Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Nghi thức lễ hội trong tục thờ thần Thiên Hậu ở Đông Nam Á

Trương Sĩ Hùng | Thứ Ba, 01/12/2020 22:51 GMT +7

Tín ngưỡng thờ nữ thần Thiên Hậu là một tín ngưỡng dân gian phổ biến của người Hoa. Cư dân các nước Đông Nam Á hải đảo đã tiếp nhận tục thờ nữ thần Thiên Hậu, sau khi có cộng đồng người Hoa đến định cư trên quê hương của họ. Trải qua hơn 300 năm tồn tại và phát triển, tục thờ nữ thần Thiên Hậu đã trở thành một thực thể văn hóa đối với cả khu vực châu Á nói chung và Đông Nam Á hải đảo nói riêng.

1. Nghi thức tế lễ Thiên Hậu ở các điểm thờ nữ thần Thiên Hậu tại một số nước Đông Nam Á hải đảo:

Tục thờ Thiên Hậu ở một số nước Đông Nam Á hải đảo đã chuyển hóa theo nghi thức dân gian khá chặt chẽ, biến hình theo phong tục địa phương, gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm lý cộng đồng dân tộc, cho dù nhiều người không phải là tín chủ. Những bài thần ca khẩn nguyện mang màu sắc miền quê biển đảo lần lượt ra đời.Những bài ca nghi lễ thờ thần Thiên Hậu ở một số nước Đông Nam Á hải đảo gợi mở, thúc đẩy các nghề thù công truyền thống như may mặc, làm vật dụng trang trí phục vụ các ngày lễ.

a) về nghi thức tế lễ Thiên Hậu có hai hình thức:

1. Tế lễ cố định vào hai ngày sinh và mất của Thần Thiên Hậu (23/3 và 9/9)

2. Tế lễ không cố định (tế lễ tức thời của người dân gặp nạn trên biển, cầu cho sóng yên, biển lặng để ngư dân đánh bắt được nhiều hải sản, Đối với ngư dân chuyên nghiệp, những lời khẩn nguyện này còn bao gồm cả ý nguyện cầu con, cầu may. Đối với cư dân bán ngư bán nông có khi còn phải cầu mưa, cầu năng sao cho cả nghề nông cũng được phát triển.

Tế lễ cố định được tổ chức tại miếu Thần Thiên Hậu tại mỗi điểm thờ được coi là lễ trọng trên phạm phi rất rộng, có tầm xuyên quốc gia.. Xưa kia, hoạt động này được các quan chức triều đình nhà Thanh tế lễ rất long trọng, còn những người dân thì dâng hương, cầu khấn, bỏ tiền vào hòm công đức để xem quẻ cầu may... Các tế phẩm gồm có: gà, vịt, lợn, dê, cá. Tại miếu Thần Thiên Hậu ở Bắc Cảng - Đài Loan còn có lễ rước kiệu Thần Thiên Hậu, với hai hộ tướng là Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ dẫn đường. Dân hai bên đường mở cửa, cúng lễ phẩm, đốt pháo, nghênh thần vào nhà với hi vọng thần sẽ đem đến những điều tốt đẹp. Trong lúc rước, kiệu thường xoay, khi về đến miếu thì có tục “chui kiệu”. Trong dịp lễ hội còn có múa sư tử, dàn trận Tống Giang, nhân gia tướng, đánh chiêng trống... ban đêm thì tổ chức các hoạt động diễn kịch. Có nơi lại tổ chức đánh chiêng, trống, đọc văn tế, xiếc, kiệu ngọc, đi cà kheo, dâng hương, khánh thọ bát tiên, múa sư tử, đô vật, trăm hoa đua sắc, trèo cột... Vài nơi khác thì tế lễ Thần Thiên Hậu vào cuối mùa xuân, thu hàng năm, mời thầy đến tế giống như ở miếu Văn Xương, vật tế do các quan Tri phủ dâng cúng, có văn tế. Có nơi lại thỉnh Thần Thiên Hậu lên thuyền để cúng và tồ chức hội đua thuyền rồng. Người lên thuyền đều phải ăn chay và tắm rửa sạch sẽ, lúc thỉnh thần thì phải mặc quần áo mới, còn người đứng đầu thuyền phải mặc áo dài, đầu cuốn khăn hồng, đốt hương, trong khi đó những đứa trẻ (con trai) sẽ đánh trống chiêng để rước thần lên thuyền. Có nơi cúng tế Thiên Hậu bằng đầu rồng (bộ phận của chiếc thuyền rồng). Trong thời gian diễn ra hội miếu còn có hoạt động Thần Thiên Hậu phân thân về nhà mẹ đẻ ở đảo Mi Châu. Những nơi rất xa đảo Mi Châu, người ta thỉnh tượng Thần Thiên Hậu đến Hội quán Phúc Kiến hoặc Quảng Đông trong địa phương đó, hoặc đến một ngôi miếu Thiên Hậu cổ nhất vùng, được coi là “miếu tổ” để dâng hương yết tổ. Tượng Thiên Hậu được để ở đó ba ngày rồi mới rước trở về miếu cũ. Trước đây, Đài Loan thường chọn một ngôi miếu Ma Tố cố nhất đế làm “Miếu tổ” nhưng những năm gần đây, nhờ điều kiện ở hai nơi có nhiều biến đổi, những cư dân sinh sống ở Đài Loan trực tiếp đến đảo Mi Châu để dânghương, tiến cờ[1].

Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây về tín ngưỡng Thiên Hậu lại có cách phân chia khác[2]. Tác giả chia các hình thức tế lễ Thần Thiên Hậu ra thành hai loại: tế lễ gia đình và tế lễ trong cung miếu. Te lễ gia đình là hình thức tín ngưỡng Thần Thiên Hậu trong dân gian. Trên thực tế, đây chính là hình thức tế lễ nguyên thủy nhất, bao gồm các hình thức: tế thuyền, tế biển, tế gia và tế đường. Tế thuyền là hình thức thờ cúng tượng Thần Thiên Hậu trên thuyền, khi gặp sóng to gió lớn thì cầu cúng. Từ đời Tống đến nay, hầu hết các thuyền đều có thờ cúng Thần Thiên Hậu. Trước khi đi biển cho đến lúc trở về, nhà thuyền đều phải tế Thần Thiên Hậu theo tục lệ để cầu cho hành trình được bình an. Các tế phấm bao gồm: các vật cúng tế, đốt hương, quỳ lạy. Tuy rất đơn giản, nhưng nó đã trở thành tục lệ phổ biến và là quy định không thể thiếu của người đi biển.

Tế biển là hình thức tế lễ Thần Thiên Hậu phổ biến nhất của người dân vùng ven biển cổ đại. Hằng năm, vào ngày sinh hoặc ngày mất của Thần Thiên Hậu, dân ở vùng duyên hải lại tập trung tại bờ biển, chuẩn bị các đồ ngũ quả và tam sinh, đốt hương cầu khấn Bà, mong đi biển được bình yên. Te xong, họ thả hoa và đổ rượu xuống biến để biểu thị lòng tôn kính. Vào dịp này, tất cả những thuyền ở gàn hay xa bờ đều tập trung về đây tế lễ và cầu nguyện.

Tế gia là hình thức thờ cúng Thần Thiên Hậu tại nhà riêng, thường chỉ những người sùng bái Thần Thiên Hậu mới đặt khám thờ bà trong nhà mình. Cứ vào ngày mồng 1, ngày rằm, ngày sinh cũng như ngày mất của Thần Thiên Hậu, người ta thắp hương cúng bái. Tục lệ này thường thấy ở những người dân vùng ven biển ở các vùng miền, quốc gia hải đảo như: Đài Loan, Hồng Công, Ma Cao, các khu dân cư của Hoa kiều tại Singapo, Malaysia, Nhật Bản, Thái Lan, Mĩ, Anh, Canada... Theo kết quả điều tra thì hình thức tế lễ này chiếm 1/3 tổng số người có tín ngưỡng Thần Thiên Hậu. Tư tế là người chủ đền (miếu) làm chủ tế và tất cả nhũng người đến từ các đền miếu nhỏ hơn  thường được xây dựng ở đơn vị hành chính thôn, xóm. Tế đường, tức nghi thức tế lễ thần Thiên Hậu trong  từ đường; là hoạt động tế lễ của những hậu duệ họ Lâm cùng tộc với Thiên Hậu; hoặc những Hoa kiều có nguồn gốc xuất thân tư dòng họ, hiện đã định cư ở nước kháctrên khắp thế giới. Hình thức tế lễ này mang tính gia tộc, được truyền bá rộng rãi trong dòng họ Lâm tại Bồ Điền cũng như Hoa kiều ở khắp các nước Đông Nam Á. Người ta thường chọn ngày tế lễ là ngày sinh hoặc ngày mất của thần Thiên Hậu để tổ chức ngày lễ hội hoành tráng hơn các ngày Rằm (ngày 15) và mồng Một.

Tựu trung nghi lễ thờ cúng nữ thần biển Thiên Hậu đều do người Hoa thực hành tại các đền thờ của cả cộng đồng và có khi được các tín chủ sùng kính, có biểu hiện ích kỷ đã đưa linh vị, thần tượng thần Thiên Hậu về lập bàn thờ riêng ở nhà ở của mình. Nghi thức thờ cúng tuy có tinh giản hơn nghưng tiến trình thực hành khấn vái, vật cúng không thay đổi. Nghi thức tế lễ và lễ hội Thiên Hậu ở các nước Đông Nam Á hải đảo tương đối giống với các bước thực hành tín ngưỡng có nguồn gốc từ quê hương nữ thần.

