo biển lớn, như biển “Đền Quan Lớn Tuần Tranh” của cô Nga.

Khi những ông đồng, bà đồng ở San Jose quyết định làm lễ “mở đồng quạt” ở Việt Nam, họ rất háo hức, nhưng cũng lo lắng về chuyến đi và cảm thấy có sự thôi thúc làm nghi lễ này, đặc biệt cô Oanh và chị Tình con của cô có căn Cậu, thường xuyên thỉnh Cậu về để xem bói. Họ đã phải chuẩn bị rất lâu cho chuyến trở về, tiết kiệm tiền và một số phải vay thêm tiền, vì đa số họ sống nhờ vào chế độ phúc lợi xã hội, thuộc những người có thu nhập thấp so với mức sống chung ở California.

Họ còn băn khoăn nhiều điều khác, như không hiểu người ở miền Bắc hầu đồng ra sao, liệu họ có hòa hợp với nhau được không, hay liệu họ có thể tin thầy Nghĩa hay không?

Trước khi trở thành đồng thầy, đồng Nghĩa đã từng phục vụ trong quân đội và là cán bộ nhà nước. Còn những người Lên đồng ở San Jose, như trên đã trình bày đa số là dân di tản, rời Tổ quốc ra đi vào năm 1975 và thời gian sau đó.

Nhưng những băn khoăn, lo lắng cũng qua đi sau những lần gặp gỡ, cùng tham dự những buổi Lên đồng. Dường như mọi người không muốn nói về chiến tranh nữa. Một ông đồng nói, những người như ông và đồng thầy Nghĩa phục vụ ở hai chiến thuyến đối lập nhau, nhưng đó là quá khứ. Bây giờ, họ đều là “con của nhà Thánh”, cùng là người Việt Nam. Thầy Nghĩa không bận tâm đến vấn đề chính trị và sự khác biệt giữa họ, mà chủ yếu là cùng chia sẽ tín ngưỡng của Đạo Mẫu.

Thầy nói: Mới đầu, tôi cảm tưởng như có sự ngăn cách bởi vì cảm thấy ở nước ngoài về, người ta có một cái gì đó, ví dụ như kinh tế chẳng hạn, cao sang, cách biệt đối với minh. Nhưng qua mấy lần họ về thì thấy họ như mình, cũng như các bạn đồng công lính ở đây. Tôi chẳng bao giờ nghĩ đến những vấn đề khác biệt về chính trị, mà chỉ quan tâm đến văn hóa tâm linh này thôi, hầu đồng, cúng bái (Nguyễn Thị Hiền, 2008).

Đối với những người Việt Kiều ở San Jose, dần dần thầy “cảm thấy thân thiết như là các đệ tử ở Việt Nam, tận tình giúp đỡ, thậm chí còn hơn những đệ tử khác và cảm thấy như có gì đó tình cảm hơn và sâu sắc hơn” (Nguyễn Thị Hiền, 2008).

Ngược lại, lần đầu tiên trở về Việt Nam từ khi rời Tổ quốc ra đi ông đồng, bà đồng Việt Kiều có nhiều nghi ngờ, đôi khi còn lo thầy Nghĩa làm thuật phù thủy, bỏ bùa họ.

Họ nghi ngờ đồng thầy lợi dụng để kiếm tiền từ các lễ Lên đồng của họ. Có thể do lâu năm không tiếp xúc với người miền Bắc, nhiều năm sống xa xứ, Việt Kiều có những thành kiến với người miền Bắc. Tất cả những nghi ngờ này, ông bà đồng ở San Jose đã dựa vào Cậu Bé, một vị Thánh trong Đạo Mẫu giúp đỡ.(6)

Người hòa giải tâm linh

Trong quá trình làm nghiên cứu điền dã, chị Karen nhận thấy rằng trong số các vị Thánh của Đạo Mẫu, Cậu Bé xuất hiện thường xuyên hơn các vị Thánh khác. Cậu Bé thường thập vào các ông đồng, bà đồng ở thung lũng Silicon trước, trong khi và sau buổi Lên đồng. Chị nhận thấy Cậu Bé là một vị Thánh chính can thiệp vào mối quan hệ giữa hai nhóm người hầu đồng ở Việt Nam và ở Hoa Kỳ.

