Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Nét Văn hiến trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du*

Hồ Sĩ Vinh | Thứ Năm, 13/04/2017 10:44 GMT +7

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du gồm khoảng 249 bài tập hợp thành ba tập: Thanh Hiên thi tập (tiền tập và hậu tập); Nam Trung ngâm và Bắc hành tạp lục[1]. Đề tài thơ chữ Hán của thi sĩ họ Nguyễn thật đa dạng, cảm hứng sáng tạo của nhà thơ thật dồi dào, thi pháp mô tả nhiều vẻ; duy có một đặc điểm nổi trội hơn cả là nét văn hiến được biểu hiện ở ba nội dung sau: nỗi hoài vọng về quê hương Hà Tĩnh (xứ Nghệ); sự đồng cảm với bi kịch của những người hiền tài; lòng thông cảm mênh mông đối với mọi kiếp người.

1. Nỗi hoài vọng về quê hương Hà Tĩnh

Nói đến quê hương Hà Tĩnh, quê hương xứ Nghệ, người ta nghĩ ngay đến một vùng đất “địa linh đa tuấn kiệt”của Tổ quốc, nơi có Hồng Lĩnh sừng sững, có Lam Giang mênh mông mà nhiều danh nhân đã ca ngợi. Đọc những bài thơ trong Thanh Hiên thi tập, chúng ta gặp những địa danh: non Hồng, sông Quế, ngàn Hống, sông La Phù, Lam Giang, Hoành Sơn, thành Ông Ninh, núi Quyết… Những địa danh này đều có cảnh ngoạn mục, cảnh sinh tình: Non Hồng, sông Quế cảnh cao thâm; Đêm này ngàn Hống trăng tròn soi; Chớ lo hẻo lánh không bầu bạn, cảnh sẵn Hồng Lam đủ vịnh ngâm… Và đây là cảnh nơi ở ẩn và người ở ẩn:

Đào rụng đầy sân lá tiếp hoa

Một gian lều nát khép lơ là

Trọ lâu quên bẵng thân là khách

Năm tháng trôi mau tuổi bỗng già…

(U cư)

Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, cảnh nào cũng có người: một bác nho nghèo nhà ở mé sông (Mạnh ứng), người khuê phụ chốn phòng không (Thu dạ II), khúc hát thôn quê, tiếng khóc đồng nội (Thanh minh ngẫu hứng), bác ngư tiều ở nam sông (Thôn dạ); thậm chí trong chiêm bao đến, chiêm bao đi, nhà thơ cũng mong thấy người đẹp, nhưng chẳng thấy nữa (Ký mộng)… đủ biết tình người đa đoan, tấc lòng rối bời, nỗi niềm lai láng của nhà thơ biết chừng nào đối với cảnh và tình người được miêu tả. Mai sớm nhìn sông Lam, nước tràn bờ, sóng dâng hiểm nguy, nhà thơ thấy lo ngại cho sự sống người dân ở hai bờ. Bên bãi sông Long Vĩ có nhiều chim âu trắng, một bác hàn nho ở mé sông, thơ phú suốt đời, sách đàn đầy gió, nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo. Sông Lam lắm thuồng luồng, đường sá trắc trở, thể chất yếu đuối biết nhờ cậy ai? Nhưng cũng có lúc tình cảm lớn của nhà thơ không cho phép nhân vật trữ tình dừng lại ở nỗi niềm, khi việc cũ anh hùng vẫn con treo ở bên sông, gợi lại chuyện hận thù chưa trả:

Mười năm hận cũ còn chưa trả

Cung kiếm ca hoài ta ngắm mây

(Thành Ông Ninh)

Trong bài Ký hữu (Gửi cho bạn), người đọc cũng bắt gặp cảm hứng tương tự:

Một mảnh giao tình vầng nguyệt tỏ

Ngàn năm chính khí núi Hồng đây

Việc đời trước mắt chùm mây nổi,

Thanh kiếm bên lưng trên gió mây.

