Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Một số vấn đề về đao đức nghề nghiệp - Thực trạng và giải pháp*

TSKH. Nghiêm Vũ Khải - ThS. Lê Thanh Tùng | Thứ Sáu, 13/09/2019 09:59 GMT +7
Giống như các giá trị, đạo đức nghề nghiệp cung cấp các quy tắc về cách một người nên hành động đối với người khác và các tổ chức trong một môi trường như vậy.
 
I. Đặt vấn đề
 
Đạo đức nghề nghiệp là vấn đề không mới nhưng luôn mang tính thời sự, cấp thiết, nhất là trong tình hình hiện nay bởi song hành với những mặt tích cực, tiến bộ của quá trình mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế, thì mặt trái của nền kinh tế thị trường, của đồng tiền, danh vị và lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đang tạo ra những hệ lụy, làm băng hoại và suy thoái đạo đức con người ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Đáng nói nhất là lĩnh vực như y tế, giáo dục, tài nguyên môi trường, xây dựng, kinh doanh,… đã gây nhức nhối dư luận, gióng lên hồi chuông cảnh báo nguy cơ tha hóa, biến chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức; đặt ra nhiều vấn đề về văn hóa ứng xử, về mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng…
 
Trước những vấn đề về đạo đức nghề nghiệp, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi chúng ta đang hội nhập quốc tế sâu rộng với những tác động thuận chiều và trái chiều đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế xã hội, chúng tôi sẽ lý giải một phần những căn nguyên của sự suy thoái đạo đức nghề nghiệp, đồng thời đưa ra một số biện pháp để khắc phục tình trạng này.
 
II. Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp 
 
Trước hết, Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong 3 phạm vi: Lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này.
 
Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
 
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của các quan hệ xã hội. Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của chế độ chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Lợi ích của giai cấp thống trị là duy trì và củng cố những quan hệ xã hội đang có; trái lại, giai cấp bị bóc lột tuỳ theo nhận thức về tính bất công của những quan hệ ấy mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra quan niệm đạo đức riêng của mình. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau, nhưng xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung. Tính kế thừa của đạo đức theo Lê Nin là phản ánh "những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kì cộng đồng người nào". Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội... và biểu dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn. Quan hệ giữa người với người ngày càng mang tính nhân đạo cao hơn. Ngay trong xã hội nguyên thuỷ đã có những hình thức đơn giản của sự tương trợ và không còn tục ăn thịt người. Với sự xuất hiện của liên minh bộ lạc và nhà nước, tục báo thù của thị tộc dần dần mất đi. Xã hội chủ nô coi việc giết nô lệ là việc riêng của chủ nô, đến xã hội phong kiến, việc giết nông nô bị lên án. Đạo đức phong kiến bóp nghẹt cá nhân dưới uy quyền của tôn giáo và quý tộc; đạo đức tư sản giải phóng cá nhân, coi trọng nhân cách. "Nhưng chúng ta vẫn chưa vượt được khuôn khổ của đạo đức giai cấp. Một nền đạo đức thực sự có tính nhân đạo, đặt lên trên sự đối lập giai cấp và mọi hồi ức về sự đối lập ấy chỉ có thể có được khi nào xã hội đã tới một trình độ mà trong thực tiễn của đời sống, người ta không những thắng được mà còn quên đi sự đối lập giai cấp". Đó là trình độ của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa (Enghen).
 
Ngược lại với đạo đức là đạo đức giả. Cùng với những thói ích kỷ, đố kị, xu nịnh, a dua, thói đạo đức giả là một thói xấu đang hoành hành mối quan hệ giữa con người và con người. Nó làm mất dần vẻ chân thực vốn có của đời sống xã hội. Nạn đạo đức giả sẽ làm suy yếu nền văn hóa của một đất nước.
 