Bên cạnh Cô Bé, Cậu Bé là một vị Thánh trẻ nhất và đứng trong hàng ngũ thấp nhất trong số các vị Thánh của đạo Mẫu.

Trong các giá đồng, Cậu sôi nổi, vui vẻ nhất. Cậu nhập về nũng nịu, nghịch ngợm, có khi lại ra lệnh, yêu cầu một điều gì đó, có khi lại nói ngọng nghịu như giọng của một đứa trẻ.

Đặc biệt cậu giúp ông đồng, bà đồng Việt Kiều khả năng xem bói. Ví dụ, đồng Oanh đã nhập Cậu về xem bói suốt 40 năm. Buổi sáng tỉnh dậy, cô khấn Cậu, uống sữa nóng, sau đó Cậu nhập về và xem bói bằng quân bài cho hàng xóm và bạn bè.

Không giống như các vị Thánh khác phải tuân thủ các quy tắc của mình trong điện thần, Cậu đôi khi phá luật, làm những gì mình muốn.

Đồng Thắng, có bố và bà nội Lên đồng ở Sài Gòn, phụ nghề thợ máy, có cuộc sống tương đối khó khăn vì lương thấp, vợ không đi làm, ở nhà trông con và giữ thêm vài đứa trẻ khác, nói rằng Cậu thường nhập về báo cho mọi người điều họ nên biết trước.

Cũng theo lời của anh Thắng “Cậu rất biết mọi việc cần phải làm như thế nào”. Bên cạnh hiện tượng Cậu Bé thường xuyên nhập về, đặc biệt là khi xem bói, Cậu còn là một vị Thánh giúp họ hiểu vì sao mọi việc không suôn sẻ, luôn có bất trắc. Họ đã tham vấn với Cậu Bé trước khi sang Việt Nam, và trước mỗi buổi lễ. Hầu như mỗi lần như vậy, theo họ, Cậu Bé đều đoán được những vấn đề nhỏ nhặt nhất có thể diễn ra. Chẳng hạn, trước buổi lễ của đồng Loan (vợ của đồng Thắng) Cậu Bé nhập về nói rằng: “Mọi việc sẽ tốt đẹp, nhưng có một chút vấn đề vặt vãnh và chị sẽ buồn đôi chút”. Quả đúng như vậy, ngày hôm sau, trong khi đang hầu đồng, một người hầu dâng đã lấy trộm tiền phát lộc của chị.

Một bà đồng khác tên là Jane (người Việt Kiều gốc Hoa), phục vụ trong một cửa hàng của bố mẹ bán thực phẩm Việt Nam ở San Jose, cũng có một số trục trặc khi phát lộc trong buổi Lên đồng. Thay vì đổ lỗi cho những người hầu dâng, cả đồng Loan và Jane đều cho rằng đó là trò tinh quái của Cậu Bé.

Việc giải thích thực hành nghi lễ hay các mối quan hệ dựa vào một vị Thánh tinh nghịch và hay gây trò như một đứa trẻ rất hữu hiệu trong các mỗi quan hệ xuyên quốc gia, giữa những người sống ở hai đất nước rất xa nhau về mặt địa lý và khác nhau về lối sống, văn hóa, chính trị.

Nhờ có vị Thánh đứng ở giữa hòa giải, những người Việt Kiều tránh được cú sốc văn hóa và sự khác biệt khi tiếp xúc với nhóm ông đồng, bà đồng ở Kinh Bắc, bởi vì cuối cùng họ đều quy nguyên nhân mang tính tâm linh là do Cậu Bé.

Cậu Bé, một nhân vật mang tính tâm linh trong điện thờ Mẫu đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho những ông đồng, bà đồng ở San Jose vượt qua khó khăn trong lần đầu về Việt Nam một cách suôn sẻ.