Ở nhiều bài thơ, nhân vật trữ tình thường trùng khít với nhà thơ. Nói chuyện đời là cốt bộc bạch tâm sự riêng; nói chuyện người là để giãi bày tấc lòng son; ngắm hoa thưởng nguyệt là để giải niềm u uất chưa được khơi thoát của nhà thơ. Ở đây có thể coi hai môtíp thường được lặp đi lặp lại ở nhiều bài. Đó là cái mệnh văn chương và tuổi già đầu bạc vẫn danh hời. Ở môtíp đầu chúng ta đọc: “Cái kiếp văn chương nghèo đến chết” (Mạn hứng II); “Văn chương đã ích gì cho tớ?” (Khất thực); “Thơ phú suốt đời vô ích thật” (Mạn hứng); “Văn chương chưa thấy mang thân lụy” (Ngọa bệnh); “Văn chương không mệnh đốt còn vương” (Độc Tiểu thanh ký), v.v… Những bài thơ trên được viết ra trong khoảng 10 năm giả biệt quê hương (1787 - 1796) khi quân Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Du về quê vợ ở Thái Bình. Cũng có lần ông nói: lăn lội trong bùn lẫn đá ba mươi năm rồi, mà văn chương đã giúp gì cho ta (Khất thực). Không phải nhà thơ coi thường văn chương đâu, bởi nếu không coi trọng thì chắc gì ông đã đến với nàng thơ, cũng không trách cái vòng nghiệp chướng thơ phú quàng vào cổ mình; mà trách cái xã hội đảo điên làm cho văn chương thành vô dụng, biến nhà thơ chết nghèo trong cõi văn chương. Còn môtíp tuổi già đầu bạc vẫn danh hời nói gì? Đó chính là lòng cô trung đối với nhà Lê (Trung sở sự) của mình. Theo lôgích lịch sử, đất nước loạn ly, chính quyền Lê - Trịnh sụp đổ, đại quân Tây Sơn quét diệt giặc Thanh, Nguyễn Du về sau ra làm quan với nhà Nguyễn có tới gần hai mươi năm, mà vẫn coi là chuyện bất đắc dĩ. Không phải vô cớ mà ở Nguyễn Du có đến sáu bài thơ ca ngợi cốt cách Khuất Nguyên, người cô trung nước Sở.

2. Sự đồng cảm với bi kịch của những người hiền tài

Cũng như các bậc đại nho cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Du là sĩ phu tinh thông Hán học, am hiểu Bắc sử, thông thuộc văn chương thơ phú, đặc biệt là thơ Tống - Đường. Trong thơ chữ Hán của đại thi hào, đó không chỉ là tiền đề của tài năng, là phương tiện diễn đạt, mà còn là đối tượng miêu tả những hiện tượng văn hóa, những sự kiện lịch sử ở nước Trung Hoa mênh mông, nhất là từ đời Tống trở về trước. Việc sáng tác văn chương dưới các vương triều chuyên chế mà phải vay mượn chuyện lịch sử nước ngoài để ám chỉ chuyện đang xảy ra ở nước mình, để gửi gắm tâm sự, làm gương giáo huấn cho người đọc là chuyện không lạ, là hợp lý, hợp tình.

Trong Bắc hành tạp lục có 130 bài là 130 tên đất, tên nhân vật lịch sử, sự kiện văn hóa ở Trung Hoa và hơn thế! Do sự hạn chế của bài viết, chúng tôi chỉ xin dừng lại ở mấy hiện tượng lịch sử - văn hóa nổi tiếng mà Nguyễn Du đã cảm thức, đã chiêm nghiệm, đã đồng cảm, nhân đi sứ sang nước bạn hoặc được biết qua lịch sử. Trong Hoàng Sào binh mã, nhà thơ cảm nhận được hành tung nghĩa hiệp của một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa thời Đường trong khoảng 10 năm ở một không gian rộng lớn từ Giang Tây, Phúc Kiến cho đến tận Tràng An phía Bắc. Cuộc khởi nghĩa cuối cùng thất bại, và nghìn năm có ai khen Hoàng Sào đâu? Bởi “Lỡ nước vì chưng tài lượng hẹp”. Bài Hoàng Hạc lâu được viết theo niêm luật thơ Đường, nhưng tư duy thơ lãng mạn và lấy câu thơ nổi tiếng của Thôi Hạo: “Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ; Thử địa không lưu Hoàng Hạc lâu” mà hình tượng thơ: xứ thần tiên, dấu tiên ở bờ sông này, giấc chiêm bao của anh học trò họ Lư, hạc bay lầu vắng, còn lại thơ của Thôi Hạo, v.v…

Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì?

