Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phóng sự:

 

Miền Tây du ký - Kỳ 4: Hà Tiên đất văn

Thứ Tư, 20/07/2016 21:14 GMT +7

Thị xã Hà Tiên có đền thờ họ Mạc, bây giờ đã là khu trung tâm văn hóa tâm linh của thị xã. Trước đây, Đại học sĩ Trương Đăng Quế đi kinh lý, tổ chức lại việc cai trị miền biên viễn Tây Nam vừa trải qua chiến tranh.

Ông về tâu trình vua Thiệu Trị: “Việc mở mang đất Hà Tiên lúc ban đầu do công lao của Mạc Thiên Tứ, nên lưu dùng lại con cháu họ Mạc”. Nhưng tài liệu này lại ghi năm 1836, không chính xác. Thiệu Trị lên ngôi năm 1841, khi Minh Mạng chết cơ mà. Nhưng điều này thì đúng: “Đời Thiệu Trị thứ năm (1845), nhân tấu trình của quan tổng đốc An-Hà là Doãn Uẩn, vua có lệnh cho tìm lại con cháu họ Mạc, người nào có tài có thể dùng thì tâu lên”. Nhà vua cũng thuận cho xây dựng đền thờ mới hoành tráng hơn, nhưng ở khu đất mới, chính là khu đền thờ có ba chữ Hán MẠC CÔNG MIẾU mà tôi đang đứng trước cửa đây. Nhìn sang hai bên cổng, lại thấy có cặp liễn đối chữ Hán ca ngợi công lao họ Mạc:
Nhất môn trung nghĩa gia thanh trọng
Thất diệp phiên hàn quốc lũng vinh
Nghĩa là:
Một nhà trọng nghĩa, danh thơm cả họ
Bảy lá giậu che, cả nước mến yêu!
Chúng tôi đã lặng lẽ lên thăm toàn bộ khu tâm linh đẹp đẽ và hoành tráng này, với niềm ngưỡng vọng tôn kính người xưa. Những ngôi mộ liền kề nhau dưới bóng rừng cây cổ thụ, trong đó, lớn nhất là ngôi mộ Mạc Cửu, được cấu trúc vòng cung kiểu trâu nằm, biểu tượng của quyền lực và sự mạnh mẽ. Mộ vợ ông là bà Bùi Thị Lẫm, (sau chúa Nguyễn cho đổi sang họ Nguyễn) quê xứ Biên Hòa, đã sinh cho Mạc Cửu người con trai đầu lòng, kế tục sự nghiệp vẻ vang của ông là Mạc Thiên Tứ (Mạc Thiên Tích - Mạc Sĩ Lân). Ngôi mộ Mạc Thiên Tứ cũng được người đời nay xây dựng rất đẹp, theo truyền thống của người Tàu. Tuy nhiên, họ Mạc của Mạc Cửu từ Quảng Đông sang đây, cũng là người trong Bách Việt thời Triệu Vũ Đế cả thôi. 
Ngẩn ngơ ở chốn mơ màng như thấy rất nhiều những nàng tiên đang nhảy múa trên sông, tôi chợt nhớ câu chuyện cụ Doãn Uẩn, An Tây mưu lược tướng, kể trong sách TUY TĨNH TỬ TẠP NGÔN, đại khái, cụ viết: “Mùa thu năm ngoái, ta vâng kiếm lệnh của nhà vua đi dẹp giặc cỏ ở nơi sơn cùng thủy tận, nhân đó có dịp tới Hà Tiên. Cảnh vẫn còn đó mà người xưa đâu tá? Vừa rời khỏi yên ngựa, áo vẫn nồng nàn khói đạn, lòng vẫn nặng trĩu gươm lệnh, chưa kịp nhắp chén rượu tẩy trần, ta đã hạ lệnh cho tướng sĩ mau dâng lên HÀ TIÊN THẬP CẢNH ĐỀ của cố Mạc Tướng Công (Mạc Thiên Tứ-VBL).
Mùa thu, trời không trăng sao…ta quên ăn quên ngủ đọc liền một mạch. Mắt có nhìn thấy cảnh vật đâu, nhưng qua thơ Mạc Tướng Công, cảnh vật cứ như thể hiển hiện trước mắt mình. Bây giờ là nửa đêm chăng, ta không nhớ kỹ nữa, vì thơ và rượu làm người say ngầy ngật, ta đương trầm ngâm đọc bài TRỐNG ĐÊM Ở GIANG THÀNH của Mạc Tướng Công trong thư phòng của chính người xưa. Cũng chính bấy giờ, từ đồn Giang Thành, trống quân báo giặc tới cũng thúc lên từng hồi. …Ta vốn cúc cung tận tụy vì mệnh vua, vội tiếc rẻ gài thơ vào bao gươm lệnh, rồi cùng tướng sĩ lên mình ngựa xông pha vào chốn làn tên mũi đạn mà dẹp tan bọn giặc cỏ ngu si mê cuồng…
…Tiệc rượu khao quân cử ngay trước trận, ngay bên gò đống xác giặc. Tướng sĩ nói:
- Rượu ngon. Giá có đồ nhắm thì tuyệt!
Sực nhớ, ta cười ha hả, rút bài thơ hay ra sang sảng nói:
- Thức nhắm đây! 
Rồi sang sảng đọc lớn bài thơ TRỐNG ĐÊM Ở GIANG THÀNH của Mạc Tướng Công. Tướng sĩ ngồi im phăng phắc lặng nghe quên cả rượu trước mắt và đồ nhắm ở đâu. Đọc xong, ta nói: Thơ hay phải nói cái thực, đã là thực thì thành thơ hay ngay. Đó, ta và các ngươi những cái thực, đang là cái hay mà người xưa miêu tả!...