Dân gian đã có rất nhiều thành ngữ, ca dao… để vạch mặt kẻ đạo đức giả:
 
Miệng nam mô, bụng một bồ dao găm, hoặc:
Bề ngoài thơn thớt nói cười, 
Mà trong nham hiểm giết người không dao. Hay:
Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa.
 
Thói đạo đức giả có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chốn, nhưng rất khó bị phát giác. Thói đạo đức giả luôn đi cùng với tâm lý cả tin. Ở đâu có sự cả tin thì ở đó có thói đạo đức giả. Đạo đức xã hội chủ nghĩa hướng con người tới tinh thần cao cả của tâm hồn, văn hóa. Bởi vậy, trong cuộc sống luôn đòi hỏi sự rèn luyện. Cảnh giác và tẩy trừ thói đạo đức giả là điều vô cùng cần thiết, trước hết là sự cảnh giác với chính bản thân mình.
 
Đạo đức giả không đồng nghĩa với nói dối. Nói dối có nhiều mục đích khác nhau: Nói dối mà có lợi cho cả người nói và người nghe là một biểu hiện của bông đùa...Nhiều khi là liệu pháp tâm lý giúp người nghe và được ứng dụng trong tâm lý trị liệu.
 
Nói dối mà có lợi cho người nói, không có lợi (hoặc có hại) cho người nghe, được gọi là dối trá, là một biểu hiện của lợi dụng, tham nhũng, bệnh thành tích, đạo đức giả, nịnh hót, mị dân...Trong chiến đấu thì nói dối có thể là chiến thuật, mưu kế...
 
Nói dối mà không có lợi cho người nói, có lợi cho người nghe là một biểu hiện của lòng cao thượng.
 
Nói dối mà có hại cho cả người nói và người nghe là khi thói dối trá bị lật tẩy, đôi khi là hậu quả của lời nói dối tưởng như vô hại.
 
Còn đạo đức nghề nghiệp là những phẩm chất cần có của mỗi người theo đúng những quy tắc chuẩn mực của một nghề nhất định được cộng đồng xã hội thừa nhận, nhằm điều chỉnh hành vi, thái độ của con người trong quan hệ với con người, tự nhiên và xã hội khi hành nghề. Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc chi phối hành vi của một người hoặc một nhóm trong môi trườngcông việc. Giống như các giá trị, đạo đức nghề nghiệp cung cấp các quy tắc về cách một người nên hành động đối với người khác và các tổ chức trong một môi trường như vậy.
 
Tuy nhiên vấn đề đạo đức và đạo đức nghề nghiệp không phải đến giờ mới được bàn bạc, định nghĩa mà từ thời cổ đại ở phương Tây lẫn phương Đông, các nhà tư tưởng, hiền triết, các nhà lập thuyết đều dành sự quan tâm đặc biệt nghiên cứu vấn đề đạo đức con người, đạo đức xã hội vì đó là mấu chốt, nền tảng tạo ra sự đồng thuận xã hội. Theo quan điểm của Nho giáo, đạo đức là sự kết hợp giữa “ngũ luân” với “ngũ thường” gọi là “luân thường”, và giữa “tam cương” với “ngũ thường” gọi là “cương thường”. Trên cơ sở của “tam cương” với “ngũ thường” mà đạo đức con người được giáo dục, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trực tiếp góp phần vào việc ổn định xã hội, điều chỉnh hành vi con người và hình thành nên nhân cách con người. Còn các nhà đạo đức học Tây Âu (thế kỷ XV - XVIII) như Rabelais, Spinoza, Hegel, Feuerbach cho rằng, con người không phải sinh ra đã có đạo đức mà đạo đức nảy sinh từ tác động của môi trường xã hội, trước hết là chính trị và pháp luật.
 
