Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phóng sự:

 

Miền Tây du ký - Kỳ 10: Nguyễn Bính ở Hà Tiên

Bút ký của Vũ Bình Lục | Thứ Tư, 17/08/2016 09:27 GMT +7

Hồi xưa, nhà thơ Nguyễn Bính quê tỉnh Nam Định cũng là một nhân vật văn chương có rất nhiều kỷ niệm với vùng đất miền Tây này. Mà chẳng phải những kỷ niệm bình thường nhàn nhạt “mờ mờ nhân ảnh” đâu, toàn những chi tiết rất “hót” nữa cơ! Phải nói thêm là một Nguyễn Bính thi sĩ chân quê, Nguyễn Bính đa đoan duyên nợ phong trần, giang hồ lưu lạc bốn phương tứ chiếng.

Một số tài liệu hiện có cho hay, thêm nữa, theo hồi ký của bà Mộng Tuyết, vợ thi sĩ Đông Hồ kể, thì khoảng đầu mùa hạ năm 1944, Nguyễn Bính chia tay nhà văn Tô Hoài và nhà văn Vũ Trọng Can ở Sài Gòn, rồi xách va li xuống tàu thủy xuôi về Hà Tiên theo lời mời của vợ chồng thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết. Trước đó, ba chàng nhà văn trẻ Bắc Hà đã rủ nhau khăn gói vào đất Sài Gòn chơi, một phần cũng nhân cơ hội này tìm kiếm ở phương Nam xem có chút “nắng mới” nào chăng. Sau một thời gian tự kiếm sống bằng ngòi bút, bằng cả việc đi bán dạo linh tinh, Tô Hoài và Vũ Trọng Can hình như thấy ở Sài Gòn, “Hòn ngọc Viễn Đông” nổi tiếng lúc bấy giờ đã là tạm đủ so với với mục tiêu cuộc HÀNH PHƯƠNG NAM của mấy anh nhà văn trẻ ưa giang hồ phiêu lãng. Họ đã lên tàu lửa trở về Hà Nội rồi. Nguyễn Bính thì chưa muốn dừng cuộc chơi còn dang dở, bởi vùng đất Hà Tiên mới lạ cho dù có thể là xa xôi lắm, nhưng chắc sẽ có nhiều điều mới mẻ và hấp dẫn lắm đây… 

Cũng theo hồi ức của bà Mộng Tuyết, một hôm Nguyễn Bính bất ngờ xuất hiện ở Hà Tiên với bộ dạng của một chàng thanh niên chưa rõ danh tính và thành phần cơ bản gì. Bộ com lê trắng đã ở mức nhàu nhĩ. Mái tóc bù xù. Tay xách chiếc va li nhẹ đã cũ. Có lẽ những thứ trang phục, y phục này đã theo Nguyễn Bính đi khắp trong Nam ngoài Bắc, từ Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn và bây giờ là đất Hà Tiên thơ mộng. Đang làm việc may vá ở một cái tiệm nhỏ ở khu chợ Hà Tiên, bà Mộng Tuyết chợt ngẩng nhìn ra ngoài, thấy một thanh niên có vẻ hơi lạ lùng nửa Tây nửa ta như thế, bà nghĩ, có lẽ là một người nào đấy từ đâu đó đến đây bán hoặc là giới thiệu sản phẩm hàng hóa gì đó chăng. Chiếc va li nhẹ kia, chắc là mấy thứ hàng mẫu được để trong ấy. Chàng tuổi trẻ nhìn chăm chăm vào bà Mộng Tuyết, rồi tiến nhanh đến gần tiệm may, kêu lên hồ hởi: “Chị Mộng tuyết phải không? Bính Đây!”…Sau vài giây ngỡ ngàng, bà Mộng Tuyết nhận ra thi sĩ Nguyễn Bính, là vì trước đó Nguyễn Bính đã gởi thơ vào Hà Tiên rồi. Họ cũng đã từng, tất nhiên, đọc thơ của nhau trên một số tờ báo. Hồi ấy cả nước mới có khoảng vài chục nhà thơ, một số tờ báo đăng thơ văn, có thể đếm trên đầu ngón tay, cho nên các nhà thơ dễ nổi tiếng lắm. Ví như cả nhà chỉ có bà vợ và dăm bảy cô con gái, thì ông chồng tất nhiên là đẹp giai nhất nhà còn gì !...Chả bù cho bây giờ, cả nước đâu đâu cũng có nhà thơ. Có gia đình hai ba, thậm chí tới bốn nhà thơ ấy chứ ! Nhà có một nhà thơ suốt ngày lẩn thẩn, đã là “tai họa” rồi, lại thêm bà vợ cũng tung tăng làm thơ nữa, thì cái sự choảng nhau sớm hay muộn cũng sẽ xảy ra thôi. Thế nên, mấy ông nhà thơ ở thời ấy thì quý hiếm còn hơn cả mì chính cánh ở thời bao cấp, dễ nổi tiếng cũng là chuyện đương nhiên vậy(!)