Song, ở miền Bắc Trung Quổc, rất hiếm khi người ta thực hành tắm tượng Thiên Hậu mà cần phải để cho bụi bặm bám thành tầng tầng lớp lớp. Họ cho rằng, những tầng bụi đất đó, đồng nghĩa là công đức viên mãn, vì thế trong các dịp lễ hội thờ cúng hàng năm không được lau rửa tắm tượng “còn gọi mộc dục” đối với tượng gỗ. Phải kiêng giữ, để cho các lớp bụi thời gian chồng xếp lên nhau càng dày càng tốt. Nhưng ở miền Nam Trung Quốc thì các tín đồ thần Thiên Hậu lại tiến hành những bước thực hành nghi lễ làm trái lại. Mỗi dịp lễ tết hàng năm, tượng Thiên Hậu được định kì lau rửa. Nghi thức đó ở miền Bắc Trung Quốc, trong lễ hội cung Thiên Hậu ở Thiên Tân lại có vẻ giống với một diễn xuất mang tính thương nghiệp với lộ trình rước là một đường thẳng tắp trước cung và người tham gia hầu hết là thương dân ở khắp nơi trong nước kéo về.

b) Lễ hội trong tục thờ thần Thiên Hậu ở Đông Nam Á hải đảo:

Tế đường (tế lễ ở từ đường) là hoạt động tế lễ của những hậu duệ cùng tộc với Thần Thiên Hậu tại từ đường họ Lâm hoặc những Hoa kiều trên khắp thế giới tại Đường hội Hữu Nghị. Hình thức tế lễ này mang tính gia tộc, được truyền bá rộng rãi trong dòng họ Lâm tại Bồ Điền cũng như Hoa kiều ở Đông Nam Á. Người ta thường chọn ngày tế lễ là ngày sinh hoặc ngày mất của Ma Tố.

Với nghi thức tế lễ Thần Thiên Hậu trong các đền thơ nữ thần Thiên Hậu ở một số nước Đông Nam Á hải đảo thường có hoa tươi, hương và đốt pháo. Tế lễ gồm các bước sau:

Tuy nhiên, cũng có trường hợp cơ sở thờ thần Thiên Hậu do một tập hợp nhóm người Hoa cư trú ở một vùng nhất định góp tiền xây cất. Với trường hợp này, ban trị sự phải có đủ thành viên của các nhóm nhỏ hơn có phương ngữ: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Hẹ…khác nhau. Hình thức tổ chức như thế tạo điều kiện cho các thành viên trong ban quản đốc xây dựng có thể mở rộng quan hệ với nhiều tổ chức gần xa khác để tiếp tục bổ sung kinh phí. Thông qua sinh hoạt ở các hội quán, các thành viên có dịp gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm trong mua bán, sản xuất, từ đó mối liên hệ với các tổ chức ngoài khu vực định cư sở tại của nhóm người Hoa này. Các hội đoàn văn hóa, thể dục - thể thao, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của hội quán. Các tổ chức, cá nhân người Hoa ở nước ngoài thông qua mạng lưói hội quán có thể tham gia đóng góp hoặc được tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc trùng tu, xây mới đền thờ thần Thiên Hậu hoặc hội quán; nhằm quảng bá văn hóa của cộng đồng người Hoa có cơ hội phổ biên rộng hơn.

Trong mỗi hội quán, tùy vào cách tổ chức của ban trị sự, có nơi còn lập ra một ban tế tự gồm những người tự nguyện đăng ký giúp ban trị sự lo việc mua sắm lễ vật cúng tế, đãi tiệc, v.v. và tiếp tục đi vận động quyên góp kinh phí lo các khoản chi xuất khác trong ngày vía thầnvà cho lễ vía hằng năm.

2. Tổ chức lễ hội tín ngưỡng thờ thần Thiên Hậu:

Tùy vào đặc điểm nhóm phương ngữ, điều kiện nhân sự và tài chính của từng nhóm đền miếu mỗi nơi mà có hình thức sinh hoạt tín ngưỡng thờ thần Thiên Hậu theo những nghi thức tương tự nhau về đại thể; nhưng khác biệt nhau về tiểu tiết, về đại thể, lễ hội gắn với tục thờ Thiên Hậu nhìn chung là đồng nhất.

Có thể thấy nghi lễ được tổ chức hầu như xuyên suốt cả năm, nhưng lễ hội ngày 23 tháng ba kỷ niệm ngày sinh của thần Thiên Hậuvà ngày ngày Rằm tháng bảy âm lịch là lớn nhất. Ngoài ra, các nghi lễ thường xuyên trong hệ thống các cơ sở thờ thần Thiên Hậu ở các nước Đông Nam Á hải đảo nói chung là giống nhau; bao gồm: Lễ cung thỉnh Thiên Hậu hạ giá hồi cung (xuống kiệu về cung thờ) ngày mùng ba tết âm lịch; Lễ tiễn thần Thiên Hậu về Tròi ngày 30 tháng Chạp âm lịch. Tùy từng vùng cụ thể thì ngoài các nghi lễ chính này còn có các sinh  hoạt khác như tết Nguyên tiêu, tết Thanh minh, tết Trung thu, tiết Đông chí, người Hoa đều tổ chức cúng viếng đền Thiên Hậu tại các điểm thờ là đền, miếu.

a) Lễ hội mừng sinh nhật thầnThiên Hậu (Lễ hội Vía Bà) ở Đông Nam Á hải đảo:

Có thể khẳng định rằng, lễ hội mừng, tưởng nhớ, kỷ niệm ngày sinh của nữ thần Thiên Hậu - còn có cách gọi dân dac, kiêng húy là Lễ vía Thần- diễn ra vào ngày 23 tháng ba âm lịch hằng năm là lễ hội lớn nhất trong chu kỳ một năm ở vùng có điểm thờ. Tuy nhiên, do quá trình cộng cư vối cư dân bản địa xu hướng thế tục hóa đã diễn ra qua thời gian lịch sử thăng trầm.

