Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phóng sự:

 

Miền Tây du ký:- Kỳ 2 “Cho hay muôn sự tại trời”!

Bút ký của Vũ Bình Lục | Chủ Nhật, 17/07/2016 17:19 GMT +7

* An Giang là một vùng đất từng có một thời diễn ra các cuộc tranh chấp quyết liệt của các nước như Cao Miên (Cămpuchia), Xiêm La (Thái Lan) và nước Đại Nam dưới triều nhà Nguyễn. Tôi có một người đồng hương, rất nổi tiếng là An Tây mưu lược tướng Doãn Uẩn (1795-1850) từng làm quan tới chức thượng thư bộ Binh, kiêm giữ chức tổng đốc An-Hà (An Giang và Hà Tiên), có công rất lớn trong việc giữ yên bờ cõi ở vùng đất biên viễn nhiều sình lầy kênh rạch và sục sôi chinh chiến này. Cụ Doãn Uẩn chính là vị danh tướng kiệt xuất, đồng thời còn là một thi nhân có hạng, từng làm tham tán đại thần ở thành Trấn Tây (Chân Lạp), khi nước này thuộc quyền bảo hộ của triều Nguyễn, cùng Nguyễn Tri Phương (Nguyễn Văn Chương) chỉ huy đánh tan liên quân Xiêm và Chân Lạp do tướng Phi Nhã Chất Tri (Bodin) và vua Chân Lạp là Nặc Ong Đôn cầm đầu, buộc họ phải ký hòa ước, chấm dứt chiến tranh, đồng thời khẳng định chủ quyền biên giới của nước ta ở An Giang như hiện nay. Doãn Uẩn và Nguyễn Tri Phương chính là những người thay mặt triều đình nước Đại Nam ký hòa ước này, vào cuối năm 1845. Cụ Doãn Uẩn được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận công lao, khắc tên vào bia đá ở Võ Miếu, lại còn là vị tướng được ghi danh vào một trong chín khẩu súng thần công ở Huế, với câu: “Thần uy phục viễn đại tướng quân”. Cụ gắn bó nhiều nhất với miền Tây Nam Tổ Quốc, nhiều năm đổ máu, đổ mồ hôi, sôi nước mắt ở đây, chết cũng ở đây, được người đời biết ơn, hương khói và chiêm bái chẳng khi nào dứt. Ngôi chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc ngày nay, chính là do cụ Doãn Uẩn khởi dựng trên nền cũ của một ngôi chùa nhỏ, từ năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) đấy. Một con người văn võ toàn tài, đức cao vọng trọng như thế, cớ sao lại chưa được biết đến một cách rộng rãi, mặc dù mấy năm trước đã có một cuộc hội thảo lớn, nhằm khẳng định công lao to lớn của cụ Doãn Uẩn với vùng đất Tây Nam Tổ Quốc?. 

Đọc các sách lịch sử và các tư liệu tham khảo viết về triều Nguyễn trải rộng hàng trăm năm, thử làm một so sánh nhỏ giữa hai nhân vật đương thời, cũng từng gắn bó với nhau nhiều năm, khi các cụ này được triều đình cử đi công vụ khắp trong Nam ngoài Bắc, đó chính là Doãn Uẩn và Nguyễn Công Trứ. Đại lược thế này:

