Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn Hóa Thông Tin:

 

Lũ buồn hoang và những ám ảnh nỗi buồn thân phận con người

TS Trần Hoài Anh | Thứ Năm, 16/05/2019 11:31 GMT +7

 Có lẽ, không phải ngẫu nhiên, Miên Di đặt tên cho tập thơ của mình là Lũ buồn hoang , một cái tên vừa quen lại vừa lạ. Quen, vì thơ viết về nỗi buồn, không phải là điều xa lạ với vũ trụ thi ca. Bởi, nỗi buồn xưa nay vốn là một “đặc sản”, một “hằng số” của thơ mà đã là thi nhân, ít ra cũng có một từ, một câu, một bài thơ viết về nỗi buồn. Nhưng lạ, vì cách định danh lũ buồn hoang như tên gọi tập thơ của Miên Di quả là điều độc đáo, thể hiện một sự sáng tạo của thi sĩ.

Nỗi buồn ở đây không còn là một “tính từ” chỉ cảm xúc như ta vẫn gặp mà đã trở thành một thân phận, một hiện hữu, một định mệnh ám ảnh cả một kiếp nhân sinh, không chỉ riêng phận số nhà thơ mà còn biết bao phận số khác trong cõi nhân gian đầy bất trắc này.

         Đọc Lũ buồn hoang ta như thấy tâm hồn thi sĩ trôi trên dòng sông mà ở đó, nỗi buồn đã trở thành những lớp sóng ngữ ngôn vỗ về, xô đẩy, lan tỏa cảm xúc, chiếm lĩnh tâm thức, tâm cảm người đọc. Điều này được thể hiện rõ trong các tứ thơ, các tựa đề bài thơ mà tác giả đã lựa chọn như một tâm thức hiện sinh, để khi đọc lên ta không khỏi thấy nao lòng và tự hỏi sao cuộc đời lại có quá nhiều trạng thái buồn đến như thế!? Đó là mảnh buồn đan kín trong nỗi cô đơn thân phận như một định mệnh: “Thuyền đâu tự biết lẻ loi/ Cô đơn vào đáy mắt tôi mảnh buồn” (Mảnh buồn). Và nỗi buồn không chỉ giăng mắc trong phận số con người mà còn vây phủ cả tự nhiên như một thứ hương thơm đầy huyễn hoặc: “Trên thân thể của bông hoa/ Nỗi buồn cũng rất ngọc ngà. Và thơm” (Buồn hoa).

Nhà thơ Miên Di

    Không những thế, trong cảm nhận của Miên Di nỗi buồn như một sinh thể, ở đó không chỉ có niềm đau mà còn có cả niềm yêu thương mà con người chỉ có thể cảm nhận được nếu chạm đến ngọn buồn, hay nói cách khác là phải sống đến tận cùng với nỗi buồn, với niềm đau thân phận: “Trèo lên ngọn của nỗi buồn/ Thấy như đứa trẻ thủa còn leo cây/ Thò tay hái ít thơ ngây/ Bỏ vào túi áo cho đầy yêu thương…. Nỗi buồn trên ngọn rất hiền/ Trèo lên mới thấy hết miền cõi yêu.(Trên ngọn buồn) Có thể nói, đây là một liên tưởng lạ không chỉ trong ý tưởng mà cả trong việc sáng tạo hình tượng thơ. Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến khúc tình ca Trên ngọn tình sầu của Từ Công Phụng phổ thơ Du Tử Lê, một bài hát đã trở thành nỗi ám ảnh đối với tôi, và có lẽ cũng như bao thế hệ thanh niên ở miền Nam trước 1975.