Có trường hơp cũng gọi là lễ vía thầnđã diễn ra vào ngày Rằm tháng Giêng âm lịch. Ở đây là sự biến đổi, hội nhập tục thờ thần Thiên Hậu đã địa phương hóa cho phù hợp phong tục của cư dân sở tại.

Nét chung nhất của nghi lễ tổ chức sinh nhật thần Thiên Hậu biểu hiện tính đồng nhất với các vùng văn hóa khác ở Đông Nam Á hải đảo, có khá nhiều nét tương đồng với lễ hội tín ngưỡng Thiên Hậu ở Trung Quốc, Đài Loan và một sô nơi ở Đông Nam Á. Tham dự lễ hội, dường như mỗi thành viên trong cộng đồng đều có được trạng thái tinh thần đồng tâm nhất trí, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa tín ngưỡng. Theo sự nghiên cứu của giới nghiên cứu khoa học, tâm trạng của người tham gia lễ hội sẽ trải qua ba giai đoạn: phân li (separation, preliminal) tức là tạm gác lại tất cả những lo toan đòi thường, trạng thái tập trung cao độniềm tin vào uy lực của thẩn (margin, liminality) mỗi tín đồ tự cảm nhận giai đoạn tái kết hợp (rites of incorporation, postliminal) rồi tín đồ trở lại thế giới trần thế trong trạng thái đã được “tái sinh”. Như vậy, sau mỗi lần tham gia lễ hội, tự than mỗi người đều cảm nhận được thế giới trần gian trước mặt họ có nhiều nét mới hơn, mọi thứ dường như mới bắt đầu. Có người (Leach - năm 1961) còn phân tích thêm rằng, ngoài ba giai đoạn trên còn phải kể đến giai đoạn sinh hoạt xã hội bình thường trở lại; sau khi lễ hội kết thúc.

Trong suốt quá trình thực hành nghi thức lễ hội, cả không gian tín ngưỡng thờ nữ thần Thiên Hậu đều biến thành “không gian thiêng” (sacred space), toàn thể tín đồ kỳ vọng được đón nhận sự cộng cảm giữa cá thể và cộng đồng tín đồ, giữa con người và thế giới tràn đầy không khí linh thiêng (communitas). Tham gia lễ hội sinh nhật thần Thiên Hậu là cơ hội giành ra thời gian cần thiết để mọi suy nghĩ, mọi âm thanh và hành động đều lắng đọng, tĩnh lặng và thiêng liêng đối với mọi tín đồ. Ai ai cũng tự nguyện, tập trung trí tuệ hướng tâm thức vào cùng một mục tiêu, cộng cảm với nhau với những suy tư sâu thẳm của chính mình. Đỉnh điểm của nghi thức kết hợp (rite of incorporation),chính là sự gặp gỡ và cộng cảm giữa các tín đồ và lực lượng siêu nhiên.

Giành hưởng lộc là nghi thức chính trong lễ hội mừng sinh nhật thần Thiên Hậu. Phải chăng quan niệm ngày vía thầnlà ngày tính linh thể hiện ở khắp mọi nơi trên thế gian. Bất cứ nơi nào trong thế giới loài người, cứ có đền miếu thờ thần Thiên Hậu là có sự đáp ựng nỗi mong mỏi, cầu xin của cư dân ở đó.  Khẩu ngữ dân gian người Hoa đã lan tỏa ở những cộng đồng người chung sống: “vô tam bất thành lễ”, nghĩa là người tham gia “giành hương lộc” phải liên tục thực hiện “giành” trong 3 năm liền mới được hưởng lộc vẹn toàn. Nghi thức này tồn tại ở tất cả các cơ sở tín ngưỡng thờ thần Thiên Hậu ở các nước Đông Nam Á hải đảo.

Theo quy trình, công việc chuẩn bị bắt đầu từ nhiều ngày trước đại lễ, song tập trung nhất vẫn là chiều ngày 22 tháng ba âm lịch. Lễ mộc dục (tắm tượng) là nghi thức đầu tiên. Trưởng người trong ban quản trị đền (miếu) thờ, thay xiêm y mới và chuẩn bị các công tác cần thiết cho ngày đại lễ. Ở những ngôi đền lớn, lễ mộc dục thường được tiến hành vào buổi sáng ngày 22. Có nơi tổ chức lễ tắm tượng thần vào lúc 10 giờ đêm, do hai nữ tín chủ chưa lập gia đình thực thi. Có nơi tổ chức lễ tắm tượng thầnlúc 12 giờ đêm (chắc là người đời chọn giờ thiêng), giao cho người già hoặc tín chủ nữ trong ban trị sự, chưa lập gia đình làm.