Cậu Bé đóng vai trò là người hòa giải tâm linh trong suy nghĩ cũng như trong hành động của họ. Cậu chiếm một vị trí quan trong trong việc lý giải sự khác biệt giữa những người Việt Kiều di cư từ miền Nam và những người dân Bắc, vốn có sự khác nhau về tư tưởng chính trị, về mức sống, thậm chí có sự khác biệt ngay trong Lên đồng.(7)

Khác biệt và thay đổi

Lên đồng ở California và ở miền Bắc Việt Nam có sự khác nhau về phong cách, thời gian hầu, số Thánh giáng-nhập trong một buổi lễ.

Một số học giả cho rằng những người ngoại kiều thay đổi nghi lễ tôn giáo ở đất nước cư trú theo nhiều cách khác nhau, trong đó họ giảm thời gian dành cho nghi lễ (Levitt, 2001), thay đổi hành động nghi lễ và không gan làm lễ (McCarthy Brown, 1999; Orsi, 1999), thay đổi số lượng Thánh thờ cúng (Brendbeken, 2003; Kurien, 1998; McAlister, 1998).

Những người Lên đồng ở San Jose, thứ nhất, không có đủ điều kiện thực hành nghi lễ trong không gian điện thờ như ở Việt Nam. Họ xây dựng điện thờ phù hợp với kiến trúc của những khu nhà họ ở, trong một gian nhà ở, hoặc ở ga-ra ô tô. Thứ hai, họ dành ít thời gian hầu Thánh (một lần trong năm) vì tốn kém, họ không có các đền to phủ lớn dành riêng cho các vị Thánh để đi lễ xa và hành hương. Thứ ba, một số quá bận rộn với công việc. Mặc dù vậy, mỗi khi làm lễ Lên đồng, họ hầu lâu hơn người miền Bắc, một ván hầu có thể kéo dài từ 8 đến 12 tiếng, trong khi đó, ở miền Bắc, trung bình khoảng 4 tiếng.

Lên đồng của những ông đồng, bà đồng ở San Jose bị ảnh hưởng phong cách hầu của miền Nam (hầu kéo dài) và của Huế (có thêm tính chất hầu vui).

Trong các buổi hầu của họ ở đền Nguyệt Hồ và ở điện thờ của thầy Nghĩa có nhiều ông đồng, bà đồng thậm chí có cả những người đến dự, bị “ốp đồng”, cùng nhảy múa với họ. Một người cung cấp thông tin cho rằng hầu vui như vậy khiến buổi Lên đồng lộn xộn, không có cái thiêng của buổi hầu vì “Thánh ai người nấy hầu”.

Sau khi có buổi Lên đồng rất ấn tượng (đa số những người có mặt ở buổi hầu đều tham gia nhảy múa) ở đền Nguyệt Hồ vào năm 2005, thầy Nghĩa công nhận có thêm người khác nhảy đồng càng làm bầu không khí của buổi hầu thêm vui.

Do sự tác động qua lại lẫn nhau và do bối cảnh của cuộc sống hiện tại, một số vị Thánh trở nên phổ biến hơn đối với nhóm người Việt Kiều.

Các vị Thánh có vị thế mới, phổ biến hơn vì họ là biểu tượng cho bản sắc của nhóm người hoặc của dân tộc (McAlister, 1998), thể hiện biểu tượng mà ngoại kiều tạo nên (Kurien, 1998), bởi vì các vị Thánh này có những đặc tính làm cho họ hiện đại hơn trong điều kiện cuộc sống mới (Bredbekken, 2003; McCarthy Brown, 1999).

Sự thiếu hiểu biết về văn hóa ở quê hương đất nước có thể dẫn đến sự giải thích về tin ngưỡng và tính cách của các vị Thánh của Đạo Mẫu sai lệch so với lai lịch gốc.

Chẳng hạn, Cô Bé Đen rất phổ biến trong số những bà đồng trẻ ở San Jose, nhưng họ không biết rõ lai lịch Cô Bé Đen là ai. Nên trong ban thờ tại điện của đồng Tình, cô đã đặt một con búp bê da đen lên điện thờ.