Hôm đi công tác vùng than ở Quảng Ninh về, nhà văn Đinh Thế Cường ngồi trên xe kể cho cả đoàn nhà văn nghe cái chuyện anh ta bán thuốc cai thơ, kiếm được hơn vài chục triệu, vui đáo để. Cười ra nước mắt. Cười vỡ cả bụng. Đây nhé! Số là có một cuộc hội ngộ thơ, phần nhiều là các nhà thơ tỉnh lẻ. Làm thơ rồi mà chưa được xuất bản, chỉ để mãi trong rương, không được đọc cho ai nghe thì nó phí cả thơ đi. Lại còn phí cả rượu đi! Cho nên, có người ngồi nghe thơ cho mình thì cũng là một dịp may hiếm có. Đã có câu: “Tặng gì thì tặng, xin đừng tặng thơ” rồi đấy. Nên quyết phải đọc. Giá nào cũng phải đọc. Mà tranh nhau đọc nữa cơ. Trước tình trạng ấy, ông Đinh Cường liền nghĩ ra một kế, bán thuốc cai thơ. Ông này tuyên bố, thay mặt ban tổ chức bán thuốc cai thơ. Ông bà nào đọc một bài sẽ phải nộp hai trăm ngàn đồng cho ban tổ chức. Đọc xong phải nộp ngay. Sau câu ấy, có nhiều người sờ túi, kiểm số tiền bọc theo trong ví của mình. Có một nhà thơ xung phong lên đọc. Đọc xong thì vỗ tay. Nhuận mồm chỉ bằng những tràng vỗ tay bồm bộp thôi. Thích quá, đọc một bài chưa thấy thấm tháp gì, chưa thấy đã cơn nghiền, nên nhà thơ này lại đọc tiếp. Hai bài rồi ba bài, vẫn chưa thấy đã cơn nghiền, nhà thơ thuận mồm cao hứng lại đọc thêm vài bài nữa. Cuối cùng thì ban tổ chức tuyên bố rằng ông nhà thơ này đã xuất bản năm bài, vị chi, tác giả phải nộp 1 triệu đồng. Cô thủ quỹ được lệnh đến tận nơi ngả nón mời thi nhân nộp tiền. Những tiếng thúc giục ồn ã. Những tiếng cười vui ngặt nghẽo. Đỏ mặt, nhưng nhà thơ kia vẫn vui vẻ tự giác rút ra 1 triệu đồng nộp vào quỹ cai thơ. Cứ thế, người này hấp dẫn người kia, tiếng thơ âm hưởng réo rắt mê hồn dẫn dụ níu kéo người thơ, người này tiếp người kia như một kiểu phát tán căn bệnh “hội chứng đám đông” vậy. Hứng thơ được kích hoạt, nó cứ làm lâng lâng bay bổng những cảm xúc mê ly không hề giống một thứ thuốc thang đặc trị nào khác. Tiền nộp quỹ cứ thế kìn kìn chảy vào chiếc nón cô thủ quỹ. Hết tiệc thơ, ban tổ chức đổ tiền ra đếm, cũng được hơn hai chục triệu đồng… Chuyện bán thuốc cai thơ thật là hi hữu, nhưng đấy lại là một câu chuyện rất mới, mới tỉnh tình tinh…