Dụng cụ, vật dụng để tiến hành lễ tắmtượng thần Thiên Hậu gồm: nước hoa tươi, có khi dùng đến 12 loại hoa tươi; cành hoa lựu tươi để nhúng vào thau mới lấy nước vẩy lên thân tượng, dùng khăn mới để lau rửa nhẹ nhàng. Sauk hi mọi vic xung quanh lễ tắm tượng loam xong, nước tắm tượng được giữ lại, có nơi san ngay vào các lọ nhỏ để cho các tín chủ xin về lafmthang thuốc trị bệnh hiểm nghèo. Ngày nay, nghi thức tắm tượng thần Thiên Hậu không khác, nhưng nhiều nơi đã dùng nước dầu thơm công nghiệp và tiến hành vào lúc 8 giờ tối. Sau khi tắm xong, tượng thần Thiên Hậu được thay áo mới, lễ này là lễ gia quan. Dù cho lễ mộc dục và gia quan ở mỗi miếu tổ chức thòi gian khác nhau, nhưng đều được tiến hành trong ngày 22 tháng ba. Trong quan hệ so sánh với các tộc người khác trong vùng, không chỉ người Hoa thực hiện nghi thức tắm đốì vởi vong linh thần Thiên Hậu, mà trong văn hóa Chăm cũng có nghi thức tương tự trong việc tắm tượng linga tại các đền tháp. Điểm khác là nưóc rửa linga sê chảy vào bệ tượng yoni và có một rãnh thoát ra ngoài. Người Khmer có nghi thức tắm tượng Phật vào dịp Tết Choi Thnăm Thmây nhân ngày lễ đầu năm mới. Dùng nước thơm của các loài hoa tắm rửa tượng Phật. Nước đã tắm tượng Phật được coi như nước phép, có thể chữa bệnh.

Cũng vào dịp lễ vía thần hằng năm, người Hoa thực hiện nghi lễ thay áo cho Bà. Một số tượng thần của người Hoa trong các đền miếu, luôn được khoác bên ngoài một lớp y trang và những trang sức như các vòng chuỗi đeo quanh cổ. Những tín đồ của thần Thiên Hậu, cung hiến thường niên cho Thầnnhững y trang và trang sức. Đó là những áo khoác bằng vải quý đính kim tuyên hoặc đá quý. Có thể thấy ở những nơi thờ ThầnThiên Hậu, bên cạnh tượng Thần có một tủ kính chứa nhiều y phục, đồ trang sức của thần còn dư lại. Có thể trong tủ chứa đựng nhiều bộ, đợi khi khi tắm rửa tượng thần, người ta sẽ thay cho Thần một bộ trang phục mới được chọn lựa trong số các trang phục do tín đồ cung hiến.

Ở bất kỳ ngôi đền miếu nào, trong ngày lễ hội vía thần Thiên Hậu cũng phải cúng Thiên Phụ Địa Mẫu (cha mẹ ở trên Trời) trưởc bàn thờ đặt ở sân miếu trước cửa chính. Sau lễ cúng Thiên Phụ Địa Mẫu thì đến lễ cúng Quan Âm, Thiên Hậu, Thần Hỏa, Tiền Hiền (có thể là thổ địa hoặc người có công tìm đất lập đền thờ). Đúng giờ lễ, người chủ tế khấn nguyện, gióng 3 tiếng chuông, trống thỉnh các vong linh thần được dân chúng kêu cầu. Chuông theo trống, theo phong tục địa phương, không có xây chầu. Nội dung khấn nguyện là cầu cho quốc thái dân an, phong điều vũ thuận. Trường hợp hãn hữu xảy ra là tại những ngôi miếu do người Hoa xuất xứ từ địa phương nào bên Trung Quốc thì sử dụng tiếng nói của quê hương mình mà khấn lễ, kêu cầu. Người Triều Châu xây dựng đền miếu, thì khi cúng thành viên ban trị sự khấn nguyện bằng tiếng Triều Châu, có nơi tổ chức đọc kinh Phật. Đặc biệt hơn, khi cộng đồng người Hoa đã định cư lâu đời ở một địa điểm nào đó, lại sử dụng cả tiếng địa phương của người bản địa để hành lễ.

Trong suốt chính lễ, một không khí nghiêm trang, tĩnh lặng, hồi hộp và hy vọng là trạng thái phổ biến nhất ở tất cả các buổi thực hành tín ngưỡng của cộng đồng tín ngưỡng thờ thần Thiên Hậu. Hình như tất cả mọi người đều hướng tâm, thoát li khỏi mọi hoàn cảnh cuộc sống đời thường để tự tìm cho mình, trong cõi sâu thẳm linh thiêng của đức tin và tâm thức của mình một “nguồn năng lượng siêu việt”, mỗi khi tiếng trống thờ vang lên. Ai cũng có cảm thức nhẹ nhàng trong tâm tưởng và ai cũng nghĩ rằng bản than mình đang được như đã “hồi sinh” thêm một sức mạnh tươi trẻ mới, giúp mình có thể vượt những trở ngại khó khăn trong cuộc sống. Như thế, rõ ràng không khí trong “lễ hội vía bà” có sự tác động khác biệt nhất định đến tâm lý hưởng thụ văn hóa tín ngưỡng.