Còn ở miền Bắc, các vị Thánh có uy quyền hơn như Thánh Mẫu, Trần Hưng Đạo, các ông Hoàng, cô Chín phổ biến và là những vị Thánh chỉ bảo tâm linh của họ. Khi hầu giá nhà Trần, nhiều người hầu giá vương cô nhà Trần như Đệ Nhất Vương Cô, Đệ Nhị Vương Cô, nhưng một bà đồng San Jose đã nhầm lẫn với các cô nhà Trần cuối thế kỷ XIII với bà Trưng Trắc, Trưng Nhị vào đầu Công nguyên.

Các vị Thánh trong buổi Lên đồng cũng thay đổi bản sắc và tính cách đôi chút và biến đổi theo hướng tích cực.

Ví dụ, mỗi khi ông Hoàng Bảy nhập vào bà đồng ở San Jose, ông say như thật. Theo truyền thuyết, ông nổi tiếng ăn chơi, nên khi đến giá ông Hoàng Bảy, hút thuốc lào và uống rượu. Khi Việt Kiều hầu giá này thì tính cách của Ông thể hiện rất rõ, giọng nói lè nhè, dáng vẻ loạng choạng, cúi lạy Thánh Mẫu khó khăn như người say thật.

Thế hệ Việt Kiều thứ hai sinh ra vào những năm 80 của thế kỷ trước, lớn lên ở Hoa Kỳ chưa bao giờ về Việt Nam và cũng không biết nhiều về văn hóa Việt Nam nên họ có tính cách và văn hóa Mỹ. Vì vậy, có một sự tương đồng trong ngôn ngữ và phong thái của các vị Thánh trẻ nhập về trong lễ Lên đồng.

Cậu Bé “lớn lên và sống” ở San Jose thì thông thạo, nghe hiểu tiếng Anh. Khi nhập đồng, Cậu không hẳn nói tiếng Anh, nhưng Cậu có thể hiểu tiếng Anh và Cậu sử dụng tiếng Việt và tiếng Anh theo cách gần gũi với phong cách của người Việt Kiều sống ở tiểu bang California và ăn kẹo M&M.

Xuyên quốc gia có tác động trao đổi hai chiều về thực hành nghi lễ và thờ cúng các vị Thánh (Brettell, 2003; Levitt, 2001).

Thầy Nghĩa chấp nhận cách hầu say “bí tỉ” trong “giá ông Hoàng Bảy” và hầu vui của Việt Kiều.

Các vị Thánh cũng thay đổi sau những buổi Lên đồng và những chuyến hành hương về quê hương. Một số vị Thánh đã có khăn áo mới mua tại Việt Nam, không phải mặc chung khăn áo với các vị Thánh khác.

Những người Việt Kiều thay đổi trang phục của một số các vị Thánh cho giống với đồng thầy với những mẫu thêu hoa văn phù hợp với trang phục của Thánh Mẫu hay của các vị quan, thay vì những khăn áo may từ vải sa-tanh in hoa nổi của một Việt Kiều buôn từ Hồng Kông về bán ở California.

Việt Kiều mua sắm nhiều đồ thờ cúng và hàng mã ở Việt Nam, nhưng đôi khi họ cũng phải đặt mua đồ thờ cúng phù hợp với hoàn cảnh sống. Ví dụ, họ không thể mang về Mỹ nhiều đồ mã cho các lễ mở phủ, vì thế họ nhờ đồng Nghĩa chụp ảnh kỹ thuật số và ghi chép các loại đồ mã cho lễ mở phủ và những buổi Lên đồng khác nhau, sau đó họ in ảnh và đốt ảnh thay thế đồ mã.

Ở Việt Nam, ông đồng, bà đồng ở California mua các đồ lễ, đồ phục vụ các giá hầu, khăn áo hầu vừa rẻ, vừa đúng với nguyên gốc, các đĩa CD chầu văn rất hay, hay hơn nhiều so với các đĩa chầu văn mà họ có.

