Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Một bài thơ đặc sắc của thiền sư Huyền Quang

Vũ Bình Lục | Thứ Hai, 29/05/2017 19:42 GMT +7

Bài thơ YÊN TỬ SƠN AM CƯ của Huyền Quang thể hiện rõ tinh thần "Tam giáo đồng nguyên" thời kỳ trung đại Việt Nam.

Phiên âm:

YÊN TỬ SƠN AM CƯ

Am bức thanh tiêu lãnh,
Môn khai vân thượng tầng.
Di can Long động nhật,
Do xích hổ khê băng.
Bão chuyết vô dư sách,
Phù suy hữu sấu đằng.
Trúc lâm đa túc điểu,
Quá bán bạn nhàn tăng.

Dịch nghĩa:

Ở AM TRÊN NÚI

Cao ngất trời xanh am thiền mát rượi,
Cửa mở vào ra sát từng mây,
Trước Long Động mặt trời lên cao một con sào,
Dưới Hổ Khê băng đã đóng dầy cả thước.
Tự biết mình vụng về không có mưu kế giúp đời,
Lững thững chống gậy song đỡ thân già qua ngày.
Rừng trúc chiều về nhiều thứ chim đến đỗ,
Quá nửa chúng làm bạn với nhà sư thanh nhàn.

DỊCH THƠ

Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ:

Am sát trời xanh lạnh,
Cửa mở trên tầng mây.
Động Rồng trời sáng bạch,
Khe Hổ lớp băng dầy.
Vụng dại mưu nào có,
Già nua gậy một cây.
Rừng tre chim chóc lắm,
Quá nửa bạn cùng thầy.

Bản dịch của Vũ Bình Lục:

Am Thiền treo giữa trời xanh,
Đón đưa khép mở mây thành khách quen.
Trước Long Động mặt trời lên,
Hổ Khê tuyết đã dày thêm mấy phần.
Vụng về chẳng giúp được dân,
Thân già đành chống gậy song qua ngày.
Chiều buông rừng trúc, chim bay
Về làm bạn quý sư thầy thanh tao.

Am trên núi Yên Tử chính là nơi Huyền Quang tu Thiền. Nơi đây có chùa Long Động, có suối Hổ Khê, giờ đã trở thành danh thắng của đất Phật Yên Tử.

Bài thơ ngũ ngôn bát cú luật Đường, hai câu đầu giới thiệu khái quát cảnh quan cái Am Thiền trên núi Yên Tử, nơi chính tác giả bài thơ này tu Thiền.

Cao ngất trời xanh, am Thiền mát rượi,

Cửa mở vào ra sát từng mây.

(Am bức thanh tiêu lãnh / Môn khai vân thượng tằng).

Vị trí cái Am Thiền của Huyền Quang cao ngất trên trời xanh (Am bức thanh), quanh năm mát rượi. Chủ nhân khép mở vào ra ở cái am ấy, thấp thoáng mờ ảo lẫn trong mây. Hai câu thơ đầu, chủ yếu tả độ cao cái am Thiền của nhà sư, tác giả bài thơ này. Cao như thế, nên mây lúc nào cũng như thể đang ôm ấp, quấn quít quanh cái am thiền. Bốn bề gió thông thênh, lúc nào cũng mát rượi.

Hai câu 3 và 4, tả cảnh xung quanh am thiền trên núi. Này là chùa Long Động, trước chùa thấy mặt trời lên cao một con sào. Ước chừng như thế thôi, tức chưa phải là đã trưa, chỉ mới lưng lửng buổi sáng. Kia là Hổ Khê, tương truyền là dòng suối hổ thường xuống uống nước, nên có cái tên ấy. Dưới Hổ Khê băng đã đóng dày cả thước. Băng tuyết đọng ở đây đã dày lắm, trắng phau, trông xa như con bạch xà đang uốn lưng luồn lách trong ngút ngát màu xanh của núi rừng Yên Tử. Đấy là tả hai danh thắng ở đây, bằng những số lượng từ cụ thể (một con sào, một thước), thực ra, cũng chỉ là những con số mang tính ước lệ mà thôi. Nhưng mà:

Tự biết mình vụng về không có mưu kế giúp đời,

Lững thững chống gậy song đỡ thân già qua ngày.