Cần lưu ý rằng, trong khi tham dự lễ hội vía bà, tất cả mọi thành viên tín đồ cũng như khách ngoại giới viếng thăm, đều mặc trang phục đẹp, mới; có khi còn là thời điểm phô bày đồ trang sức quý hiếm. Mọi hành vi sinh hoạt, thái độ cư xử, lời ăn tiếng nói nhẹ nhàng không cắu gắt, tức giận, cẩu thả… khiến con người bình thản tinh thần hang say, mẫn cảm hơn với những khoảnh khắc có thể có cơ hội được giao tiếp vởi thần linh, tâm hồn được gột rửa và giải tỏa được phiền muộn. Có thể nói sức thu hút của lễ hội vía bà là đã tạo ra môi trường giao tiếp giữa con người và thần thánh và “những cách thức giao tiếp như thê vẫn sẽ tồn tại lâu dài bởi vì chúng nằm ở mức độ thô sơ nhât, cơ bản nhất. Chúng chỉ có thể mất đi chừng nào mà con người không hướng đến một thê giới ngoài con người, gọi là thê giới của thần linh của ước mơ, thế giới phóng thể của người. Kẻ giầu, người nghèo khi thực hành nghi lễ của người tín đồ thần Thiên Hậu được tháng hoa để hướng tâm đạt được một địa vị (status) cao hơn thường nhật.

Trong thực hành lễ hội vía bà diễn ra ở bất cứ nơi nào cũng không thể thiếu hương, đăng, trà, quả, thực…là lễ vật có vai trò  trung gian để kết nốì tâm linh người đời với vong linh thần thánh siêu nhiên, có ý nghĩa hướng dẫn con người thoát li cái cũ, từ bỏ lầm  lỗi; để tự giác sửa mình chuyển đổi và “thấm thấu” nguồn năng lượng mới. Tế vật có thể khác nhau về tiểu tiết đây đó tùy vào phong tục, tập quán của địa phương, nhưng thông lệ khi cúng ThầnThiên Hậu thường bao gồm: 3 ly hồng trà, 3 cốc rượu trắng; Hoa quả và hoa tươi; Bộ tam sinh hoặc ngũ sinh; Chè lam và quan trọng nhất là trang phục mới cho tượng thần Thiên Hậu.

Chắc vì đường xa, nên hiếm khi thấy mâm lễ vật bày cúng lễ vật được chế biến tại Trung Quốc. Vật cúng lễ vật thường là chè kho, bánh lá liễu, bánh trái đào v.v. mỗi thứ gồm 12 phần.

Có nơi sắp lễ cúng thần Thiên Hậu bao gồm: ngũ quả, tam sinh. Và các loại bánh chế biến từ sản vật địa phương sẵn có như củ cải, bánh bao ngọt, bánh bò ổ lớn, bánh lá liễu, heo quay.

Nơi nào tổ chức lễ hội vía bà Thiên Hậu có sự kết hợp cúng chay và mặnnhằm xin lộc để chiêu đãi rộng rãi mọi đối tượng tham dự lễ hội. Song riêng ngày 23 tháng ba cúng mặn to hơn và chỉ chiêu đãi thành viên hội đồng hương người Hoa trong nội bộ hội quán.

Kèm vói nghi thức cúng vía Bà, cộng đồng tê tự tổ chức lễ rước Bà, thỉnh thánh tượng vào kiệu và cung nghinh kiệu đi quanh phố phường Trên đường đi, các hộ gia đình giàu mua heo quay, vật cúng lễ, đồ nữ trang bằng kim loại dâng cúng, còn dân nghèo hơn thì cúng xôi gà, trái cây. Một số miêu Thiên Hậu ở ven biển có người làm nghề biển còn có lệ rước và thả thuyền tống gió cầu may. Ở các nước Đông Năm Á lệ mở hội cúng thần Thiên Hậu còn thể hiện khá phong phú. Chẳng hạn vào năm 2004 nhân dịp kỷ niệm lớn, tại Thiên Hậu cung do hội quán Hải Nam ở Penang, Malaixia (thành lập năm 1866) đã cho 36 thuyền cá tập trung thành “đội ngũ hùng mạnh tuần du trên biển” để rước linh tượng nữ thần biển.

Gần đây trong các lễ hội vía bà ở một số nước Đông Nam Á hải đảo có xuất hiện tục vay tiền ảo của thần Thiên Hậu, được thực hiện tùy thuộc vào điều kiện và khung cảnh chung của từng khu vực đền (miếu) thờ tọa lạc. Có vay phải có trả, nhiều người đến xin vay tiền của Thần năm nay thì đến lễ hội sang năm tới sẽ đến dự lễ hội và trả tiền Thần theo nghi thức trịnh trọng.

b) Ngoài lễ vía nữ thần biển Thiên Hậu còn có một số lễ hội cũng diễn ra tại điểm thờ Thiên Hậu:

Với quy mô lớn, có tổ chức thu hút số đông tín chủ và nhân dân quanh vùng; ngày lễ vía nữ thần biển Thiên Hậu là lễ hội tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và Trời Đất vào dịp Tết Nguyên đán và Rằm tháng bảy âm lịch hàng năm đã nhập vào căn chất của tục thờ.