     Không biết, khi Miên Di viết “trên ngọn buồn” có liên tưởng gì đến hình tượng “ngọn tình sầu” trong khúc tình ca bất hủ này không, nếu có cũng là chuyện bình thường của qui luật “liên văn bản” trong sáng tạo nghệ thuật. Nhưng dẫu sao, việc sáng tạo những hình ảnh thơ đẹp và quyến rũ khi viết về nỗi buồn trong thơ Miên Di hay nỗi sầu trong nhạc Từ Công Phụng, theo tôi đều đáng trân trọng. Bởi, nỗi buồn và niềm đau xứng đáng được tôn vinh trong văn chương qua những hình tượng văn học đẹp và độc đáo như thế. Điều này ta còn bắt gặp ở nhiều câu thơ khác của Miên Di như “ngày ngày dạy lũ buồn ngoan/ Có đau cũng phải đau ngoan, nhen buồn!” (Buồn ngoan); “Em dừng lại nơi đoạn đời tấp nập/ anh như ngã ba buồn chấp chứa kẻ hỏng xe/ lặng lẽ vá nổi buồn nhau một chốc/ rồi lại đi không phải nhớ nhung gì” (Vá buồn); “Vào những chiều đói nỗi buồn khôn tả/ Ta như con thú cuồng nhấm máu vết thương lâu” (Đói buồn); “Màn đêm bọc tiếng thở dài/ Co ro như một bào thai trong buồn” (Bọc buồn)… Như vậy, trong tâm thức của Miên Di buồn như một “bào thai” đã có từ tiền kiếp, để đến hôm nay hiện hữu trong cõi đời như một tất yếu của kiếp nhân sinh.

    

      Đọc thơ Miên Di, ta thấy nỗi buồn không chỉ có ở những bài thơ có tựa đề “Buồn” mà ngay cả ở những bài thơ khác, ta cũng thấy có những câu thơ mà dư vị của nỗi buồn cũng mặn chát nỗi đớn đau của thân phận với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, trải dài trong phận số không chỉ của thi sĩ mà còn của những con người mà thi sĩ đã gặp gỡ, đã yêu thương, đã sẻ chia trong cõi nhân sinh. Đó là nỗi buồn bỏng cháy tâm hồn của những kẻ “thiếu quê hương” mà từ góc nhìn hiện sinh cảm thức “thiếu quê hương” này chính là cảm thức lạc loài của thân phận mà không ai trong cuộc đời lại không trải qua những khoảnh khắc như thế: “Bỡn cợt với nét mày chau/ Vì nhau ai nỡ nêm đau vào buồn….Thử làm một kẻ lưu vong/ Quê hương thất thểu ở trong nỗi buồn” (Bài thơ viết cạnh dòng sông).

  Nỗi buồn trong thơ của Miên Di, vì thế, là nỗi buồn, ở đó, ta như bắt gặp những trải nghiệm trong cuộc sống của thi nhân trên nhiều phương diện mà điều ám ảnh thi nhân nhất là nỗi buồn trong tình yêu với những yêu thương, những đổ vỡ, những mất mát, hạnh phúc, khổ đau: “Tôi tu bằng cuộc tình buồn/ Chân như mơn mởn trên cồn cỏ hoa” (Khúc tu phiền). Để rồi, điều ấy đi vào tâm cảm thi nhân và neo đậu ở đó như một ký ức buồn: “Cảnh buồn như một tâm tư/ mây trôi gợi những từ từ xa nhau/ Bây giờ em ở nơi đâu/ Tôi buồn qua phố một câu hỏi này/ Em đi bỏ lại bóng gầy/ vào đêm vắng vắng vào ngày vơi vơi/ Đôi chim ân ái trên trời/ bỏ tiếng hót lại cõi người buồn thiu” (Lạc rồi).

