Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Nghèn - Một giọt trầm thao thức

Nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã | Chủ Nhật, 31/05/2020 16:45 GMT +7

 

Tôi chưa đến thị trấn Nghèn (huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), nhưng khi gọi lên tiếng "Nghèn" thì tự nó là một giọt trầm, buồn thao thiết trong âm nhạc, trong dòng chảy ríu rít như rừng chim của tiếng Việt hừng đông.

Trung tâm thị trấn Nghèn hiện nay

Ai sinh ra và lớn lên, cũng đều yêu quê hương bản quán của mình, không nỡ rời xa. Có muôn ngàn cách yêu, nhưng có một nhà thơ hóa thành chiếc rễ cây để yêu quê mình, là một cách yêu đầy hình tượng. Điều đó nói lên rằng, chiếc rễ đã cắm thật sâu, hút màu mỡ đất đai để hình thành sự sống:

 

"Chiếc rễ tôi bám chặt rú Nghèn

trước mặt tôi dòng sông đơm đầy hoa cơm nguội

trước mặt tôi đám lục bình dung dăng chẳng nghĩ gì chìm nổi

phía bên kia con sáo mỏi mắt về..."

 

Tôi cảm thấy thích thú, khi hồn thơ ôm trọn "rú Nghèn", nơi nhà thơ Ngô Đức Hành coi là địa mạch của quê hương mình. Tôi hiểu "" trong rừng rú, tức rừng Nghèn, một âm điệu rất hay trong tiếng đa thanh của người Việt. Khi quay mặt lại, thì rú Nghèn là bình phong che chở cho quê nhà thơ, và con sông trôi trước mặt như cặp song hành trong triết lý âm dương, để khẳng định một vùng địa linh nhân kiệt. Ngô Đức Hành viết bài thơ này, khi đôi bờ sông Nghèn nở đầy hoa cơm nguội, một hình ảnh đẹp chỉ có ở vùng quê còn giữ được môi trường trong sạch. Vì thế, mà lục bình dung dăng như bầy trẻ, chẳng có tí ưu tư nào, cho con sáo sang sông mong được về thăm mẹ...

 

"rễ tôi cắm đất quê

vỉa đá ong mạch nước ngầm ngậy thơm bùa trinh tiết

giếng Chạ giấu đôi mắt tự tình duy nhất

phía đa đoan rắc tím bồng bềnh"

 

   Đọc khổ thơ này, tôi chợt nhớ những cuộc biến thiên lịch sử, người Việt bay tứ tán khắp thế giới. Kẻ ra đi, người ở lại, nên "rễ tôi cắm đất quê" qua từng thế hệ là vậy đó; là uống nước vỉa đá ong của giếng Chạ trong suốt ngọt lành, giữ trọn bản chất "trinh tiết" của quê hương. Giếng Chạ nổi tiếng vừa trong vừa mát, như đôi mắt người thương, dẫu có đa đoan cũng không có gì sánh được!

 

"một nửa dòng đắm ngọt Hạ Can

một phía Trà Sơn cam vàng tay em cầm nhật thực

bước chân dụ tôi về Trường Lưu nghe hát

Nguyễn Du đọc Kiều ai nỡ để chiều nghiêng

 

   Người ta ví huyện Can Lộc như quyển sách mở, phía Tây Bắc là vùng Thượng Can, Đông Nam là vùng Hạ Can, là nơi sinh ra những bậc anh hùng khoa bảng nổi tiếng, không chỉ nức lòng người xứ Nghệ. Con sông Nghèn, còn gọi là sông Nhà Lê, một nhánh của sông Lam, chảy về Hạ Can. Ôi, mảnh đất mà con sông cũng thành quyển sách, thì quả thật đây là vùng đất học rồi còn gì? Có lẽ vì thế, mà đoạn thơ này Ngô Đức Hành vô hình trung đã giới thiệu vùng linh khí Sông Nghèn một cách kín đáo.

 

“Giọt Nghèn sâu lắng vang lên trong tâm thức”, nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã

Tôi bâng khuâng khi đọc câu thơ "một phía Trà Sơn cam vàng tay em cầm nhật thực", câu thơ càng ngẫm càng hay. Bởi đất Trà Sơn là vùng trồng cam nổi tiếng, trái cam long lanh ngọt lịm ấy, qua con mắt nhà thơ với cái nhìn ẩn dụ bỗng biến thành "tay em cầm nhật thực", một thi ảnh tuyệt đẹp, tay em là trăng ăn dần trái cam chín đỏ như mặt trời. Thật là câu thơ biến hóa đến độ siêu thực, vừa mở vừa ám gợi cõi thần linh địa cầu...