Tuy nhiên loại hình lễ hội được bao chứa trong khuân viên thờ thần Thiên Hậu vẫn có nghi thức khấn vái, mời gọi vong linh thần chủ của tín ngưỡng nữ thần cùng các danh vị trong phả hệ thần.

 Hàng năm, theo lệ thường, cứ đến ngày 30 tháng Chạp âm lịch một số người trong ban tế tự sửa soạn làm lễ để tiễn thần Thiên Hậu về Trời (chắc dân gian quan niệm thần đi họp trên thiên đình, để gặp Ngọc Hoàng thượng đế như quan niệm của đạo giáo). Bằng một nghi lễ sắm sửa lễ vật không nhiều như đại lễ “vía bà” gồm một số loại bánh được làm từ sản vật nông nghiệp, một mâm ngũ quả, bánh kẹo, rượu, hoa…v.v. Thê là trong suốt các ngày lễ tết từ 30 tháng Chạo, mùng 1 đến mùng 3, miếu thờ thần Thiên Hậu vẫn mở cửa chào đón cộng đồng tín ngưỡng đến dâng hương và đặt lễ xin lộc.

Tối mùng ba Tết là tâm điểm sinh hoạt của dịp sinh hoạt lễ hội đón năm mới và cũng là lúc kết thức. Ngay từ khi trời chưa tối hẳn, các tín đồ trong cộng đồng tín ngưỡng thuộc đủ các thành phần dân tộc kéo nhau đến đông đủ. Người đông chật cả bên trong nhà chính điện, ngoài hành lang và sân đền miếu. Đoàn múa lân rồng náo nức lượn quanh với sự ầm ĩ của nhạc sống hoặc cổ nhạc phối hợp. Ngày nay, mỗi lễ hội mừng năm mới diễn ra tại điểm thờ thần Thiên Hậu không khác lễ hội đón mừng của các loại hình tín, tong giáo sở tại là mấy; có chăng chỉ là nội dung các bài văn cúng và danh tính các thần chủ gắn liền với điểm thờ.

Lễ hội diễn ra đến khoảng  9, 10 giờ đêm, nghi thức đón vong linh thần Thiên Hậu (có lẽ có cả phả hệ thần trong và ngoài tín ngưỡng, như Đạo giáo chẳng hạn) chính thức được thực thi. Ban chủ tế kêu khấn các danh thần rồi dùng tiền cổ gieo quẻ âm dương trước bàn hương án, nhiều nhất là ba lần để khẳng định là vía thần Thiên Hậu đã hồi hồi cung an vị. Chủ tế chỉ lặng lẽ hành động, liếc nhìn mọi người và gật đầu ra hiệu; thế là cả cộng đồng tín ngưỡng đang hiện diện xung quanh đều im lặng, hồi hộp chờ đợi. Chờ đến khi chủ tế xin được quẻ âm dương thì ai cũng hỉ hả vui mừng, đồng loạt hô to theo chủ tế: “- Cung thỉnh Thánh mẫu hạ giá hồi cung”. Rồi đại diện ban tế lễ nhà đền đưa cho mỗi người một nén hương để tự mình vào làm lễ đón chào. Trong khi đó các hoạt động văn nghệ tín ngưỡng vẫn hoạt động ồn ào khắp sân đền, có khi tỏa dần theo các ngả đường. Thực hành nghi thức dâng lễ cuối cùng xong, nhà đền phát lộc thần cho mọi người tham dự lễ hội. Đôi khi có hiện tượng tranh giành, xô đẩy lấy lộc; nhưng chắc chắn không phải vì lợi ích vật chất, mà thực chất là sự biến tướng của yếu tố tâm linh, người ta tin rằng “ một chút lộc thánh hơn gánh lộc trần”. Sau lễ hội chính ở đèn thờ nữ thần Thiên Hậu, mọi người lần lượt về nhà. Ai chưa kịp đến ngày chính hội thì tiếp tục thực hành nghi thức lễ hội bằng cách sửa lễ, hương nến đến đền làm lễ và thỉnh hương lộc. Tuy lễ hội đón mừng năm mới đã kết thúc; nhưng khoảng thời gian 3 tháng đầu năm, các tín đồ tục thờ thần Thiên Hậu vẫn có thể thực hành các bioori cúng lễ khác tại đền voái tần suất dầy đặc đến ngày lễ hội “vía bà”. 