Ở nước ta, vấn đề đạo đức và đạo đức nghề nghiệp cũng được Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu, nhất là vấn đề đạo đức cách mạng của người cán bộ đảng viên. Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề phải làm sao cho tất cả cán bộ, công chức từ Chính phủ đến làng xã đều là công bộc của nhân dân, đều phải tận tụy phục vụ nhân dân. Người luôn nhấn mạnh và khẳng định, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, của cán bộ, công chức; và đòi hỏi mỗi người, nhất là người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ phẩm chất và năng lực, hồng và chuyên, đức và tài, trong đó đức là gốc: “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Vì vậy, trước lúc đi xa Người vẫn không quên căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
 
Có thể nói vấn đề đạo đức nghề nghiệp nói chung và đạo đức người công chức hiện nay luôn tạo được mối quan tâm, chú ý của toàn xã hội. Nếu nhìn vấn đề từ góc độ lịch sử thì ngay từ năm 1950, trong những ngày kháng chiến chống Pháp gian khổ, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam. Sau này, trong các văn bản pháp luật, trong Hiến pháp, Luật Cán bộ công chức,… những vấn đề về đạo đức nghề nghiệp luôn được quy định cụ thể, rõ ràng.
 
Như vậy, vấn đề đạo đức công chức đã được pháp lý hóa trong văn bản pháp luật cao nhất là Hiến pháp cho tới các luật và các văn bản quy phạm pháp luật. Hay nói cách khác, hành lang pháp lý để kiến tạo và thực thi đạo đức công chức đã có. Vấn đề là việc thực hành đạo đức công chức ra sao và có những giải pháp gì để việc thực hành đạo đức công chức trở nên thường xuyên như việc “rửa mặt hằng ngày”.
 
Đạo đức cũng có những nguyên tắc nhất định, những nguyên tắc này làm nền tảng cho tất cả các quy tắc ứng xử chuyên nghiệp. Nguyên tắc đạo đức có thể khác nhau tùy theo nghề nghiệp; ví dụ, đạo đức nghề nghiệp liên quan đến các bác sĩ y khoa sẽ khác với những người liên quan đến luật sư hoặc đại lý bất động sản.
 
Tuy nhiên, có một số nguyên tắc đạo đức phổ quát được áp dụng trên tất cả các ngành nghề, bao gồm:
 
Trung thực
Đáng tin cậy
Lòng trung thành
Tôn trọng người khác
Tuân thủ pháp luật
Làm điều tốt và tránh làm hại người khác
 
Trong mọi nghề nghiệp, để người hành nghề có thể thực hiện công việc với chất lượng cao, tuân thủ pháp luật và phục vụ tốt nhất cho khách hàng, các cơ quan chức năng, phải thiết lập các quy định cho người hành nghề. Nói cách khác, chinh các quy định về đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập vào kinh tế thế giới, đòi hỏi Việt Nam phải tiêu chuẩn hoá các dịch vụ theo thông lệ quốc tế, trong đó, có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Nhìn chung, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp do Việt Nam ban hành đã phù hợp với thông lệ chung của quốc tế. Tuy vậy, việc đưa các quy định này vào thực tế để mang lại kết quả như ý muốn vẫn còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết, bởi vì để chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp được các thành viên tôn trọng chấp hành đúng đắn, không thể chỉ dựa trên ý chí của Nhà nước thông qua một văn bản pháp quy. Lịch sử phát triển hàng trăm năm đạo đức nghề nghiệp trên thế giới cho thấy đây là một hệ thống thể chế phức tạp, cần có sự kết hợp hài hoà giữa kỳ vọng của xã hội, vai trò của nhà nước, nỗ lực của tổ chức nghề nghiệp và ý chí của những người hành nghề. Nguyên nhân của tình trạng này trước hết là do nhận thức chưa đúng đắn về tầm quan trọng của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn chưa thiết lập cơ chế giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cũng như không có bộ phận xét xử kỷ luật với các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp của công chức, viên chức.
 
Chính vì vậy, để các quy định đạo đức nghề nghiệp đi vào thực tế, cần phải thiết lập một cơ chế để giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cũng như xét xử các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Một hệ thống đầy đủ phải bao gồm tổ chức và quy chế, trong đó, tổ chức phải có khả năng hướng dẫn, giám sát, thu thập thông tin phản hồi và hoàn thiện các quy định.
 