Không có sách lược gì hay để giúp đời (vô dư sách), vì tự biết mình vụng về kém cỏi như thế . Đó là đau khổ nhiều lắm. Học hành thi đỗ Trạng nguyên, được bổ làm quan to, ấy thế mà cũng không có mưu chước gì để giúp đời, hay là bất lực trước việc đời nhiều nỗi bất như ý, nên mới phải từ quan về núi tu thiền. Một thực tế đáng buồn, hay đó chỉ là một cách biện hộ khiêm cung? Chỉ biết rằng thi nhân Lý Đạo Tái đã quy y, tự dấn thân theo Phật pháp, để tự giải thoát cho chính mình trong ánh sáng của Thiền Đạo nhiệm mầu. Hơn thế, còn có thể góp phần truyền đăng ánh sáng diệu lý Thiền Đạo đến nhiều người. Bây giờ thì Lững thững chống gậy song đỡ cái thân già , cho qua ngày đoạn tháng mà thôi. Một thoáng suy tư tự tình, man mác hoang hoải nỗi niềm dường như còn đôi chút trắc ẩn.

Hai câu kết, lại quay về với thực tại, với thiên nhiên trong trẻo gần gũi, như một sự tỉnh thức sau cơn dư chấn tâm can của bậc trí giả.

Rừng trúc chiều về nhiều thứ chim đến đỗ,

Quá nửa chúng làm bạn với nhà sư thanh nhàn.

(Trúc lâm đa túc điểu / Quá bán bạn nhàn tăng).

Về chiều, trúc lâm như một điểm hẹn đầy tin tưởng và quen thuộc của loài chim. Rất nhiều thứ chim rủ nhau về tá túc (đa túc điểu). Hơn một nửa (quá bán), trong rất nhiều những thứ chim ấy làm bạn với nhà sư thanh nhàn. Sao không phải là tất cả, mà chỉ là Quá bán thôi? Phải chăng, có thể hiểu rộng thêm rằng, thời Trần đạo Phật phát triển mạnh mẽ, được cả tầng lớp quý tộc xiển dương và thực hành giáo lý, nên số người hướng tâm theo Phật rất đông. Không phải là tất cả, nhưng rất đông. Hình ảnh những đàn chim, rất nhiều thứ chim bay về đỗ ở rừng trúc (Trúc Lâm) Yên Tử, như thể hình ảnh một sự quy y về trung tâm Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, làm bạn với nhà sư thanh nhàn. Đấy là sự suy ra từ chức năng thông thường của hai câu thơ kết bài, được khái quát và nâng cao, ở đây, chính là sự phát ngôn bằng hình tượng, bằng sự mầu nhiệm vô lượng vô biên. Thật chí lý!

Thơ của Trúc Lâm Tam Tổ Huyền Quang là thơ Thiền chính hiệu. Người Thiền, cảnh Thiền, tâm Thiền. Thiên nhiên cũng như thấm đẫm màu Thiền. Đó là một thứ thơ thơm tho mùi đạo, cao khiết và thánh thiện.

Tuy nhiên, bài thơ Ở am trong núi Yên Tử của Huyền Quang Lý Đạo Tái, cho thấy rõ một thực thể tổng hòa sinh động của hiện tượng tam giáo đồng nguyên, ít nhất là trong một bài thơ trữ tình rất nhiều tâm trạng. Hai câu thơ đầu, thấp thoáng hình ảnh một đạo sĩ ở cõi Tiên. Bốn câu tiếp theo là hình ảnh một Nho gia đang trăn trở nghiệm suy về lẽ hành tàng, tự phản biện chính mình, rồi biện hộ cho chính mình trong thực hành lý tưởng đại dụng. Hai câu cuối cùng, chính là biểu hiện của sự vượt trội, sự thắng thế của Phật pháp trong một bản thể, và trong một quần sinh mộ đạo. Thật sâu sắc vô cùng!

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}