Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phóng sự:

 

Miền Tây du ký - Kỳ 11: Người của ngày xưa

Bút ký của Vũ Bình Lục | Thứ Sáu, 19/08/2016 22:02 GMT +7

Ở cái xã Bình Giang của huyện Hòn Đất này, tôi có khá đông bà con nội ngoại. Một ông chú bên ngoại làm Giám đốc nông trường Bình Sơn II ngay từ khi nó được thành lập. Ông ấy cũng đã mất cách nay mấy năm, hồn vía và thân xác đã gửi lại cái nơi mà ông đã sống một thời còn gian khổ và vô cùng thiếu thốn.

Gia đình ông Vũ Quang Triệu

Còn một ông chú nữa bên ngoại, cũng bằng vai với cha tôi, từng là Chủ tịch công đoàn của nông trường Bình Sơn II mà không thể nào không nhắc đến. Đó chính là ông Vũ Quang Triệu, năm nay cũng đã ngoài tám chục tuổi rồi. 

Còn nhớ, căn nhà ông Triệu ở ngày xưa bên cạnh có cái ao nho nhỏ. Trước mặt là mảnh ruộng cũng nho nhỏ của nhà tôi, thường cấy lúa và trồng rau. Lại còn cả một cái gò đất cao cao, cây cối rậm rạp, có cái miếu nhỏ nghe các cụ truyền lại là thiêng lắm. Hồi còn nhỏ, mỗi lần đi bắn chim hoặc câu cá trộm đi qua đó, tôi vẫn thấy gai gai rờn rợn thế nào ấy. Chỉ dám liếc qua một tý rồi chuồn cho mau. Ao chuôm và tre pheo giải khắp xung quanh những cái ao cũng không phải là lớn lắm của mấy gia đình bà con trong làng. Đất và ao ấy trước đó là của các cụ nhà tôi. Cha mẹ mất, anh trai của ông Triệu cũng hy sinh trước hôm đất nước hòa bình. Năm 1954, tôi được sáu tuổi. Nhớ như in cái đám cưới của anh trai ông Triệu. Bọn trẻ con chúng tôi còn rủ nhau giăng dây ngang ngõ xóm, gọi là dây tơ hồng, có ý cản cuộc rước dâu, để đòi được thưởng ít tiền “mãi lộ”. Đấy không phải là một trò đùa vô văn hóa, mà lại là một mĩ tục của ngày xưa. Ông Điệu (anh trai ông Triệu) là bộ đội chủ lực của tỉnh, bấy giờ làm đến chức trung đội trưởng bộ binh. Đám cưới xong thì ông Điệu nhận được lệnh dẫn quân tập kích bốt Kha Lý ở xã Thụy Quỳnh, chỉ cách làng tôi khoảng ba cây số theo đường chim bay. Nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha kể với tôi rằng anh ấy được mẹ sinh ra ở ngay cái làng Kha Lý ấy đấy. Bởi thế nên cha mẹ ông nhà thơ kiêm nhạc sĩ này mới lấy địa danh nơi sinh để dặt tên cho thằng con trai của mình, đồng thời cũng là bút danh của nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha. Thụy Kha, nghĩa là làng Kha Lý, huyện Thụy Anh quê tôi. Đêm ấy ông Điệu hy sinh ở cái bốt Kha Lý ngay gần nhà. Ngày hôm sau thì quân viễn chinh Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ, hòa bình được tái hồi sau chín năm trường kỳ kháng chiến. Thật đáng tiếc vô cùng.

Anh trai mất rồi, ông Triệu thành kẻ mồ côi, rồi được gia đình bên ngoại của cha tôi cưu mang. Đến tuổi trưởng thành rồi nhưng ông Triệu vẫn ở một mình. Tôi thường mon men qua nhà chơi với ông, kể cả việc theo ông đi đào hang bắt chuột, bắt ếch đem về xào nấu ăn uống sì sụp cả đêm. Hồi cải cách ruộng đất, gia đình anh em nhà bác ruột ông Triệu bị quy lên thành phần địa chủ, mặc dù mấy ông anh chú bác của ông đều là những người tham gia kháng chiến chống Pháp, là cán bộ tiền khởi nghĩa có công với nước. 