Thế là Nguyễn Bính thi sĩ được nhà thơ Đông Hồ bảo thợ may cho một bộ đồ mới, kiểu quần áo bà ba Nam Bộ rộng rãi thông thênh, nhưng lại được may bằng thứ lụa Hà Đông chỉ cần sờ vào một tý đã thấy mát lạnh cả người. Thi sĩ chân quê tỏ ra thích thú lắm. Lại còn đích thân viết vào áo mấy chữ: “Khả thủy sơn nhơn”, rồi lại do cô cháu gái Tú Ngọc 17 tuổi trẻ trung xinh đẹp của dì Mộng tuyết rất khéo tay đích thân thêu nữa chứ! Chả là chữ “khả” kết hợp với chữ “thủy” sẽ thành ngay chữ Hà. Còn như chữ “sơn” và chữ “nhơn” (Nhân) kết hợp với nhau, tất sẽ là chữ “Tiên” còn gì? HÀ TIÊN đấy. Nguyên thủy cái tên Hà Tiên, vốn có cái huyền tích nơi đây thường có nhiều nàng tiên nữ đẹp tuyệt trần đến chơi nhởi múa hát tha thướt trên sông…Hơn thế, tài tử Nguyễn Bính nhà ta còn được nhà thơ Đông Hồ nhường cho cái căn gác mang một cái tên rất thơ là “ĐÔNG PHONG TIỂU CÁC”. “Đông phong” là gió Đông, gió mát từ cửa biển Hà Tiên thổi vào. “Tiểu các” là một căn gác nhỏ, rất khiêm nhường. Đông Hồ nhường cho Nguyễn Bính căn gác này để nghỉ ngơi và sáng tác. Thế mới biết tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của Đông Hồ nó quý hóa làm sao! Thi nhân đích thực thường vẫn chơi sang như vậy đấy!

Nguyễn Bính ở căn “Đông phong tiểu các”, căn gác nhỏ đón gió Đông, chắc chắn sẽ có thêm nhiều cảm hứng để làm thơ. Dần dà ít hôm thì cô tiểu thư xinh đẹp Tú Ngọc cháu bà Mộng Tuyết đã chuyển cách gọi “chú Bính” sang gọi ngay “anh Bính” lúc nào không hay. Họ đã thành đôi tình nhân thật sự. Ở đây, Nguyễn Bính đã sáng tác những bài thơ về nàng Tú Ngọc mà ông vô cùng say đắm. 

“Trong vườn thấp thoáng bóng ai đi,
Cô cháu, Minh hương tuổi mười bảy
Mũi thẳng, mi cong, tóc mướt dài,
Răng đều, môi mọng, ngực tròn mẩy
gặp nhau, chào nhau, rồi quen nhau
Ngày một ngày hai thành luyến ái” 
(Hà Tiên-Người xóm Rẫy)

Đấy! Nguyễn Bính kể về cuộc hội ngộ bất ngờ, mà như cơ duyên trời khiến, để rồi ra có được một cuộc cuộc tình đầy chất thơ đi mãi vào lịch sử văn chương nước nhà như vậy đấy! Ôi chao! “Vườn trăng cầm tay, thương quá đi / Một ngày không gặp, nhớ biết mấy / Thơ tôi người gối trên đầu giường / Đêm che ánh đèn đọc vụng mãi / Khăn tôi xổ chỉ, áo long khuy / Người bảo đưa nàng khâu vá lại / Có hôm tôi bệnh nằm li bì / Người đến canh chừng siêu thuốc cháy / Áo len đương mặc cởi cho tôi / “Hà Tiên gió biển lạnh lắm đấy”! (Hà Tiên-Người xóm Rẫy)…

Có một điều hơi lạ là thời gian này Nguyễn Bính viết chủ yếu bằng thể loại thơ luật, thất ngôn bát cú, thất ngôn trường thiên, hoặc ngũ ngôn, lại chủ yếu là tả và kể. Nhưng có một hôm, vào ngày tết Đoan Ngọ, bà Mộng Tuyết dùng một thứ cây cỏ gì đó nấu nước cho thơm. Nguyễn Bính chưa biết cây cỏ gì, liền hỏi. Bà Mộng Tuyết bảo rằng đây là cây cỏ xương bồ đấy. Nghe cái tên là lạ, hay hay, Nguyễn Bính liền lấy cái tên này đặt tên cho một tập thơ lục bát của mình là THẠCH XƯƠNG BỒ. Mỗi ngày thi nhân viết cả mấy trang thơ lục bát. Bà Mộng Tuyết bảo Nguyễn Bính viết thơ lục bát như viết văn xuôi vậy. Mà Nguyễn Bính không yêu thì không phải là Nguyễn Bính !...