   Không những thế, quê nhà thơ – thị trấn Nghèn, “thủ phủ” huyện Can Lộc còn là quê sinh ra 18 đời Quận công trong lịch sử phong kiến. Trảo Nha xưa sớm nổi tiếng là cự tộc võ thần từ thời Lê Trung Hưng. Và với những đóng góp đặc biệt của họ, Chúa Trịnh đã từng tặng cự tộc võ thần này 4 chữ “Xã tắc chi Trảo Nha”.

 

“Câu hát tìm anh”, NXB Hội Nhà văn 2019, tập thơ gồm 99 bài viết về xứ Nghệ của Ngô Đức Hành.

Theo gia phả còn lại ở Trảo Nha, dưới thời Lê và Tây Sơn có tới 18 quận công, 36 hầu tước, 4 người đỗ tạo sĩ (tiến sĩ võ) và nhiều người đỗ tam trường võ. Đặc biệt, đời thứ 7, Toàn Quận công Ngô Phúc Vạn là con rể của Trịnh Tùng được tặng Thái Bảo. Phúc Vạn có 10 người con trai làm rạng rỡ thêm võ công của dòng họ đều được phong công hầu. Con cháu 10 vị tướng này đi trấn nhậm nhiều nơi đã hình thành nhiều chi họ Ngô mới ở Hà Nội, Quảng Bình, Quảng Nam, An Giang…

Thời hiện đại, đây là quê của chí sỹ Ngô Đức Kế, “Ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu. Rộng ra, Can Lộc thì “trầm tích” văn hóa khó kể xiết. Chỉ biết đây là quê hương của Nguyễn Huy Tự với truyện thơ Hoa Tiên nổi tiếng; Trường Lưu, quê hương của ông cũng sở hữu “Hoàng hoa sứ trình đồ” được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu thế giới. Còn nữa, “Bia Sùng chỉ” được công nhận là Bảo vật quốc gia...Đại Thi hào Nguyễn Du, từng đến Trường Lưu hát phường vải.

Nên dù có đi xa Ngô Đức Hành vẫn lòng vẫn "đặt trửa" đất Nghèn. Hay quá, lòng người như lòng Nghèn luôn đặt trong nhau nỗi nhớ về. Có lẽ vì thế chăng, mà người xứ Nghệ khi đi xa lòng vẫn ở giữa quê nhà như xương dính thịt, không rời? Có một điều đặc biệt thú vị, khi biết nhà thơ Ngô Đức Hành là cháu gọi nhà thơ lớn Xuân Diệu bằng bác, cho nên dù ít dù nhiều vẫn có chút ảnh hưởng thi ca, dù mỗi thời đại mỗi khác, nhưng cái gien trong máu vẫn là...

 

"đi xa lòng tôi đặt trửa đất Nghèn

em tập hát ca trù trên môi thơ Xuân Diệu

con tép kiễng chân tìm bạn tình đầu bờ xóm hói

thia lia vác cờ mở hội Trảo Nha"...

 

   Tôi cho rằng, Ngô Đức Hành có lòng tự hào quê hương, khi nhắc đến Nguyễn Du và Xuân Diệu, là hai ngọn cờ lớn trong nền thơ Việt. Đó là cách nói tinh tế về hai nhân vật điển hình, có lẽ nhà thơ muốn gởi gắm nhiều tâm sự vào hai con người nổi tiếng tài hoa bạc mệnh, mà cuộc đời có nhiều bi kịch về số phận. Đoạn thơ được mở rộng ra nhiều trường liên tưởng liên tiếp, cung cấp cho người đọc nhiều thông điệp về tinh thần. Ở đây, sức ảnh hưởng của dân ca xứ Nghệ lên đời sống của người dân là rất lớn, nên Ngô Đức Hành viết:"em tập hát ca trù trên môi thơ Xuân Diệu/ con tép kiễng chân tìm bạn tình đầu bờ xóm hói/ thia lia vác cờ mở hội Trảo Nha"...