Hôm người ta đem bác dâu của ông Triệu ra tòa án lập ở ngay sân đình Cả đầu làng để đấu tố, cả làng đều phải ra chứng kiến. Tôi còn bé nhưng cũng cố len lỏi chen vào đứng xem. Ông Triệu được cán bộ đội cải cách xếp vào thành phần bần cố nông, cốt cán, nên họ bắt ông phải đứng trước mặt bác dâu của mình mà tố cái khổ bị cường hào địa chủ nó áp bức bóc lột mình như thế nào. Vậy nhưng ông có phải là kẻ bị bóc lột bao giờ đâu. Là vì ông mồ côi, được gia đình ông bác ruột nuôi thì sao lại bảo là kẻ bị bóc lột cơ chứ! Thấy ông cứ đứng trơ ra đó, chẳng nói được câu gì, nên cán bộ cải cách phải thúc ông tố khổ ngay đi. Bà địa chủ cúi đầu lắng nghe người bị hại tố cáo cái gọi là tội ác của mình. Họ cứ thúc hoài, buộc ông Triệu phải tố khổ. Cuối cùng, cực chẳng đã, ông hỏi khổ chủ một câu, rằng bà T, bà có biết tôi là ai không? Bà khổ chủ không dám ngửng mặt lên, trả lời rằng “Dạ, con biết ông là ai rồi ạ! Dạ! Ông là ông Hâm ạ !”. Nghe đối đáp có vẻ không ổn, cán bộ cải cách bảo ông Triệu không được gọi tên địa chủ bằng “bà” mà phải xưng hô với nó bằng “mày, tao” mới được (Hâm, chính là tên cúng cơm của ông Triệu bây giờ). Ông Triệu lại bảo “vâng, cháu là Hâm đây ạ!”. Nghe cuộc đối chất giữa khổ chủ và kẻ bị bóc lột có vẻ chệch choạc dở hơi như thế, cán bộ xử án liền tiến đến lôi tuột ông Triệu xuống, không cho tố nữa. Chuyện này, cho đến tận bây giờ dân làng tôi vẫn thường truyền khẩu với nhau, chưa biết đến bao giờ mới thôi…

Ông Triệu nghỉ hưu khi nông trường cũng đã đến lúc giải thể. Tôi từ Hà Nội vào đây, trước hết là đến thăm ông và gia đình ông, vì ông chính là bậc trưởng lão duy nhất của tôi hiện còn sống ở đây. Hồi còn học cấp 3 bên tỉnh Kiến An (thuộc Hải Phòng bây giờ), thi thoảng lại túc tắc đi bộ mấy cây số về thăm gia đình ông Triệu ở một xã gần đó. Hồi ấy ông Triệu làm cán bộ ngành địa chính, chuyên việc đi đo đạc ruộng đất thì phải. Ông gặp bà Liên, rồi họ thành vợ thành chồng. Đám cưới ông Triệu bà Liên tôi cũng về dự. Còn nhớ hồi ấy bà Liên làm cán bộ bán hàng mậu dịch của xã. Biết tôi thiếu thốn, một hôm bà mang về cho tôi cái hộp thuốc đánh răng nhãn hiệu Ngọc Lan hay là Ngọc Mai gì đó. Quý lắm. Là vì thời bao cấp, đến như cái kim sợi chỉ cũng hiếm hoi. “Một yêu anh có may ô / Hai yêu anh có cá khô ăn dần / Ba yêu rửa mặt bằng khăn / Bốn yêu có thuốc đánh răng cả ngày”. Đấy! Có được hộp thuốc đánh răng mà dùng, chả phải đã là một tiêu chí quan trọng để được các cô gái quan tâm, là sang lắm rồi sao? Bây giờ thì tiêu chí “Nhà mặt phố, bố làm to” mới sang, nhưng ngày xưa là vậy. Có cái áo may ô để mặc, có cá khô mà ăn dần, có cái khăn để rửa mặt, lại thêm có được hộp thuốc đánh răng mà sài cả năm thì còn ai hơn nữa, cô nào chả muốn lấy làm chồng! Đọc các tư liệu văn học nghệ thuật, mới hay rằng ngày xưa các nhà văn hóa lớn như Nguyễn Hữu Đang, nhà thơ Phùng Cung, nhà văn Nguyên Hồng, danh họa Nguyễn Sáng v.v…cũng chỉ mặc độc chiếc áo may ô rách, màu cháo lòng thôi đấy! Bà Liên để dành cho tôi hộp thuốc đánh răng là bà quý tôi lắm đó! Chuyện nhỏ như con thỏ, nhưng mà “một miếng khi đói, còn hơn một gói khi no” cơ mà! 