Nhưng mà “nửa năm hương lửa đương nồng / Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” (Kiều). Thi nhân Nguyễn Bính lại bỗng dưng nổi máu giang hồ. Ông quyết dứt áo ra đi theo tiếng gọi lãng tử phiêu diêu. Mọi người khuyên chàng Bính ở lại, nhưng đều vô hiệu. Chàng thi sĩ chia tay người đẹp Tú Ngọc và gia đình Đông Hồ-Mộng tuyết, tạm biệt Hà Tiên mộng mơ, rồi xuống tàu vượt biển về Sài Gòn, để lại nỗi nhớ nhung khôn vơi cho mĩ nhân Tú Ngọc…

“Rồi tôi khăn gói lại lên đường / Người ra bờ sông đứng khóc mãi / Tàu đi xa mấy dặm sông dài / Ngoảnh lại vẫn còn tay Ngọc vẫy” (Hà Tiên-Người xóm Rẫy)…Vẫn là lời thơ Nguyễn Bính tài tử đa tình mà giang hồ phiêu lãng đấy!

Nhưng cũng chưa mấy người biết về một Nguyễn Bính cách mạng sôi nổi, rất nhiều nhiệt huyết tuổi trẻ. Còn nhớ, nhà báo Nguyễn Thế Khoa, Tổng biên tập tạp chí Văn hiến Việt Nam kể với tôi mấy câu chuyện rất thú vị về Nguyễn Bính ở miền Tây. Nguyễn Bính từng lưu lạc vào Huế đầu những năm bốn mươi của thế kỷ trước. Một thi sĩ nghèo, sống lang thang chật vật ở cố đô Huế. Nhiều khi bế tắc, ông thường than thở và gởi cho con gái những lời thơ chân thành, xót xa đứt ruột: “Nhất kiêng chớ lấy chồng thi sĩ / Nghèo lắm con ơi, bạc lắm con”! Thế rồi Nguyễn Bính hình như cảm thấy mình không thể làm gì được, không thể lang thang lưu lạc mãi với Huế mộng mơ, thi sĩ lại quay về Hà Nội. Khoảng đầu năm 1943, Nguyễn Bính lại tìm đường vào Nam cùng với Tô Hoài và Vũ Trọng Can. Lần này ông vô Sài Gòn. Ở đây, thi sĩ chân quê đã sáng tác được một số bài thơ mang hơi thở mới, tâm sự mới của một người trai dường như bế tắc trước cuộc sống thị thành. 