   Thế đấy, một vùng xóm hói (suối), Trảo Nha quanh năm mở hội, cả tôm cá cũng không thể khác, đó là sức ảnh hưởng phi thường của dân ca, ví giặm vào đời sống một cách sinh động, hùng hồn.

   Nhìn lên mây núi Hồng Lĩnh, Ngô Đức Hành viết:

 

"Hồng Lĩnh đại bàng cuồn cuộn mây xa

Lê Trung Hưng chọn rú Nghèn tìm dây mắc võng

giấc mơ của người xưa không vẽ theo thần thánh

chỉ là mọi lẽ sinh sôi

 

tiếng trống bình minh dội vách ngực con người

tay cầm tay bay lên đồng nội

rễ tôi bám nơi không có tuổi

ngàn năm

tinh khiết mạch nguồn"...

 

   Quả thật, núi Hồng Lĩnh là cảnh quan hùng vĩ, gắn với truyền thuyết đàn chim phượng trăm con bay về Kinh đô Việt Thường thời Kinh Dương Vương. Cặp sơn thủy hùng vĩ nhất là "Lam Hồng" luôn song hành, trong đó rú Nghèn có phải là nơi thời Lê Trung Hưng chọn để "tìm dây mắc võng" hay không thì không biết, nhưng "tiếng trống bình minh dội vách ngực con người/ tay cầm tay bay lên đồng nội" là hình ảnh trống đồng của thời dựng nước. Vì thế, quê hương sông Lam núi Hồng là quê hương ngàn năm không có tuổi, mà chiếc rễ nhân sinh luôn bám vào sinh sôi, nẩy nở.

   Có thể nói, Nghèn là một địa danh lịch sử như một mảnh hồn làng. Chỉ cần Làng còn là đất nước còn, bởi con người luôn biết cắm rễ vào làng mà yêu thương gắn bó, sinh sôi nẩy nở và phát triển, dù phải trải qua bao cuộc bể dâu đi nữa, thì làng trong văn hóa Việt vẫn trường tồn với dân tộc...

   Vâng, với chất dân gian thấm đẫm vào mỗi câu thơ, ta rưng rưng đọc “Mạch nguồn” của Ngô Đức Hành, mà nghe giọt Nghèn sâu lắng vang lên trong tâm thức. Tôi nghĩ, đây chính là mạch nguồn cảm hứng cho nhà thơ Ngô Đức Hành viết nên tuyệt tác...

 

Hang Núi (Đà Lạt) tháng 4.2020 - N.T.N

 

Ngô Đức Hành

 

MẠCH NGUỒN

 

Chiếc rễ tôi bám chặt rú Nghèn

trước mặt tôi dòng sông đơm đầy hoa cơm nguội

trước mặt tôi đám lục bình dung dăng chẳng nghĩ gì chìm nổi

phía bên kia con sáo mỏi mắt về...

 

rễ tôi cắm đất quê

vỉa đá ong mạch nước ngầm ngậy thơm bùa trinh tiết

giếng Chạ giấu đôi mắt tự tình duy nhất

phía đa đoan rắc tím bồng bềnh

 

một nửa dòng đắm ngọt Hạ Can

một phía Trà Sơn cam vàng tay em cầm nhật thực

bước chân dụ tôi về Trường Lưu nghe hát

Nguyễn Du đọc Kiều ai nỡ để chiều nghiêng

 

đi xa lòng tôi đặt trửa đất Nghèn

em tập hát ca trù trên môi thơ Xuân Diệu

con tép kiễng chân tìm bạn tình đầu bờ xóm hói

Thia lia vác cờ mở hội Trảo Nha

 

Hồng Lĩnh đại bàng cuồn cuộn mây xa

Lê Trung Hưng chọn rú Nghèn tìm dây mắc võng

giấc mơ của người xưa không vẽ theo thần thánh

chỉ là mọi lẽ sinh sôi

 

tiếng trống bình minh dội vách ngực con người

tay cầm tay bay lên đồng nội

rễ tôi bám nơi không có tuổi

ngàn năm

tinh khiết mạch nguồn

 

17/4/20 - NĐH

 

“Can Lộc Yêu Thương”, NSUT. Tiến Lâm, nhạc Trịnh Ngọc Châu, thơ Ngô Đức Hành

 

 

---

Xem thêm Tại đây

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}