khi giới thiệu đoạn văn trên, nhà văn Trần Thanh Giao viết: “Có lẽ không có lời phẩm bình nào về thơ Mạc Thiến Tứ (Mạc Thiên Tích-VBL) độc đáo như lời phẩm bình này”!... Ô hay ! Tuyệt ơi là tuyệt! Lại chợt nhớ câu thơ của Vương Hàn đời Đường: “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu / Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” ! (Say khướt ở chốn sa trường xin anh đừng cười nhé / Xưa nay chinh chiến mấy ai về)! 
Đành rằng bối cảnh lịch sử có khác nhau, bản chất cuộc chiến là hoàn toàn khác nhau, nhưng số phận những người lính ở chốn sa trường, máu chảy đầu rơi, nào có khác chi nhau? Chén rượu mừng chiến thắng như còn nóng hổi cảm thức say sưa của đoàn quân chiến thắng, cùng với niềm tự hào chính đáng, khác với cảm thức bi ai của những người lính nơi biên tái, bị dồn đến, bị đẩy đến cái tận cùng của bi kịch trong những cuộc chiến tranh bất công và phi nghĩa ngày xưa. Một không gian lịch sử ở miền đất sục sôi máu lửa bảo vệ đất đai Tổ Quốc, hoàn toàn khác với không gian bi tráng của Lương Châu từ, khúc hát Lương Châu, khúc hát của người lính nơi biên ải, dựa trên khúc thức của Nhạc phủ, nhưng cũng thật hiếm thấy trong đời. Và thực ra cũng chỉ mới thấy trong ghi chép của An Tây mưu lược tướng Doãn uẩn mà thôi! Đoạn văn còn cho chúng ta thấy rõ quan điểm nghệ thuật của Doãn Uẩn, rằng yếu tố hàng đầu, căn bản nhất của nghệ thuật thơ ca, bao giờ cũng là sự thật. Bản thân sự thật được biểu hiện như là một yếu tố căn cốt, làm nên sức sống và sức hấp dẫn của thơ ca vậy! Hóa ra, thơ có thể lấy làm “thức nhắm”, một thứ thức nhắm siêu hạng, là “mùi vị ở ngoài mùi vị” (Hoàng Đức Lương), giờ đây, có thể làm tan biến đi những thèm khát vật chất bình thường, tầm thường…
Hà Tiên còn có Tao Đàn Chiêu Anh Các, gọi tắt là Chiêu Anh Các, do Trần Trí Khải (tên chữ là Hoài Thủy) sáng lập, Mạc Thiên Tứ ( 1718-1780) làm chủ soái Chiêu Anh Các, ra đời vào năm 1736. Trần Trí Khải là ai vậy? Hóa ra ông này là một danh sĩ bên Tàu, chính xác là người Việt Đông, cùng quê với Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đấy! Việt Đông, có lẽ là người Việt Quảng Đông chăng? (Đội trời đạp đất ở đời / Họ Từ, tên Hải, vốn người Việt Đông / Giang hồ quen thói vẫy vùng / Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo). Chính sách chiêu mộ, biệt đãi người hiền ở bốn phương của Mạc Thiên Tứ đã thu hút rất nhiều anh kiệt đến với Hà Tiên. Người Tàu có. Người Việt có. Sách Kiến Văn Tiểu Lục của nhà bác học Lê Quý Đôn còn ghi rõ tên tuổi của các vị trong Chiêu Anh Các Hà Tiên, phần đông là họ từ bên Tàu sang. Cụ Lê Quý Đôn còn chép được 8 bài thơ trong sách Hà Tiên thập vịnh (Vịnh mười cảnh đẹp của Hà Tiên) nữa. Chiêu Anh Các tương tự như Tao đàn Nhị thập bát tú của vua Lê Thánh Tông (1442-1497). Tuy nhiên, cũng có chỗ hơi khác, ấy là ngoài việc chiêu mộ anh tài tuấn tú khắp nơi đến đây, nó còn là nơi thờ Khổng Tử, cũng đồng thời là nơi giúp đỡ cho những thiếu niên ưu tú theo đuổi nghiệp văn, thêm cả nghiệp võ nữa. Thế nghĩa là nó còn có chức năng là một cái nhà Nghĩa học, chuyên làm việc nghĩa. Quả là một Tao đàn có nội dung hoạt động rất phong phú, lấp lánh tinh thần nhân văn, nổi tiếng một thời ở miền biên viễn phương Nam trù phú đầy sức hấp dẫn này. 
Đầu thế kỷ hai mươi, thi sĩ Đông Hồ (1906-1969) cùng bà vợ yêu quý của ông là nữ sĩ Mộng Tuyết (1914-1007) là hai nhân vật nổi tiếng của văn vật Hà Tiên, đồng thời là những người đóng góp nhiều công lao to lớn cho sự kế tục và phát triển văn hóa Hà Tiên, cho nền văn học nước nhà. Đông Hồ là một nhà giáo tài năng, là một thi sĩ sống hết mình cho thơ. “Trí Đức học xá”, cũng đồng thời là cái nhà riêng của đôi thi sĩ tài hoa, đam mê nghệ thuật. Cuộc tình của họ đắm đuối đến phút cuối cùng với thơ, với nhau, cũng là ít thấy trong đời vậy!