Lại nhớ, hồi tôi về dạy học ở hai trường cấp 3 Đông Thụy Anh, rồi Tây Thụy Anh ở quê, đất nước vẫn còn đang ở thời kỳ khốn khó. Công đoàn trường giữ trách nhiệm là tổ chức phân phối các thứ tạp hóa cho công đoàn viên, đấu tranh cho quyền lợi của công đoàn viên. Có người bảo rằng tổ chức công đoàn ở ta, chẳng qua cũng chỉ là một tổ chức “ăn theo nói leo” thôi, chứ chả có vai trò gì đáng kể. Nhưng mà ở thời bao cấp, nó lại trở thành một tổ chức có vẻ như rất quan trọng. Đơn giản là vì nó được cái quyền, cái nhiệm vụ đứng ra làm công việc chia chác các thứ nhu yếu phẩm, ví như phân phối vài cái xăm xe, lốp xe, vài thứ phụ tùng xe đạp, hoặc là vài thứ vải vóc, xà phòng, mì chính…mỗi khi được nhà nước phân phối. Đôi khi có cả mấy cây tre, hoặc một vài bao xi măng chẳng hạn…Tôi ăn hiền ở lành, cũng có lần được công đoàn phân chia được mua nửa bao xi mang nhãn hiệu Hải Phòng, cũng sướng như mở cờ trong bụng. Rồi thì phải chờ đến chiều thứ bảy, mới vội vã cắt cơm bơm xe rồi hăm hở mà gò lưng ngược gió đạp mười lăm mười sáu cây số về nhà cho chú em sửa cái mái hiên bị dột. Toàn là hàng hóa tự sản tự tiêu, được mua với giá ưu đãi, rẻ như cho. Hàng hóa khan hiếm, nên có một chút lộc thì phải tính toán chi ly, sao cho ai cũng được vui lòng. Thật khó lắm thay. Nhiều khi cãi vã, đỏ mặt tía tai, mất cả anh em bè bạn vì một cái xăm xe đạp hoặc cái lốp xe phân phối. Các thầy cô giáo đi xe đạp, nhiều ông phải lấy giẻ rách quấn vào lốp xe cho nó khỏi bật tung ra. Vỡ lốp xịt hơi thì vẫn là chuyện thường ngày ở huyện. Thế nên không thể nào quên cái tình cái nghĩa của một thời khốn khó, cả nước đều nghèo. Nhưng mà ai cũng nghèo cả với nhau, có khi lại còn vui hơn bây giờ ấy chứ! Có nhiều kẻ quá giàu, còn người dân quê vốn dĩ đã nghèo thì lại vẫn còn nghèo, chưa làm sao ngóc đầu lên được. Cái túng cái bấn nó cứ nhì nhằng đeo đuổi mãi, nó làm khổ người ta năm này qua năm khác, chả biết đến khi nào mới gỡ được đây!