Hiện nay, ở Việt Nam mới chỉ có một số các quy định về đạo đức nghề nghiệp được ban hành bằng văn bản có giá trị pháp lý như:
-  Quy định về đạo đức nhà giáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008;
 
-  Chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán được quy định tại Luật 67/2011/QH12;
 
-  Các nguyên tắc đạo đức cơ bản nghề nghiệp kế toán, kiểm toán được quy định tại Phần A Thông tư 70/2015/TT-BTC về Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành;
 
- Tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên dự bị đại học được quy định tại Điều 2 Thông tư 30/2017/TT-BGDĐT về Quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên dự bị đại học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Quy định có hiệu lực từ ngày 20/01/2018; 
 
- Tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp người hành nghề dược được quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 27/2015/TTLT-BYT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp dược do Bộ trưởng Bộ Y tế - Bộ Nội vụ ban hành;
 
- Quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội nêu tại Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02/02/2017 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội;
 
- Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng nêu tại Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
 
Ngoài ra, các hội nghề nghiệp như Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Điều dưỡng Việt Nam,…, đều có các quy định về đạo đức nghề nghiệp, tuy nhiên chỉ giới hạn đối với hội viên của mình.
 
III. Thực trạng đạo đức nghề nghiệp ở nước ta hiện nay
 
Nhìn chung, trong tất cả các ngành nghề, đa phần cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đều tuân thủ đúng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, giữ gìn được thuần phong mỹ tục, lối sống và phong cách tốt đẹp, nói lên truyền thống của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam: Cần cù, chịu khó, nhân ái, khoan dung. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt thuận lợi, tích cực thì vấn đề đạo đức con người cũng có những biểu hiện cần phải lên án, bài trừ để làm trong sạch môi trường văn hóa.
 
Ở lĩnh vực đạo đức công vụ, công chức, cùng với việc kiện toàn hệ thống pháp luật về cán bộ công chức, Đảng và Nhà nước cũng tiến hành nhiều biện pháp nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức. Kết quả là những năm gần đây, đội ngũ cán bộ công chức có những chuyển biến đáng ghi nhận, ngày càng chuyên nghiệp hơn trong công việc, hiện đại hơn về tác phong, công nghệ,… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, đội ngũ cán bộ công chức nước ta cũng bộc lộ không ít những yếu kém, tiêu cực, đặc biệt là về phương diện đạo đức. Những biểu hiện tiêu cực của đạo đức cán bộ công chức hiện nay được bộc lộ ở nhiều khía cạnh: Thứ nhất là thái độ hách dịch, cửa quyền và thứ hai là nạn tham nhũng (như tham nhũng thời gian; tham nhũng tài sản công, tiền bạc; tham nhũng quyền lực). Chính việc tuyển dụng, sắp xếp vị trí làm việc chưa hợp lý, quản lý công chức lỏng lẻo đã vô tình tạo cơ hội cho tình trạng kèn cựa địa vị, tham ô lãng phí, mất đoàn kết nội bộ nảy sinh và cũng là nguyên nhân dẫn đến suy thoái đạo đức, lối sống.
 
 Sự tha hóa đạo đức của cán bộ công nhân viên chức không chỉ diễn ra trong các cơ quan công quyền, hành chính mà nhìn rộng ra trong một số ngành nghề khác như y tế, giáo dục, kinh doanh, luật,… vẫn còn những hiện tượng, những người vì danh lợi, địa vị tiền tài, tự hủy hoại nhân cách, lương tâm của bản thân, gây ảnh hưởng xấu đến ngành nghề, nơi công tác, làm giảm lòng tin của nhân dân. Ngoài sự xuống cấp về đạo đức công vụ của một bộ phận công chức, viên chức thì đối với các ngành nghề khác, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường nên trong rất nhiều ngành nghề, nhiều người đã vì lợi nhuận mà bất chấp các chuẩn mực đạo đức để cố đạt được lợi nhuận nhiều nhất, đây là một thực trạng đang nhức nhối hiện nay.
 