Bìa Lũ Buồn Hoang

     Không chỉ là ký ức buồn mà trong thơ Miên Di nỗi buồn còn là ngôi nhà của hữu thể, ở đó thi sĩ đã “trang trí” bằng những nỗi buồn riêng: “Trong nội thất của nỗi buồn/ Tôi trang trí những hình tròn và cong/ Để khi bị ngã bên trong/ Luôn va phải một cõi lòng rất em.” (Trang trí) Và, trong ngôi nhà hữu thể ấy, những nỗi đau, những vui buồn của cuộc sống đều được thi nhân gởi vào trong đó, để chiêm nghiệm, để cảm nhận và để sống với nó như một phần tất yếu của hiện hữu: “Có thay vui buồn thì cũng phải buồn vui/ Yêu từng cơn mà bên nhau cả cuộc/ Hạnh phúc khi buồn là hạnh phúc rất vui/ Em nhặt rau thấy phần bỏ đi giống như mình yêu thương nhau/ mà chọn lấy phần tươi tốt/ Nên những ngày tháng chan chung nồi canh xanh ngọt/ Mà riêng nhau ua úa nỗi niềm/ Mình đã bỏ nhau khi còn chung bữa/ Nhặt dần vui ra khỏi nỗi buồn.” (Vợ đi lấy chồng)

      Có thể nói, những nỗi buồn mà thi sĩ đã “nhặt” được từ cõi nhân gian từ những mất mát của tình yêu, tình vợ chồng, đối với một số người trong xã hội hiện đại, nhiều khi, không phải là điều đáng để họ quan tâm thì trong thơ Miên Di, ta thấy ở đó những dằn vặt đến đớn đau và là nhân tố tạo nên dự phóng sáng tạo mà nếu không có nó, chắc chắn sẽ không có những câu thơ viết về nỗi buồn thê thiết đến như thế!? Song, bên cạnh những nỗi buồn đầy vị đắng chát trong tình yêu, tình chồng vợ, đọc thơ Miên Di ta còn thấy sự ám ảnh của những nỗi buồn về thân phận, mà sự nghiệm sinh trong những tháng năm “làm kiếp con người” (từ dùng của Trịnh Công Sơn) đã giúp thi sĩ nhận ra những điều ấy với những rung cảm tinh tế nhất, của tâm hồn nghệ sĩ, trước từng khoảnh khắc của hiện hữu mà nếu không có những phẩm tính này, sẽ không có một Miên Di – thi sĩ với nhiều trở trăn, ưu lo về thế sự: “Những bữa cơm dẫn ta đi biền biệt/ bữa cơm buồn / rồi lại bữa cơm” (Thời vắng sống) “Chạm vào tuổi bốn mươi/ Buổi trưa vội vã/ Những cành lan không chồng vẫn sinh nở/ tờ báo trên mặt bàn dang dở/ đời chỉ là những mẩu tin nhanh/ Ta không kịp sống đến tận cuối những tin buồn/ với nhau cũng vậy…. Tuổi bốn mươi/ khoảng giữa của vui buồn/ như khoảng giữa của từng lựa chọn/ ta vò tóc trên đầu như sóng bạc/ Khúc xé mình đến đoạn rẽ sông.” (Tâm sự tuổi bốn mươi) Hay nỗi xót ra về sự “ra đi” đầy bi thiết của người Bà trong những ngày tháng đói nghèo mà khi đọc lên lòng ta không khỏi thấy chênh chao một nỗi đau thân phận: “Cả đời bà chẳng được quà/ Bà đi vào lúc cả nhà thiếu ăn/ Tiễn đưa chỉ có vành khăn/ và ba tất đất lạnh tanh ngoài đồng.” (Cuối năm thăm mộ Bà)