Nguyễn Công Trứ (1778-1859), quê gốc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, cha Nguyễn Công Trứ làm quan dưới triều vua Lê, tới tước hầu, còn mẹ Nguyễn Công Trứ là người trấn Sơn Nam ngày xưa, nên ông được sinh ra từ quê ngoại là xã Địa Linh, huyện Quỳnh Côi, nay là huyện Quỳnh Phụ của tỉnh Thái Bình. Từng làm quan trấn trị nhiều nơi, nhiều chức vụ, có tài cả văn lẫn võ. Công trạng với triều đình nhà Nguyễn cũng khá nhiều. Riêng nói về việc võ, cụ thành công trong đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành ở trấn Sơm Nam Hạ (1827) và Nông Văn Vân ở miền núi phía Bắc (1833), đồng thời đánh dẹp một số cuộc nổi dậy khác ở Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, rộng ra cả vùng Đông Bắc nước Đại Nam nữa, đương nhiên là cùng với một số quan lại khác. Có công lao lớn với triều đình đấy, nhưng cụ lại có tội với nhân dân. Triều Nguyễn sưu cao thuế nặng, ra sức bòn vét sức dân để xây cất các cung điện, lăng tẩm nguy nga, khiến nhân dân vô cùng khốn khổ, điêu linh. Thời ấy đã có những câu ca dao thể hiện tinh thần phản kháng và nỗi uất ức của dân đen về việc này. “Vạn Niên là Vạn Niên nào / Thành xây xương lính, hào đào máu dân”. Thơ Cao Bá Quát và nhiều tác phẩm văn học thời kỳ này đã phản ánh tình hình chính trị và cuộc sống bần cùng của nhân dân vì những chính sách thuế khóa nặng nề. Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân chống triều đình liên tiếp nổ ra, chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc. Cuộc khởi nghĩa của nông dân vùng hạ lưu sông Hồng do Phan Bá Vành lãnh đạo và cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân chỉ là hai trong nhiều cuộc khởi nghĩa lớn ở thời ấy mà thôi. Đem đạo quân tinh nhuệ, trang bị đầy đủ nhất, hùng hậu nhất, để đánh bại một cuộc khởi nghĩa nông dân, chỉ trang bị sơ sài, dẫu có thắng lợi đi chăng nữa, phỏng có vẻ vang gì lắm đâu? Ngoài ra, Nguyễn Công Trứ cầm quân ở các nơi khác, ở phía Bắc, hay ở miền biên viễn phía Tây Nam khi cụ làm tuần phủ An Giang, làm tán lý việc quân cơ ở thành Trấn Tây (Chân Lạp) là vùng đất thuộc quyền bảo hộ của Triều Nguyễn ở thời vua Minh Mạng năm thứ 21. Việc giữ thành Trấn Tây (Cao Miên) do triều Nguyễn bảo hộ, cụ rất hăng hái, nhưng thành công thì ít, thất bại thì nhiều, thậm chí còn bị kỷ luật nghiêm khắc, bị vua Minh Mạng quở mắng thậm tệ, khép tội “trảm giam hậu” (Chém, nhưng còn tạm giam chờ lệnh) năm 1841, là vì cụ chỉ đắp lũy cố thủ, không chịu tiến binh. Rồi cũng có khi bị cách tuột xuống làm lính thú hầu hạ việc quân ở miền sơn cước tỉnh Quảng Ngãi (1843). Cụ có công lớn trong việc chỉ huy khai khẩn vùng đất Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) với chức Doanh điền sứ. Điều ấy là rõ ràng, không ai có thể thể phủ nhận. Nhưng giả sử triều đình cử một vị quan khác thực thi việc ấy, thì chắc ai cũng làm tốt cả thôi! Ví như cụ tiến sĩ Doãn Khuê, em con chú ruột cụ Doãn Uẩn, cùng người cộng sự đắc lực là Bùi Viện với công nghiệp mở mang cảng biển Hải Phòng, Lê Đại Cương (Cang) với việc chỉ huy đắp đê hệ thống đôi bờ sông Hồng chẳng hạn v.v…

Riêng nói về thơ văn, cụ Nguyễn Công Trứ là một thi sĩ tài hoa, lãng tử hết cỡ. “Giang sơn một gánh giữa đồng / Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ chăng”. “Gót sen theo đủng đỉnh một đôi dì / Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”. Kiếp sau xin chớ làm người / Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Cụ có tới 14 bà vợ, hơn hai chục người con, trong đó có 3 bà vợ quê Thái Bình quê tôi đấy. Cụ cũng là một trong số các thi nhân có nhiều giai thoại nhất. “Làm trai sống ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông”! Thích quá đi chứ. Vậy thì, kiếp sau mà được như cụ, thử hỏi ai chả muốn nào? Nhưng ai đó ca ngợi cụ là vị tướng tài “đánh đâu thắng đó” thì quả là bất cập và thực sự là còn thiếu khách quan…Cụ được đặt tên đường ở Hà Nội từ khi có chính quyền cách mạng đến nay. Thơ văn Quốc âm của cụ được đưa vào sách giáo khoa, nên được truyền tụng rộng rãi, điều ấy cũng không lấy gì làm khó hiểu. 

Cụ Doãn Uẩn (1795-1850), quê huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, sinh sau cụ Nguyễn Công Trứ khoảng 7 tuổi, nhưng lại mất trước Nguyễn Công Trứ tám năm. Doãn Uẩn cũng được triều đình cử đi đánh dẹp một số cuộc khởi nghĩa nông dân ở các tỉnh phía Bắc, và bắc miền Trung, nhưng khác với Nguyễn Công Trứ, Doãn Uẩn hiểu rõ nguyên nhân sâu xa của những cuộc nổi dậy chống đối triều đình. Dân ta vốn hiền lành, chả ai muốn gây sự với chính quyền đâu. Họ nổi dậy, chẳng qua chỉ là không thể chịu đựng thêm được nữa, vạn bất đắc dĩ đấy thôi. Vậy nên Doãn Uẩn sử dụng biện pháp “mềm” là chính, khuyên giải họ, thuyết phục họ là chủ yếu, khiến họ thuận lòng từ bỏ những cuộc đấu tranh đổ máu, không có lợi với họ và với đất nước. Cụ làm thơ thể hiện tâm sự của một sĩ phu yêu nước thương dân, lên án bọn cường hào ác bá tham nhũng đục khoét hại dân. Suốt đời cụ đau đáu một niềm thương dân. Cụ là vị quan của dân đen, đức cao vọng trọng, được chính nhà vua và nhân dân ca ngợi hết lời.