Sau đó ít lâu, Nguyễn Bính lại trôi dạt vào miền Tây như đã kể ở trên kia. Cách mạng tháng Tám thành công, thi sĩ Nguyễn Bính được người ta cử làm Chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến Hà Tiên. Theo một số tài liệu được thấy trong một số hồi ký của những người đương thời, chúng ta được biết thêm một số chi tiết thú vị. Nhà báo Nguyễn Thế Khoa kể rằng, một hôm ông Lê Duẩn cùng ông Trần Bạch Đằng (tên thật là Trương Gia Triêu), bút danh Hưởng Triều, Nguyễn Hiểu Trường, Nguyễn Trương Thiên Lý…cùng ngồi trên một con thuyền bơi trên một dòng kênh ở Tháp Mười mênh mông trong đêm thanh vắng. Ông Ba Duẩn thì nằm mơ màng trong thuyền, còn ông Trần Bạch Đằng hình như cảm thấy bí bách thế nào ấy, không sao ngủ được, liền chui khỏi khoang thuyền ra ngoài, ngồi một mình ở mũi thuyền cho sảng khoái. Đêm thanh gió mát sảng khoái quá, ông Trần Bạch Đằng bỗng nổi hứng thi nhân, liền ngâm lên một đoạn thơ nghe rất mùi mẫn. Không gian sông nước vô cùng yên tĩnh. Tiếng thơ ngâm dường cũng chứa chất nhiều tâm tưởng, như vương vấn chút tâm trạng của thi nhân Bạch Cư Dị trên bến Tầm Dương thuở nào bên Tàu. “Bến Tầm Dương canh khuy đưa khách / Chạnh hơi thu lau lách đìu hiu / Người xuống ngựa, khách dừng chèo / Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti”…Bây giờ đây, ông Trần Bạch Đằng đang ngâm thơ “Lỡ bước sang ngang”. Nghe mùi mẫn quá. Ông Ba Duẩn nằm nghe ông Trần Bạch Đằng ngâm thơ, thấy hay quá, ông liền bật dậy, chui ra khỏi khoang thuyền hỏi ông Trần bạch Đằng rằng thơ của ai mà hay đến thế? Ông Hưởng Triều bảo đấy là thơ của thi sĩ Nguyễn Bính. Nghe vậy, ông Ba Duẩn chỉ đạo tìm ngay Nguyễn Bính về đây! Phải chiêu mộ cho được một người tài hoa như Nguyễn Bính để sáng tác phục vụ kháng chiến. Thế là Nguyễn Bính được mời về công tác ở Ban văn nghệ Khu Chín, hồi ấy đâu như do nhà thơ Bảo Định Giang phụ trách… Cũng chính ở miền Tây sông nước này, Nguyễn Bính đã sáng tác bài thơ TIỂU ĐOÀN BA LẺ BẢY, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc và ca sĩ Quốc Hương, một người con quê gốc tỉnh Ninh Bình phiêu dạt vào Nam hát. Tiêng hát Quốc Hương đã trở thành đặc sản văn hóa từ lâu lắm rồi, mặc dù người ấy đã ra đi mãi mãi…

Có nhẽ đã vài tháng rồi, hôm nay tôi mới có dịp thong thả ghé thăm tạp chí VĂN HIẾN VIỆT NAM lấy mấy tờ tạp chí mới in bài BỒNG BỀNH BA BỂ (trích) của tôi. Tổng biên tập Nguyễn Thế Khoa bảo rằng cái hội thảo trong Châu Đốc cũng chỉ tiến hành được một buổi. Kinh phí có hạn mà. Cái tham luận KẺ SĨ BẮC HÀ Ở BIÊN VIỄN TÂY NAM TỔ QUỐC của tôi cũng sắp được in vào sách kỷ yếu rồi đấy. Nhấp một ngụm nước, ho nốt cơn ho do căn bệnh khó thở mãn tính, anh bạn Thế Khoa lại kể tiếp câu chuyện về các mối tình khác của thi sĩ chiến sĩ Nguyễn Bính ở miền Tây Nam Bộ. Thơ Nguyễn Bính viết ở Nam bộ rất hay, nhiều bài hay. Thế Khoa khẳng định như thế. Và còn khẳng định thêm rằng, thơ Nguyễn Bính viết ở Nam Bộ được nhiều người hâm mộ, còn hơn cả Tố Hữu với Việt Bắc. Nói rồi anh đọc cho tôi nghe mấy đoạn, rồi kể tiếp câu chuyện về một nhà thơ vào cỡ trung tuổi, trẻ không còn trẻ, mà già thì cũng chưa phải là già. Ông này bảo thơ Nguyễn Bính nói vậy nhưng cũng chẳng có gì đặc sắc lắm. Thế Khoa liền cãi, rồi hỏi anh đã đọc hết Nguyễn Bính chưa? Không đọc thì đừng có phán bừa. Một số anh nhà thơ choai choai ở ta hay mắc căn bệnh tinh tướng, “Hạ mục vô nhân”. Tác phẩm của họ vào loại xoàng xoàng vậy thôi, mà cái sự tinh tướng thì ghê lắm. Ai cũng chê, xem thiên hạ chỉ có anh ta và mấy người bạn thân của anh ta là giỏi giang nhất trong nền thơ đương đại ở Việt Nam. Nói rồi Thế Khoa đọc cho anh chàng nhà thơ tinh tướng kia mấy bài, mấy đoạn tiêu biểu mà Nguyễn Bính viết trong kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Nghe rồi anh chàng kia mới phải tâm phục khẩu phục. Thế Khoa cho rằng trong các nhà thơ Mới thì Nguyễn Bính là nhà thơ hiện thực bậc nhất đấy! “Mẹ con nịt vú cho tròn lại / Chiều cái hoang tàng lũ khách chơi / Đời cha lưu lạc quê người mãi / Kiếp mẹ đêm đêm bán khóc cười”… Đấy, mấy câu thơ Nguyễn Bính viết cho con gái, kết quả mối tình của Nguyễn Bính với một cô kỹ nữ ở Hà Thành, khi Bính còn đang lưu lạc ở Huế. Còn ai trong các nhà thơ Mới hiện thực hơn Nguyễn Bính nào?...