Trên đường trở về Bình Giang, chúng tôi ghé thăm nhà máy gạch của một anh chủ còn rất trẻ, cũng từ ngoài Bắc vào đây. Nhà máy sản xuất gạch, rộng nhiều ha, vẫn còn đang ở giai đoạn hoàn thiện. Sản xuất gạch, nhưng đất làm gạch phải mua từ nơi khác, được đào bới từ một quả núi nào đó, cho xuống tàu sắt chở theo một dòng kênh về đây. Đã thấy những đống đất dự trữ cao như núi, trong khu vực vốn là đám sình lầy rất nhiều cây dừa nước. Quả là những cái đầu trẻ tuổi khôn ngoan và táo bạo. Chú Tư Đen bảo rằng nhà máy này dự kiến đầu tư khoảng năm trăm tỷ đồng. Hoạt động nhịp nhàng, chẳng bao lâu chủ nhà máy sẽ thu lại vốn. Nhưng đây cũng chỉ là một dự án nho nhỏ của anh chủ trẻ mà thôi. Hình như còn có ai đó vào loại cộm cán chống lưng thì phải. Các cơ sở kinh doanh và sản xuất của cái tập đoàn kinh tế nổi đình nổi đám này, biết đâu nó lại là cái sân sau của một ai đó có thế lực? Họ còn nhiều những dự án khác to hơn nữa, hàng ngàn tỷ, nhiều ngàn tỷ chứ chả ít đâu. Tôi tấm tắc khen ngợi các anh trẻ tuổi, chí nhớn, ngoan cường. Họ sẽ là những người làm chủ đất nước trong nền kinh tế thị trường hội nhập sâu rộng, có thể tranh đua lành mạnh và sòng phẳng với thiên hạ chăng? 

(còn nữa)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}