Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sự kiện:

 

Ngày Thơ Việt Nam – Tưởng nhớ Nguyễn Du & Hồ Chí Minh

Trương Sỹ Hùng | Chủ Nhật, 21/02/2016 23:08 GMT +7

      Cha đẻ đại thi hào Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm có tám vợ và hai mươi mốt người con, trong đó có mười hai trai, chín gái. Thân mẫu Nguyễn Du là vợ thứ Trần Thi Tần sinh bốn trai một gái. Con đầu của bà là Nguyễn Trụ chết bệnh cùng năm với cha khi mười tám tuổi (1775), sau đến người con gái là vợ Vũ Trinh - đại thần nhà Lê, tác giả Kiến văn lục, thứ ba là nhà thơ Nguyễn Đề (tức Nguyễn Nễ), Nguyễn Du là thứ tư, con út là Nguyễn Ức.

       Nguyễn Du mồ côi cha lúc mười ba tuổi, mất mẹ năm mười lăm tuổi, phải ở với Nguyễn Khản là anh cả đang làm quan ở thành Thăng Long. Nội chiến Trịnh - Nguyễn, Nguyễn Khản bị phá sản sau vụ án Canh Tý (1780), Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn là bạn Nguyễn Khản đưa về lánh nạn ở Thái Bình. Như vậy, Nguyễn Du nương nhờ nhà anh cả ở phường Bích Câu trong khoảng lăm năm. Bốn năm sau (1784), Nguyễn Du thi đỗ cử nhân tại trường thi Nam Định. Đây cũng là nhân mối để Nguyễn Du trở thành em rể Đoàn Nguyễn Tuấn. Về sau, khi đất nước rơi vào cảnh "nồi da nấu thịt".

         Lưu lạc ba mươi năm, kể từ sau khi Nguyễn Du đã phải sống mai danh ẩn tích ở quê vợ tại Thái Bình, mà luận ý theo câu cuối bài thơ Quỳnh Hải nguyên tiêu thì đến năm 1810, trước khi mất lăm năm, Nguyễn Du vẫn ở Thái Bình. Việc đây đó có người đưa tư liệu khác có lẽ chỉ là dấu ấn xúc cảm sinh tình những khi ông viếng thăm quê nội. Chính vì thế, nhà thơ thấy năm tháng cứ trôi đi như con thoi, thời cuộc đổi thay nhanh chóng, tóc dần bạc rồi mà bap nỗi niềm tâm sự, toan lo vẫn còn ngổn ngang trăm mối. Có lúc Nguyễn Du đã cảm thấy bất lực trước những biến cố cuộc đời có liên quan trực tiếp đến vận mệnh dân tộc, chẳng hạn như câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. 

        Nỗi cô đơn của Nguyễn Du càng trở lên khủng khiếp hơn về thân phận con người lam lũ mưu sinh nói chung, thân phận của một kẻ sĩ bất lực, im lìm chịu đựng trước thời thế, cô đơn bởi ông chưa làm gì được với tư cách một tri thức dân tộc chưa có dịp bộc lộ sự đóng góp nhỏ nhoi của mình làm đổi thay tình trạng đất nước hoang tàn bởi quan lại nhũng nhiễu, tham tàn bạo ngược đang ra sức vơ vét của cải xã hội, dùng mọi quyền lực, mánh khóe để bóc lột dân nghèo để xây dựng biệt thư, lăng tẩm xa hoa lãng phí.             

                                         瓊海元宵 

Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên     元夜空庭月滿天
Y y bất cải cựu thiền quyên                          依依不改舊嬋娟
Nhất thiên xuân hứng, thuỳ gia lạc              一天春興誰家落
Vạn lý Quỳnh Châu, thử dạ viên                 萬里瓊州此夜圓
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán                    鴻嶺無家兄弟散
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên                     白頭多恨歲時遷
Cùng đồ lân nhữ dao tương kiến,                 窮途憐汝遙相見
Hải giác thiên nhai tam thập niên.               海角天涯三十年

      Theo chu kỳ vũ trụ, mỗi năm trời xuân sẽ trở lại. Đất nước dường như hồi xuân cùng sự phục sinh, vươn tới bởi sức xuân. "Người cùng cảnh vật cùng tươi mới", thế nhưng Nguyễn Du lại cảm thấy một khoảng trời xuân như còn đang ấp ủ những tâm tình sâu thẳm, những suy cảm mông lung chưa một gợi được được nguồn vui, thi hứng mùa xuân.

     Bài thơ do chúng tôi tạm dịch:

Tháng Giêng trăng tỏ đêm Rằm

Đất trời rạng rỡ muôn phần như xưa

Du xuân ai đã sớm trưa

Quỳnh Châu ta vẫn đón chờ ánh trăng

Hồng Lĩnh không chốn nương thân

Anh em ly tán ngày xuân nhạt nhòa

Ánh trăng hiền dịu với ta

Ba mươi năm ấy cũng là thủy chung

     Tuy nhiên, Nguyễn Du cũng không hờ hững với xuân tết như Nguyễn Khuyến sau này trong đôi câu đối:

                                 Tối ba mươi pháo nổ đì đùng ờ ờ Tết

                                 Sáng mồng một đụng nêu đánh cộc, à à Xuân

      Một mùa xuân mới với Nguyễn Du đang có nỗi niềm tâm sự lưu lạc, tha hương, bất đắc chí với thời cuộc đảo điên với gia đình ly tán, hoàn cảnh kinh tế nghèo nàn gian khó. Sau khi quân Tây Sơn ra Bắc phù Lê diệt Trịnh, nhưng thế lực cầm quyền vẫn ngựa quen đường cũ, người lao động cần cù  chịu khó  vẫn chỉ ở vị trí tốt đen tốt đỏ, nên dù cho Nguyễn Du có vào cuộc tham chính cũng chẳng thấm gì. Vả lại tuổi cao, sức mảnh, hiểu không chuẩn mức về phong trào nông dân khởi nghĩa Tây Sơn, Nguyễn Du cũng đã chống lại, cuối đời ông đã được Gia Long nâng đỡ nhưng không còn cơ hội.

      Ngày hội thơ Việt Nam đương đại đã tính niên hạn 14 năm, nhưng có thể tính khởi điểm từ bài thơ Quỳnh Hải nguyên tiêu của Nguyễn Du và thời điểm phục hưng với bài Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh:

                 Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

               Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên

     Yên ba thâm xứ đàm quân sự

           滿    Hạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

 Bản dịch của Xuân Thủy:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn mầu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

                                                         (Hồ Chí Minh Thơ, Nxb. Văn học, H, 2004)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}