Hồi ấy, biết Nguyễn Bính đã đi theo cách mạng, đi theo kháng chiến, ông Nguyễn Văn Thinh, Thủ tướng chính phủ thân Pháp có ý tưởng tìm cách chiêu hồi thi sĩ tài hoa xứ Bắc. Tuy nhiên, biết được ý đồ của ông Nguyễn Văn Thinh, ông Ba Duẩn chỉ đạo phải tìm ngay một cô vợ cho Nguyễn Bính, để “nó” yên lòng với kháng chiến. Mà tiêu chí phải là một cô gái trẻ đẹp, chẳng những đẹp mà còn phải có tư tưởng vững vàng mới được. Rồi họ tìm cho Bính một cô vợ có đủ các tiêu chí ấy, con nhà dòng dõi cách mạng kiên trung. Cô gái ấy chính là Nguyễn Hồng Châu. Đám cưới được tổ chức giản dị mà ngon lành. Mấy tháng sau, hoặc gần một năm sau thì cô Hồng Châu có mang. Nhưng ở với Hồng Châu một thời gian, Nguyễn Bính như cảm thấy có cái gì đó không hợp với mình. Hình như Nguyễn Bính thi sĩ thích được tự do, hơn là một mối tình tròn vo viên mãn. Không muốn chịu gò mình vào một cái khuôn thước nào, nên chàng thi sĩ ưa giang hồ lãng tử lại xin tổ chức cho giải tán cuộc hôn nhân này. Có điều hơi lạ lùng là chính ông Ba Duẩn lại là người đồng ý, chứ không hề ngăn cản. Hóa ra ông Ba Duẩn lại là người cảm thấu cái chất nghệ sĩ phóng túng, cái tâm trạng yêu thích tự do của anh chàng thi sĩ chân quê. Rồi sau đó Bính lại lấy vợ mới, một cô gái cũng rất xinh đẹp, có tên là Mai Thị Tới, sau có với Nguyễn Bính một người con gái. Bà Hồng Châu cũng sinh cho Nguyễn Bính một cô con gái, sau chính là nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu đấy! Cách đây khoảng vài ba năm, tôi có dịp cùng nhà văn Nguyễn Khoa Đăng đến thăm bà Hồng Châu, ở ngôi nhà lưu niệm Nguyễn Bính nơi quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn. Hôm ấy, chính là ngày giỗ nhà thơ chân quê Nguyễn Bính… Bà Hồng Châu bấy giờ đã già, nhưng vẫn còn phảng phất cái bóng dáng của một bông hồng xưa cũ. Tuy nhiên, Bài thơ GỬI NGƯỜI VỢ MIỀN NAM mới chính là bài thơ Nguyễn Bính viết cho mối tình của ông với bà Mai Thị Tới, chứ không phải là viết cho mối tình của Nguyễn Bính với bà Hồng Châu. Thế Khoa bảo tư liệu do nhà báo trẻ Lê Thiếu Nhơn cũng cấp là hoàn toàn chính xác. “Cái thằng Lê Thiếu Nhơn nó viết thế là đúng đấy!” Nguyễn Thế Khoa bảo vậy…

(Còn nữa - Ảnh tư liệu)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}