Do lưu tiên tích thử giang my

Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng

Hạc khứ lâu không Thôi Hạo thi…

Tình trong lòng lai láng, biết bày tỏ cùng ai? Đọc Kinh Kha cố lý, người đọc nghĩ ngay đến bài hát: “Gió hiu hắt nước Dịch lạnh; Tráng sĩ ra đi không trở về” của Kinh Kha khi đến sông Dịch Thủy. Đó là một dũng sĩ, giàu mưu kế, mượn đầu của Phàn Ô Kỳ vào gặp Tần Vương để làm tin, đòi y phải trả lại đất cho các nước Tề, Vệ, Yên…

Kinh Kha từ đó, tiến vào Tần quan

Cắp dao ngắn, lần sang đất giặc

Giết thù chung, sáu nước một mình

Trong cung nổi trận chấn kinh.

“Yết can trảm mộc vi tiên thanh” là câu kết của bài thơ: dựng sào làm cờ, chặt cây làm gậy để chuẩn bị dựng cờ khởi nghĩa của người anh hùng.

Một trong những thiên tình sử bi ai trong lịch sử đời Đường, được người đời sau ngậm ngùi, thương cảm là mối tình giữa vua Đường Minh Hoàng với người đẹp Dương Ngọc Hoàn tức Dương Quý phi được Nguyễn Du đa sầu đa cảm phản ánh trong bài thơ Dương Phi cố lý, mặc dầu trong những tháng ngày đi sứ ở phương Bắc, thi sĩ họ Nguyễn chưa bao giờ bước chân tới tỉnh Thiểm Tây, làng Hoàng Nông, làng quê của Dương Phi; cũng như chưa bao giờ đến Mã Ngôi, nơi quân lính làm phản đòi giết anh họ Dương Phi, và nàng bị thắt cổ chết oan nghiệt. Bài thơ thành công chính là nhờ ngọn lửa của cảm hứng, của sức tưởng tượng, là kết quả của tổng số tri thức, kinh nghiệm sống của nhà thơ, chứ không chỉ là thời khắc “ấn tượng”, giây phút quan sát tại chỗ.

3. Lòng thông cảm mênh mông đối với mọi kiếp người

Giáo sư Đào Duy Anh, trong mấy trang đầu của cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du, ở mục Phàm Lệ nói về việc sắp xếp dịch thuật thơ chữ Hán trong lần xuất bản năm 1988, có một nhận xét đáng chú ý có liên quan đến đề tài đang bàn. Đó là: nét nổi bật nhất trong ba tập thơ là “tinh thần nhân đạo chủ nghĩa khiến Nguyễn Du đồng tình sâu sắc với những kẻ bất hạnh ở đời… thông cảm sâu sắc với mọi đau thương và tai vạ của nhân dân”. Chúng ta đều biết, chủ nghĩa nhân đạo cao cả đó, người đọc tìm thấy trong Truyện Kiều, trong Văn tế thập loại chúng sinh. Ở các bài thơ chữ Hán, tinh thần nhân văn cao cả, rộng lớn đó gắn liền với “cái tôi” trữ tình, với nỗi niềm, với tâm trạng của nhà thơ khi viết về cuộc đời dâu bể của con người, về  mọi kiếp người bất hạnh. Từ cô đào ở La Thành (Cõi thế ai thương người bạc mệnh; Dưới mồ riêng hối kiếp phù sinh - Điếu La Thành giả ca) đến người mù hát rong ở Thái Bình; từ ba mẹ con đi ăn xin ở An Huy, Hồ Bắc cho đến nhân dân nghèo đói đòi nổi loạn ở Hà Nam; từ bác ngư tiều bên dòng sông Lam cho đến cảnh anh em tan tác nơi non Hồng, v.v… và cả những cô hồn không nơi nương tựa (Phản chiêu hồn). Trong Sở Kiến hành, nhà thơ đã vẽ lên những bức tranh nghịch cảnh: Mẹ chết có tiếc gì; Thương đàn con vô tội; Nỗi đau như xé lòng; Trời cao có thấu nổi? Hoặc: Thức ăn thừa đổ đi; Quanh xóm no đàn chó; Biết đâu trên đường quan, Có mẹ con đói khổ! Ngay cả hòn đá vọng phu trước thi nhân vẫn có hồn, vẫn đầy nỗi hoài niệm, lòng thủy chung. Đằng sau dấu rêu xanh và núi đá vô tri kia là kết tinh của người nhi nữ chuyên giữ đạo cương thường (Vọng phu thạch).

Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du có mấy đặc điểm sau:

Lòng thương người mênh mông ôm chứa mọi kiếp người, được bắt nguồn từ chữ “tâm”, chữ “đồng” (đồng cảm, đồng tâm, đồng điệu) trước mọi đổi thay của thế sự, trước cái mong manh bé nhỏ của con người trong cái vĩnh cửu, bao la của vũ trụ. Ở Nguyễn Du, lòng thương người chính là lòng thương mình; chứ không phải là lòng thương của kẻ giàu đối với người nghèo, của vua quan đối với chúng dân, của người có thế lực đối với kẻ sa chân lỡ bước. Cho nên, hễ thấy một hiện tượng ngang trái, phi lý, bất công trong xã hội là nhà thơ dễ động lòng trắc ẩn.
Lòng thương người của Nguyễn Du cũng là lòng Khuất Nguyên với nước sông Tương, nghìn vạn năm vẫn trông thấy đáy.
Lòng thương người của Nguyễn Du bắt nguồn từ lòng cô trung. Biết vận nhà Lê đã suy vong, đã sụp đổ, mà lòng không thể không thờ vua; đi với nhà Nguyễn biết là quy luật tất yếu, nhưng lại bẽ bàng, chí sĩ không thờ hai vua. Từ tấm lòng son đó, thi sĩ họ Nguyễn dễ dàng hòa nhập với số phận của tầng lớp trung lưu thất thế, công danh lận đận, phận hồng nhan, bạc mệnh, v.v…

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du được viết bằng thể thơ Đường luật, trong đó thể thất ngôn bát cú được coi là cơ bản. Nhà thơ thường dùng thể thơ này và vận dụng đúng luật bằng, trắc trong từng câu và trong cả bài, luật bố cục bốn phần: đề, thực, luận, kết. Ví dụ như bài Sơn cư mạn hứng, Sở vọng và nhiều bài khác. Nhưng để mở rộng đề tài miêu tả, nhà thơ phá vỡ bố cục, không bị niêm luật, số chữ, số câu gò bó, sử dụng linh hoạt câu thơ tự do như bài Ký mộng (gồm 24 câu, 5 chữ); Kinh Kha cố lý (gồm 28 câu, 7 chữ), v.v… Thỉnh thoảng nhà thơ dùng thể cổ phong năm chữ như Sở Kiến hành, thể cổ phong bảy chữ trong các câu không đều nhau gọi là “tạp ngôn” như Long thành cầm giả ca, v.v…

Để miêu tả cảnh vật núi sông: một làng quê xa, một đêm trăng sáng, một mùa thu lạnh, Nguyễn Du ít dùng những biểu tượng đã trở thành cổ điển thường thấy trong thơ, từ Trung Hoa mà chúng ta gặp trong thơ chữ Hán của Đào Tấn như: cội tùng, xương mai, bụi vàng, nắng đỏ, nhạn chiều, mây thưa, hồn bướm, cánh hồng, thân bồ liễu, phận hồng nhan, v.v… Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, với triết lý thiên - nhân hợp nhất, chúng ta thấy cảnh thiên nhiên nào cũng có sự sống của con người, dù đó chỉ là một miền quê ở ẩn, một rặng hoa đào, một đám mây bạc, một đàn cò trắng, v.v… Và ngược lại, con người không chỉ sống trong cộng đồng làng quê mà còn là kẻ lấy hươu nai làm bạn lúc đi săn, lấy trăng để tâm tình, lấy hơi ấm của rượu để giải sầu. Tất cả đều được Nguyễn Du cảm thụ bằng thi pháp hiện thực và ngôn ngữ hiện thực tồn tại trong xã hội Việt Nam thời đại ông.

---------------------------

* Trích trong sách "THƠ TỪ CUỘC ĐỜI

                             THƠ ĐẾN MỌI NGƯỜI

(Hợp tuyển tiểu luận, phê bình về thơ 1963 - 2013) của Hồ Sĩ Vịnh do NXB Dân Trí xuất bản

Rút từ tập: Về bản lĩnh văn hóa Việt Nam

Nxb Chính trị quốc gia, 2005, từ tr. 59 - 69

[1] Tất cả ba tập thơ nói trên đều in chung trong cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb. Văn học, Hà Nội 1988. Những bài thơ, câu thơ trong bài viết, chúng tôi dẫn từ cuốn sách này, theo các bản dịch của các nhà nghiên cứu: Đào Duy Anh, Khương Hữu Dụng, Xuân Diệu, Trần Lê Văn, Lê Phước, Phạm Khắc Khoan, Quách Tấn, Phan Võ, Trần Thanh Mai, Kim Hưng, Đỗ Văn Hỷ, Nguyễn Huệ Chi và nhiều người khác.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}