Chiến công của cụ Doãn Uẩn chủ yếu là chiến công đánh dẹp các cuộc xâm lấn của quân Xiêm (Thái Lan) và các loại kẻ thù khác, giữ vững biên cương và xây dựng cuộc sống an lành cho nhân dân ở một vùng biên viễn Tây Nam xa xôi của Tổ Quốc, rất nhiều khó khăn trở ngại. Nhiều khó khăn trở ngại lắm, vì triều đình xa quá, nhà vua xa quá, tướng ngoài biên ải thì phải chủ động mà có những quyết sách sáng suốt trong hoàn cảnh thực tế, trong quyền lực cho phép của mình, rồi tấu trình về triều đình sau. Làm quan văn, hay phải mặc áo giáp làm tướng đánh giặc, cụ đều hết lòng hết dạ và bao giờ cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chiến công hiển hách. Người Nam Bộ đánh giá về Doãn Uẩn thế này: “Là quan võ thì bất chấp cái chết, là quan văn thì chẳng ham tiền tài, lòng chỉ mơ ngày thiên hạ thái bình. Sống thì anh hùng và khi khái, chết thì oanh liệt như sống mãi”! Sử sách triều Nguyễn ghi chép rành rành, bia đá bảng vàng vẫn còn nguyên đó. Thơ Doãn Uẩn là thơ hiện thực, hướng về cuộc sống cần lao, kiểu như thơ Đỗ Phủ ấy, nó không tài hoa tài tử như thơ Nguyễn Công Trứ, không thơ Nôm như Nguyễn Công Trứ. Doãn Uẩn hiện tại chỉ thấy có thơ chữ Hán thôi, nhưng nếu nghiên cứu với cái tâm của người tôn trọng và ngưỡng vọng người xưa, đánh giá cho thật đầy đủ thì mới có thể nhìn rõ được con người cụ, mới thẩm thấu được vẻ đẹp tâm hồn và cái tâm trong sáng vô cùng cao quý của cụ. “Nhà cỏ, dân bần giữa đồng hoang / Trong nhà lạnh lẽo dân quen chịu / Ngoài lũy người run, giặc chẳng hàn / Dân lành khó nhọc chưa giúp được / Tay nâng chén rượu, dạ chẳng an”. rằng “Tâm trí người ta vì lợi mà tối tăm / Dân khổ vì chinh chiến ác liệt mà bỏ cả nghề nghiệp / Quan vì hối lộ mà thôn tính lẫn nhau”. “Xem ca múa ở chốn lầu xanh / Xe ngựa áo cừu đều cướp ở chốn làng mạc”. “Nhà nông năm nắng mười sương / Áo cơm trông ở ruộng vườn sớm hôm / Thu được mấy thúng thóc còm / Đầu tắt mặt tối đâu còn nghỉ ngơi / Trong xuất thuế nộp đủ rồi / Cường hào hà lạm lại xơi nửa phần”…Toàn là những bản dịch từ nguyên tác chữ Hán của Doãn Uẩn đấy thôi, nhưng đọc thơ cụ, đủ thấy con người Doãn Uẩn cao thượng và trong sáng như thế nào! Thơ cụ ngày nay vẫn còn rất nóng hổi tính thời sự, nghĩ mà xót xa cảm động vô cùng. Tuy nhiên, thơ chữ Hán của Doãn Uẩn cũng không ít tài hoa. Này nhé: “Những cánh buồm sớm lô nhô như treo hờ vào mặt trời / Tiếng đêm trong và ấm, yên tĩnh cho việc đọc sách / Ngoài cửa như có hoa và gió nhè nhẹ đến chơi”.. Ấy là chưa kể những trước tác, những ghi chép chân thực của Doãn Uẩn, có thể lấy làm tư liệu chuẩn xác cho việc nghiên cứu lịch sử một thời đại nhiều biến động ở cả ba miền đất nước. Một danh nhân kiệt xuất không tỳ vết như thế, tại sao Thủ đô ta lại chưa có con đường nào mang tên Doãn Uẩn? Ngày nay chúng ta có đủ cứ liệu và độ lùi cần thiết, bình tĩnh xem xét và đánh giá một cách toàn diện và công tâm về nhân vật lịch sử, cũng phải nên có những hành xử đúng mực với người xưa. Bởi lịch sử cần phải được nói đúng, đánh giá đúng, khách quan và trung thực, không vì những tình cảm gia đình, quê quán, vùng miền, hay những đố kỵ này khác một thời từng đã xảy ra…

Tôi yêu Nguyễn Công Trứ ở tài hoa nghệ sĩ, thầm cảm phục cụ ở sự khôn khéo về chính trị. Cụ vui chơi hưởng thọ tới hơn tám chục tuổi đời rồi mới chịu ra đi. Công và tội, khen với chê, yêu với ghét, nhiều khi cũng tùy vào thời thế, tùy vào sự ấm lạnh của người đời. Nhưng tôi kính trọng cụ Doãn Uẩn ở tài năng, văn võ song toàn, ở nhân cách kẻ sĩ cao thượng, ở cái tâm trong sáng, suốt đời tận trung với nước. Thanh liêm chính trực, sống nghèo, lại lo nghĩ nhiều, nên tuổi thọ Doãn Uẩn không cao. Điều ấy cũng là dễ hiểu. “Cho hay muôn sự tại trời”!...

(còn nữa)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}