Ở lĩnh vực y tế
 
Nhiệm vụ đặc thù của ngành y là chữa bệnh cứu người, đem lại sự sống và hạnh phúc cho mọi người vì thế mỗi y, bác sĩ phải thấm nhuần lời dạy của Bác “lương y như từ mẫu” (thầy thuốc như mẹ hiền). Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thị trường, nhiều tác động tiêu cực của xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến người thầy thuốc. Hiện tượng “phong bì”, thái độ ứng xử thiếu chuẩn mực đạo đức của y bác sĩ với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, nhất là sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm của bác sĩ, y tá đã gây ra những vụ việc thương tâm gây nhức nhối dư luận. Tình trạng đẩy giá thuốc lên cao, độc quyền giá thuốc, nhiều bác sĩ còn ngại gian khổ đi đến những vùng miền khó khăn,…đang là những vấn đề nổi cộm của y đức hiện nay.
 
Ở lĩnh vực giáo dục, đào tạo
 
Nhìn chung, đa phần các thầy, cô giáo giữ vững được phẩm chất đạo đức người thầy trong việc gieo mầm tri thức, vun trồng nhân cách cho các thế hệ học trò, đem đến cho họ những bài học về đạo làm người, cách ứng xử nhân ái khoan dung với đồng loại. Nhưng bên cạnh những mặt tích cực ấy, ngành giáo dục trong những năm qua cũng phải đối mặt với những thách thức trước tình trạng một bộ phận giáo viên tha hóa, biến chất, đánh mất nhân cách người thầy như tiếp tay cho nạn tiêu cực trong thi cử; một bộ phận khác thì lợi dụng uy tín của người thầy để uy hiếp, đe dọa danh dự học sinh, thậm chí lạm dụng tình dục học trò; đổi tình lấy điểm, thương mại hóa các hoạt động giáo dục, bắt ép học sinh học thêm, nhồi nhét kiến thức,... dẫn đến nhiều hiện tượng thầy đánh trò, trò tấn công lại thầy làm dấy lên vấn nạn về bạo lực và sự xuống cấp của văn hóa học đường. Chúng ta có thể kể rất nhiều những gam màu tối của bức tranh giáo dục. Đó là việc thày Hiệu trưởng Sầm Đức Sương bắt các em phải bán dâm cho quan chức. Đó là nạn nâng điểm thi Đại học ở Hà Giang, Sơn La và Hòa Bình…
 
Ở lĩnh vực báo chí, truyền thông đại chúng
 
Bên cạnh những ưu thế và thành tựu đạt được thì những năm qua báo chí nước ta cũng còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, non kém. Điển hình như hiện tượng thông tin thiếu trung thực, thiếu chính xác, không đúng sự thật, thiếu toàn diện, thiếu cân nhắc sự lợi hại, đưa đậm các mặt trái, mặt yếu kém, các vụ án và các tệ nạn xã hội trên trang nhất; thông tin dễ dãi, xa rời tôn chỉ mục đích, bình luận một chiều, lên án thái quá, thậm chí quy chụp, coi nhẹ chức năng chính trị, tư tưởng của báo chí cách mạng, gây tổn hại nghiêm trọng tới lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan báo chí; khuynh hướng tư nhân hóa, thương mại hóa báo chí, tư nhân núp bóng để ra báo, kinh doanh báo chí có xu hướng gia tăng; vẫn có nhà báo vi phạm đạo đức nghề nghiệp, pháp luật và bị xử lý hình sự; như vụ nữ nhà báo dọa doanh nghiệp và nhận tới 100.000 đô la để bỏ qua cho cái gọi là vi phạm đến chuyện thỉnh vong ở chùa Ba Vàng, rồi chuyện “giang hồ mạng” Khá Bảnh, hiện tượng Phúc XO…Báo chí có tình trạng nặng về khai thác vụ việc tiêu cực, thiên về chức năng phê phán, đôi khi phê phán thiếu tính xây dựng, nhẹ về thực hiện chức năng biểu dương; thiếu một cái nhìn toàn diện và nhân văn, thiếu việc phát hiện, cổ vũ, tôn vinh kịp thời cái hay, cái đẹp, cái thiện trong cuộc sống vừa làm cho bức tranh xã hội bị bóp méo, vừa không động viên được người tốt, việc tốt, và xa hơn nữa, làm cho lớp trẻ mất niềm tin vào cuộc sống, vào những điều tốt đẹp thực sự vẫn đang hiện diện trong xã hội.
 