Họ mua tất cả những gì họ có thể để mang về Hoa Kỳ. Họ mua từ bức tượng Thánh (loại nhỏ) để thờ đến các lá sớ, mồi châm lửa dùng trong các giá hầu đồng có múa mồi, đao gươm của Quan Đệ Ngũ, Ông Hoàng Bơ. Họ còn nhờ thầy Nghĩa làm lễ thỉnh Thánh, thỉnh Phật, ghi âm lại và chuẩn bị lá sớ cho họ mang về California, mặc dù ở California cũng có thầy cúng và họ có thể mời thầy đó đến để làm lễ.

Mối quan hệ xuyên quốc gia giữa hai nhóm ông đồng, bà đồng đã làm thay đổi quan niệm của họ về đồ thờ cúng và vị thế của họ trong cộng đồng.

Một số người cho rằng đổi mới tạo điều kiện cho con người trở nên thiên về vật chất hơn là tâm linh. Một bà đồng ở San Jose nói rằng càng ngày càng dễ dàng trở về Việt Nam thì những ông đồng, bà đồng ở Hoa Kỳ càng tỏ ra thiên về vật chất hàng hóa những đồ cúng tế (Fjelstad, 2006). Có bà đồng thì lại cho rằng, làm lễ lớn thể hiện lòng tôn kính, có tâm với Thánh, và nhận mạnh rằng có nhiều tiền chi cho việc hầu Thánh thì càng tốt (Nguyễn Thị Hiền, 2002).

Những người ở San Jose đánh giá ông đồng, bà đồng và điện thờ của họ ở sự giàu sang, độ lớn và cội nguồn của đồ thờ cúng và số người tham gia nghi lễ. Như vậy, càng về nhiều lần ở Việt Nam và có nhiều đồ cúng lễ, điện thờ được bài trí càng giống điện thờ ở Việt Nam thì thanh thế và uy tín của chủ nhân ngôi dền càng được nâng cao ở San Jose.

Sự khác biệt giữa các điện thờ đã dẫn đến cạnh tranh nhau và từ đó Việt Kiều suy luận rằng những điện thờ giàu sang là do đồng đền có trò ma thuật để lấy nhiều tiền công đức của “con nhang đệ tử”.

Họ còn phê phán nhau về chuyện xin thần Thánh quá nhiều bổng lộc. Mặc dù là chuyện bình thường khi cầu bổng lộc, phát tài, nhưng vẫn có giới hạn cho việc cầu xin Thánh. Đặc biệt đối với nhóm ông đồng, bà đồng ở San Jose, sau đó giàu phất lên nhanh chóng, họ đều quy cho là làm trò ma thuật và quá thiên về vật chất.

Ông đồng, bà đồng Việt Kiều có thiên hướng không xin lộc tiền Thánh nhiều vì họ có cuộc sống đảm bảo hơn.

Lý giải này phù hợp với ý tưởng là con người cầu cúng thần Thánh khi không có sự đảm bảo tài chính.

Một lý giải khác là có sự khác nhau về văn hóa giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Người Việt Nam hoàn toàn thấy thoải mái khi cầu xin Thánh tài lộc.

Ở Việt Nam, những đồng thầy có cơ ngơi thờ tự khang trang, lộng lẫy, nhà cao cửa rộng, thì thầy được nhìn nhận là cao tay, giỏi, có tài thu hút nhiều “con nhang đệ tử” đến hầu, làm lễ; Còn về mặt tâm linh, thầy thành tâm với nhà Thánh và được Thánh cho ăn lộc.

Như vậy, sự khác biệt về điều kiện sống đã tác động lên cách ứng xử với các vị thần Thánh và tác động vào mối quan hệ xuyên quốc gia.

Xuyên quốc gia khiến cho Lên đồng ở Việt Nam và ở nước ngoài sôi động hơn, thì càng có sự phân biệt đẳng cấp, vị thế giữa các ông đồng, bà đồng.

Một vấn đề hay nhưng tế nhị tôi muốn đề cập trong bài này là vị thế và sự giàu có của đồng Nghĩa sau khi làm lễ cho Việt Kiều ở California.