      Sống ở đời, không ai không đối mặt với những lo toan, phiền muộn và những điều ấy nhiều khi có thể đẩy ta vào bi kịch buộc ta phải tìm đến một sự lựa chọn hiện sinh, để rồi chính ta phải tự trả lời câu hỏi: tồn tại hay không tồn tại, hiện hữu hay không hiện hữu!? Không ai có thể sống thay cuộc đời của người khác và vì thế, không ai có thể vui buồn thay cho người khác. Bởi, những buồn vui trong cuộc đời chính là một căn phần của hiện hữu tự nó sẽ làm nên nhân vị của phận số mỗi người. Hơn ai hết, là một thi sĩ, Miên Di đã nhận chân được sự tất yếu này nên trong thơ anh, những diễn ngôn viết về nỗi buồn cũng là những thông điệp nhân văn mà tác giả muốn chia sẻ với người đọc “Vì mỗi ngày ta làm người tỉnh táo/ Tự chôn trong lẽ chết từng ngày/ Ta sống như bạt ngàn ngôi mộ/ Nằm im im trên buổi chiều buồn” (Bài thơ mất trí) “Những ngày khổ đã thành máu thịt/ Con chó buồn bỏ nạc nhớ khúc xương” (Những ngày khổ); “Tao vẫn nhứ cái thằng nhiều khát vọng/ mơ ước mơ dễ phủ được thế thời/ giờ phụ vợ bưng nỗi buồn xó bếp/ thương nó cái nhìn vẫn khao khát như xưa” (Bạn); “Buồn như gỗ ruỗng mục mình/ Nghe ra từng vết đau đinh lỏng dần.” (Ruỗng); “Lòng anh lồng lộng bốn bề/ Vậy mà chật cứng một thề hẹn xưa/ Chỉ cần một chút gió mưa/ một chiều yên ả/ một trưa rộn ràng/ Một chiếc lá cũng chưa vàng/ một bài hát cũ / một hàng dừa nghiêng/ Thế là bắt gặp niềm riêng/ Lòng anh lồng lộng lại điêng điếng buồn.” (Một thề hẹn xưa)…

    Một ám ảnh khác trong cõi nhân sinh cũng trở thành một dự phóng sáng tạo trong tập thơ Lũ buồn hoang của Miên Di, đó là nỗi buồn trong phận số của người phụ nữ mà ở đó thi sĩ đã sẻ chia với cảm nhận của một người trong cuộc. Vì vậy, nỗi buồn của người phụ nữ ở đây không chỉ là nỗi buồn của riêng họ mà đó cũng là nỗi buồn của chính nhà thơ. Sự hóa thân kỳ diệu này cho thấy không còn đâu là khoảng cách giữa cái tôi trữ tình của nhà thơ và nhân vật trữ tình: “Tôi nhận ra khi còn là đứa bé/ Mắt chị buồn như một mùa mưa/ Cảnh chị em mình như bãi chợ/ tránh chỗ nào vẫn cư rác dơ” (Chị);“Nhà em treo chữ Vu Quy/ có hoa rượu, có xầm xì nhỏ to/ Ngực anh có một cơn ho/ có trận rượu nát ra tro nỗi buồn” (Lục bát vu quy); “Tôi đang sẵn có trên đời/ Mà sao em lại làm người cô đơn/ Trong tủ áo cứ đầy hơn/ mà sao vẫn thấy trống trơn trong buồn” (Tôi đang sẵn có trên đời); “Có một chỗ ngồi trống trong mắt cô dâu/ dành cho người buồn nhất/ ngày em lấy chồng … Ai trang điểm cho em/ sao không đánh phấn nỗi buồn/ đôi môi nguội trong màu sơn nóng/ em lơ đễnh nghe những lời chúc tụng/ trăm năm buồn như một dòng sông.” (Bài thơ đứng ngoài tiệc cưới)

Và chính điều này làm cho nỗi buồn trở nên ý vị như một phần tất yếu của cuộc sống mà con người không thể chạy trốn và chối bỏ được: “Có lẫn tránh tận hư vô/ Em không thoát khỏi là cô gái buồn” (Phận đàn bà); “Sợ tôi buồn, em bảo tôi đi bước nữa/ Em thương tôi bằng những bửa cơm người/ Còn em ở vậy thổi cơm cho thằng bé/ sợ con buồn, em chẳng nỡ để ai yêu.” (Sau ly dị).

Chất nhân sinh ở nỗi buồn trong thơ Miên Di, vì thế đã ám ảnh tâm cảm người đọc, bởi ở đó mỗi người đều có tìm thấy bóng dáng nỗi buồn của mình trong cuộc đời trần thế vốn luôn bất toàn này. Và đây cũng là tiên đề tạo nên sự nỗi loạn hiện sinh và chất triết luận trong thơ Miên Di.

(Đọc Lũ buồn hoang; thơ Miên Di, NXB Hội Nhà văn ấn hành 2019)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}