Nhìn chung ở lĩnh vực, ngành nghề nào bên cạnh những mặt tích cực, tiến bộ thì vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế với những mức độ biểu hiện đa dạng, khác nhau. Đặc biệt trong điều kiện hoàn cảnh hiện nay, những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đã làm chao đảo nhiều giá trị tốt đẹp, bắt nguồn từ những nhận thức lầm lạc, thiếu bản lĩnh chính trị của một số cán bộ, công nhân viên chức.
 
Ở lĩnh vực xây dựng cơ bản
 
Đô thị của chúng ta ngày càng phát triển. Vấn đề xây dựng đã có những quy định rất rõ ràng cụ thể. Nhưng những người cầm cân nảy mực thì không nghĩ như vậy. Người dân chỉ cần mua 1 xe cát, vài bao xi măng là cán bộ phụ trách xây dựng có mặt ngay, vòi vĩnh, gây khó dễ. Nhưng một tòa nhà sừng sững mọc lên giữa khu đất đắc địa thì cán bộ lại bảo không biết hoặc không có đủ người kiểm tra giám sát. Tất cả chỉ tại đồng tiền nó làm mờ mắt, làm tha hóa con người cho dù người ấy có bản lĩnh đến mấy. Nhưng vi phạm rõ như ban ngày nhưng xử lý thì chậm hơn rùa bò. Coi như việc đã rồi. Cứ thế luật pháp đã bị xem thường. Có thể kể đến vụ nhà 8B Lê Trực, hay các tòa nhà của đại gia điếu cày Lê Thanh Thản xây vượt tầng cho phép…
 
IV. Một số nguyên nhân và giải pháp khắc phục 
 
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái về đạo đức trong các ngành nghề, lĩnh vực thời gian qua bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan.
 
Hiện tượng suy thoái đạo đức trong xã hội hiện nay có một phần nguyên nhân từ sự thiếu gương mẫu của những người đứng đầu, những nhà lãnh đạo quản lý khi họ chưa ý thức sâu sắc, thậm chí đi ngược lại những vấn đề của văn hóa chính trị, văn hóa lãnh đạo quản lý. Mặt khác do những sức ép của cuộc sống mưu sinh, nhiều người có thể sẵn sàng làm bất cứ việc gì bất kể là có hại cho người xung quanh hoặc tàn phá, hủy hoại môi trường. Một nguyên nhân khác là do hệ thống pháp luật của chúng ta chưa đủ mạnh để điều chỉnh hành vi hoặc răn đe những thói hư tật xấu mà con người mắc phải; nhiều cơ quan, ban, ngành chưa xây dựng được bộ quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp công vụ, thiếu sự định hướng, giáo dục kịp thời nên hiện tượng suy thoái đạo đức tiếp tục diễn ra. Mặc dù nhiều ngành nghề đã xây dựng được quy tắc, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nhưng nội dung còn dài dòng, chủ yếu là những khẩu hiệu đọc cho vui tai chứ thực sự chưa chú ý đến thực chất công việc đặc thù của từng lĩnh vực mà con người cần phải tuân theo.
 