Đã có rất nhiều tai tiếng là đồng Nghĩa ăn bớt tiền làm lễ của họ để xây dựng lại khu điện thờ. Qua điều tra nghiên cứu dân tộc học, tôi hiểu ra rằng các ông đồng, bà đồng Việt Kiều đã đóng vai trò tích cực trong việc tạo ra cơ hội để cho đồng thầy có thể xây dựng được cơ ngơi khang trang như ngày nay, nhưng không hẳn như dân làng hay các người hầu đồng khác nghĩ.

Theo tìm hiểu, Việt Kiều gửi cho đồng thầy số tiền cho nhiều buổi hầu của cả nhóm. Do vậy, đồng thầy có liền một khoản tiền lớn mấy chục triệu cộng với số tiền tiết kiệm, vay thêm đã cố gắng làm lại nhà cửa và điện thờ tươm tất. Vài tháng sau, khi các ông đồng, bà đồng về Việt Nam làm lễ, thầy vay thêm và mua chịu đồ lễ, rồi sau đó trả dần.

Ngoài ra, thầy có một số nguồn thu khác từ công việc làm một “thầy” – đồng thầy, thầy bói, thầy cúng. Một nguồn tích lũy khác nữa là những con nhang đệ tử Việt Kiều thỉnh thoảng gửi tiền về biếu thầy 100-200 đô la. Nhưng tất cả những số tiền mà đồng Nghĩa thu nhập từ Việt Kiều chỉ là một phần không lớn lắm so với giá trị của căn nhà và điện thờ.

Điều thú vị là đồng Nghĩa rất cởi mở nói về việc xây cơ ngơi của mình do tiền của Việt Kiều với mục đích tránh tai tiếng, đàm tiếu của dân làng và chức trách địa phương cho rằng thầy kiếm tiền bằng cách hành nghề tôn giáo.

Bên cạnh cơ hội tăng thêm nguồn thu nhập, đồng Nghĩa còn có uy tín hơn trong con mắt của dân làng và con nhang đệ tử. Theo họ, thầy “giỏi thì Việt Kiều mới tìm đến”.

Qua quan sát của chúng tôi cũng như tìm hiểu thông tin từ những người hàng xóm của đồng Nghĩa, thì sau khi Việt Kiều đến làm lễ, đồng thầy càng trở nên nổi tiếng và càng nhiều người tìm đến thầy.

Một buổi sáng tháng 11/2006 có mặt tại điện thờ của đồng Nghĩa, có khoảng 10 đợt khách đến nhờ thầy xem bói, tư vấn liệu sắp tới có nên mở thêm một kinh doanh mới hay không, có nên mở phủ để vượt qua vận hạn, cắt giải tiền duyên. Chị Karen còn chứng kiến có một phụ nữ đến hỏi thầy tại sao con lợn của chị ta đang khỏe mạnh lại lăn ra chết. Như vậy, đồng thầy như người tư vấn, là chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng và cho các “con nhang đệ tử”.

Thầy Nghĩa tự nhận thấy cái được của thầy sau khi có những chuyến trở về của các ông đồng, bà đồng Việt Kiều:

Cái được hơn trước là cái gì? Sau những đàn phủ Mỹ về người ta cứ dồn dập kéo đến, chính lộc tài ở chỗ đó. Chứ mình không tính là người ta đưa cho mình từng này tiền thì mình sẽ bớt xén, không bao giờ có việc đó, sắm bằng đủ lễ vật thì thôi. Mình không tính thiệt hơn, không tính lợi. Sau đó, thì chính mình có lộc tài của nhân dân trong vùng mang đến, có uy tín, tự nhiên người ta đến cúng kính nhiều (Nguyễn Thị Hiền, 2008)

Kết luận

Bài việt đề cập đến một hiện tượng tương đối đặc biệt của nghi lễ Lên đồng xuyên quốc gia, đó là việc các ông đồng, bà đồng sống ở San Jose trở về Kinh Bắc để hầu đồng và cùng với những người trong nước làm sống động hơn nghi lễ này trong thời kỳ mở cửa và trong thời đại toàn cầu hóa.

Thực hành nghi lễ xuyên quốc gia trở nên phổ biến vì con người ngày càng muốn có những trải nghiệm tôn giáo ở những mảnh đất khác trên thế giới.