Lại nói, gia đình chả còn ai, nên ông Triệu ở luôn nhà vợ. Ông bà chỉ sinh được hai cô con gái. Trước khi chuyển vào Kiên Giang, chính bà Liên khuyên ông Triệu nên lấy thêm một bà vợ nữa, để ông có thể có được mụn con trai nối dõi. Nói thế là bà Liên thương ông lắm, thương một cách cao thượng nữa cơ. Cả hai ông bà đều là cán bộ, đảng viên, nhưng tổ chức hình như cũng thông cảm, lờ đi, vì ông là thành viên duy nhất của gia đình liệt sĩ. Chả ai nỡ để gia đình ông tuyệt tự. Cũng là chuyện “lách luật” cả thôi, nhưng là một sự “lách luật” rất chi là “nhạy cảm” đấy! Bà vợ thứ hai chính là bà Chè, sinh liền cho ông Triệu ba cậu con trai tuấn tú, đều đã trưởng thành. Các con gái con trai của ông cũng công tác hoặc lập gia đình gần đó. Trời cho ông sức khỏe và niềm hạnh phúc với con cháu quanh mình. Âu cũng là một cái kết có hậu vậy!

Đến bây giờ, ông Triệu vẫn còn rất minh mẫn. Ông cũng có một chút máu mê thi sĩ. Hôm tôi ở thăm gia đình, ông cũng đem thơ ra đọc tôi nghe. Nhưng mà toàn là thơ ca ngợi cụ Hồ, ca ngợi đảng Cộng sản, ca ngợi cuộc sống mới. Ông cũng nhờ con cháu đánh máy thành tập, co chữ 16 cho dễ nhìn. Tôi thưa rằng thơ ông nội dung thì phải nói là rất tốt, chả có thằng biên tập nào dám chê cả đâu. Nhưng mà nó cũ lắm rồi, cũng chỉ cao hơn hò vè một tý, có thể “xuất bản” trong phạm vi hẹp thôi. Thế mày bảo thơ tao chẳng có giá trị gì à? Ông Triệu vừa cười vừa nhìn tôi thăm dò. Có chứ! Tôi vội bào chữa cho ông khỏi buồn. Có giá trị lắm, trước hết là cho tinh thần ông được tươi trẻ, sảng khoái để vui nốt cái phần đời còn lại. Sau nữa là được cồng hiến cho bà con làng xóm, các vị bô lão và các vị đồng hương mỗi khi gặp mặt. Nó có giá trị, nhưng là một giá trị nho nhỏ, có phải không ạ! Ông Triệu lại cười bao dung. Mày nói thế cũng phải. Tao cũng chỉ làm mấy bài cho vui đấy thôi. Nhưng mà đem khoe với hai bà đây, các bà ấy cũng sướng đến chảy cả nước mắt ra ấy chứ!...

Nói gì thì nói, lớp người mẫu mực, sống trung thành tuyệt đối với cách mạng như ông bà Triệu đây, cũng chả có nhiều nhặn gì lắm đâu. Hôm tôi đến đây, ông Triệu và các bà mừng lắm. Các em các cháu cũng mừng ra mặt. Ông bà Triệu quý tôi, luôn tự hào về thằng cháu tuy lận đận nhưng có chí tiến thủ. Mấy đứa em đang mỗi đứa một gia đình, nghe tôi ở Hà Nội vào chơi, cũng đều lần lượt kéo nhau về cả. Ông Triệu cầm điện thoại gọi mấy đứa đang ở đầm tôm bắt đem về các thứ hải sản tự cung tự cấp, tươi ngon. Quả là “một cây cù mộc, đầy sân quế hòe”. “Trời còn để có hôm nay / Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời”. Một đời người vất vả, được như vầy, được như vầy thôi, chẳng phải cũng là mãn nguyện rồi sao? Người ta quan chức giàu sang, lắm tiền nhiều của thì mặc kệ người ta. Tiền bạc chảy về nhanh, thì rồi nó đội nón ra đi cũng nhanh như thế, nếu đó là thứ tiền bẩn, bất minh. Tôi đem tặng ông Triệu bộ sách HỒNG HẠC CÕI TRỜI NAM, ông mừng ra mặt. Tuổi già đọc sách viết về người xưa, lại do chính con cháu mình viết ra, suy ngẫm và còn có thể “ngộ” ra được những điều thú vị về lẽ đời nông sâu chìm nổi, chẳng phải cũng là một điều hạnh phúc hay sao?...

(còn nữa)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}