Để khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức nghề nghiệp, nhất là trong đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước, nhằm tạo ra môi trường làm việc trong sạch, lành mạnh, thúc đẩy hiệu quả năng suất lao động, củng cố niềm tin của nhân dân, trước hết cần phải thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:
 
Thứ nhất, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức đạo đức nghề nghiệp cho người lao động để họ hiểu sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của ngành nghề, từ đó bồi đắp tình yêu và tinh thần trách nhiệm với công việc được giao. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; phát huy vai trò dẫn đầu, nêu gương của các cấp lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là những người đứng đầu cơ quan, đơn vị; nhân rộng những tấm gương điển hình tiên tiến hết lòng hết sức vì tập thể, vì công việc; đồng thời thực hiện tốt đợt sinh hoạt chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
 
Thứ hai, hoàn thiện và kiện toàn hệ thống pháp luật của từng ngành nghề, tạo cơ sở hành lang pháp lý trong việc khen thưởng và xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với người lao động cũng như cán bộ lãnh đạo quản lý. Mỗi ngành, nghề cụ thể cần phải xây dựng được bộ quy tắc ứng xử về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, bảo đảm sự ngắn gọn, ấn tượng, hiệu quả. Đặc biệt, trong quá trình xây dựng Luật Hành nghề Kỹ sư chuyên nghiệp, nội dung đạo đức hành nghề cần phải được quy định cụ thể, phải coi đạo đức hành nghề là một tiêu chí trong việc cấp chứng chỉ hành nghề chuyên nghiệp. Song song với hoàn thiện chính sách pháp luật và xiết chặt kỷ luật lao động, cũng cần phải thường xuyên quan tâm nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, công chức, người lao động để có cơ chế chính sách phù hợp như: cải thiện tiền lương, nâng cao chất lượng cuộc sống; tạo môi trường làm việc thông thoáng, có tính cạnh tranh lành mạnh; có chính sách đãi ngộ, trọng dụng người tài, bố trí sắp xếp công việc hợp lý, đúng người đúng việc, tạo được niềm tin, không khí hồ hởi và sự gắn bó của người lao động với ngành nghề, vị trí được đảm nhiệm.
 
Thứ ba, các cơ quan, đơn vị sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, người lao động phải thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng ý thức, tinh thần đạo đức nghề nghiệp cho người lao động; không ngừng học tập kinh nghiệm quản lý nhân sự, nghệ thuật thu phục nhân tâm của các nước tiên tiến trên thế giới; cần đưa môn giáo dục đạo đức nghề nghiệp vào giảng dạy chính thức trong các cơ sở đào tạo, dạy nghề; phát huy tinh thần sáng tạo, đoàn kết, tính kiên trì, nhẫn nại, cần cù của con người Việt Nam; đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, tham nhũng, lãng phí…vì mục tiêu chung bảo đảm cuộc sống hạnh phúc của gia đình, bản thân, góp phần vào sự lớn mạnh, giàu đẹp của Tổ quốc.
 
Có thể nói, thời nào cũng vậy vấn đề đạo đức nghề nghiệp, đạo đức và nhân cách con người cũng luôn nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Những biến động của đời sống xã hội Việt Nam, nhất là sự tha hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên trong những năm qua đang đặt ra nhiều vấn đề về cách thức quản lý, tổ chức xã hội; về sự thích ứng linh hoạt của con người trước những biến đổi dữ dội của cuộc sống xung quanh. Do đó, cần phải củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền, khơi dậy truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân ái, thủy chung của con người Việt Nam.
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại là do cán bộ” như vậy vấn đề đạo đức công vụ công chức là vấn đề có tầm quan trọng rất lớn dẫn đến sự thành bại của nền hành chính.
-----------------
 * Tham luận tại Diễn đàn khoa học "Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao đạo đức hành nghề trong giai đoạn hiện nay" ngày 28/8/2019 do Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức..
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}