Chấm phá một số khía cạnh của nghi lễ xuyên quốc gia, bài viết đã xem xét nhữ sắc thái khác nhau của nghi lễ Lên đồng và ảnh hưởng, tác động qua lại của 2 nhóm người hành nghề tôn giáo tại 2 vùng đất cách xa một nửa bán cầu. Những ông-bà đồng ở Kinh Bắc và ở San Jose có sự khác nhau về chính trị, lối sống, thực hành nghi lễ.

Trên bình diện xuyên quốc gia, những sự khác nhau này dần được giảm bớt và sự nghi kỵ, hiểu lầm đã dần được tháo gỡ khi họ cùng là con nhang đệ tử của đạo Mẫu.

Một đạitá đã từng phục vụ trong chính quyền Sài Gòn nói rằng ông ta, nhừng ông-bà đồng ở San Jose và ở miền Bắc cùng là người trong một nhà, người Việt Nam, cùng thực hành tín ngưỡng thờ Thánh, theo đạo Mẫu.

Với nghĩa này, Đạo Mẫu một phần xác định bản sắc của người Việt, đồng thời là một phương tiện mang tính tôn giáo, tâm linh hòa giải con người.

Mối quan hệ xuyên quốc gia đã đem lại lợi ích cho cả hai nhóm ông-bà đồng ở Kinh Bắc và ở San Jose.

Sau những lần gặp gỡ, tiếp xúc, chuyến trở về Việt Nam, về với cội nguồn của đạo Mẫu, những người Việt Kiều đã có những thay đổi quan trọng trong nhận thức về người miền Bắc. Đặc biệt, họ có thêm những hiểu biết về thực hành nghi lễ của đạo Mẫu.

Với sự giúp đỡ của thày Nghĩa, họ đã và đang làm thay đổi nghi lễ và điện mang tính xác thực, gần với cội nguồn hơn. Sự hiểu biết của họ về con người, văn hóa và tín ngưỡng của đất nước quê hương càng ngày càng phong phú và sâu sắc.

Đối với cá ông-bà đồng ở San Jose, trở về Việt Nam Lên đồng và có điện thờ gần giống với ở quê hương thì họ càng có uy tín hơn trong cộng đồng của họ.

Về phía đồng Nghĩa, uy tín của thầy được nâng lên rất nhiều sau khi những đoàn Việt Kiều đến hầu đồng ở điện thờ của thầy, học hỏi kinh nghiệm làm lễ cúng và Lên đồng. Có nhiều con nhang đệ tử và khách hàng trong vùng Kinh Bắc tìm đến thầy, nhờ làm lễ và tư vấn.

Như thầy Nghĩa nói, đấy là niềm vinh hạnh lớn nhất mà Việt Kiều đem lại cho thầy.

Sau những chuyến về Việt Nam, các ông-bà đồng ở San Jose cảm thấy có mối liên hệ chặt chẽ hơn với miền Bắc Việt Nam. Một bà đồng Việt Kiều nói: “Tôi cảm thấy buổi Lên đồng đã khiến mọi người xích lại gần nhau hơn. Buổi lễ đã đưa mọi người lại với nhau và chúng tôi như thể trở thành ngườI cùng một nhóm”.

Trong một bài phỏng vấn đồng Nghĩa, thầy kể rằng đồng Thắng ở California thổ lộ: “Cơ thể con ở California, nhưng tâm hồn con vẫn ở với thầy, với Việt Nam”. Anh nói rằng anh rất nhớ Việt Nam và sẽ đi làm kiếm thêm tiền, tiết kiệm để năm tới có thể trở lại đất nước quê hương./.

(*) Hai tác giả xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học California tại Los Angeles đã tạo điều kiện thuận lợi cho TS. Nguyễn Thị Hiền làm nghiên cứu thực tế tại Caliornia năn 2003-2004 và Quỹ Nhân học Wenner-Gren tài trợ 2 tác giả thực hiện đề tài tại vùng Kinh Bắc và Caliornia.

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}