Trong đại lế báo hiếu Rằm tháng bảy (15 tháng 7 lịch âm) – còn có tên gọi là Lễ Vu lan - và Rằm trung thu (15 tháng 8 lịch âm), lệ phát chẩn chia lộc cũng được người Hoa tổ chức trang trọng ở hầu hết các điểm thờ nữ thần Thiên Hậu. Song, có lẽ dịp lễ hội Vu Lan hàng năm tái diễn là biểu hiện tính nhân đạo, từ thiện, báo hiếu các bậc tiền bối được chú trọng. Của bố thí được đóng gói gọn nhẹ, các chức trách ban tế đặt trên bàn; các tín đồ nghèo khổ khó khăn tự giác đến lễ vía bà rồi xin lộc.

Tại một số điểm thờ, các tín đồ còn làm hình nộm ông Tiêu (một hóa thân của Quán Thê Âm Bồ tát) với tạo hình cái lưỡi dài màu đỏ có sức mạnh đe dọa, tiễu trừ ma quỷ để bảo vệ con người. Vị đại sĩ thường được thờ ở cả trong chùa thờ Phật và đền (miếu) thờ nữ thần Thiên Hậu. Hình tượng või sĩ với dáng điệu oai nghiêm, tay phải cầm cờ giơ cao, tay trái chống nạnh, gương mặt dữ tợn cương trực, có ba sừng nhọn trên đầu thể hiện quyền uy. Tượng hình nộm ông Tiêu sẽ được đốt cháy sau mỗi kỳ lễ hội.

Như vậy, trong quan hệ cộng đồng thì hành động bố thí, phát chẩn cho người nghèo trong cơ cấu tổ chức lễ hội tín ngưỡng thờ nữ thần Thiên Hậu đã dung nạp nhiều yếu tố hiện đại của các trào lưu văn hóa xã hội đã và đang diễn ra không chỉ ở các nước Đông Nam Á hải đảo. Ngày Rằm tháng bảy và dịp tết Trung Thu với những hoạt động văn hóa dân gian đầy tính nhân văn trong các nghi thức xá tội vong nhân và chú trọng quan tâm thế hệ trẻ đồng nghĩa với mục đích xóa bỏ phân biệt giầu nghèo qua cử chỉ phân phối vật chất – dù rất nhỏ nhưng lại có ý nghĩa giáo dục rất lớn.

Đặc biệt hơn là có một số ngày lễ Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian tiêu biểu như cúng Ngọc Hoàng vào sáng mùng chín Tết, cúng Thần Nông vào sáng mùng năm Tết, cúng thần Hổ vào 16 tháng Giêng để cầu mưa thuận gió hòa; đã được hội nhập vào nghi thức thờ nữ thần Thiên Hậu ở khá nhiều đền miếu.

3. Lễ hội saman giáo ở Philippin vẫn có dấu vết của tục thờ thần Thiên Hậu: 

c) Lễ hội Saman giáo ở Philippin rập khuôn máy móc vẫn tồn tại và phát triển khi công nghiệp cơ khí, chế tạo máy đã phát triển ở các nước phương Tây đã tràn vào đảo quốc. Với thuộc tính thế tục hóa, Thể chế hóa các bài văn tế cúng tương đối hoàn chỉnh, làm cho lễ hội Saman giáo có đông tín chủ được tổ chức chặt chẽ hơn trong khuôn khổ cho phép của những ngày cúng tế các tổ ông của các thầy phù thủy. Tuy nhiên, vì tục xem bói, phù phép phù thủy trong tín ngưỡng saman giáo manh tính cá thể ngay từ khi mới ra đời, nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển cũng không khi nào có điều kiện mở rộng thành phong trào quần chúng rộn rãi . Nói cách khác, gọi là lễ hội saman giáo, song thực chất ở tộc người Cebuano chỉ có phần lễ, cò hội dẫu có chăng lúc cổ thời thì cũng đã bị thực tế phát triển triệt tiêu. Tình hình đã khiến cho ngay cả phần lễ còn lại trong lễ hội Saman giáo ở Philippin trở thành rập khuôn máy móc và đơn điệu.

Lễ cúng Saman giáo ở Philippin được tổ chức theo nghi thức dân gian do các thầy phù thủy sao chép lại hoặc sáng tác thêm, dựa theo phương thức cổ truyền; nhưng khá chặt chẽ, gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm lý cộng đồng dân tộc người, cho dù nhiều người không phải là tín chủ. Lấp lánh bóng dáng những bài thần ca mang màu sắc miền quê biển đảo, lần lượt xuất hiện trong một số bài văn cúng, cùng với những vật dụng phù phép lấy nguyên liệu từ biển cả, cũng gợi lại đôi nét cổ xưa. Gần như quanh năm, không mấy lúc là hình ảnh các thầy phù thủy cũng như những thầy lang dân gian vắng bóng trong đời sống văn hóa và các loại hình lễ hội dân gian khác; kể cả lễ hội tôn giáo khác.

Lễ hội Saman giáo ở Philippin gợi mở, thúc đẩy các nghề thủ công làm hàng mã, vật dụng trang trí phục vụ các ngày lễ. Vào các ngày lễ chính của saman giáo, trên khắp đường phố nẻo đường, giáo dân đã chăng đèn lồng, đèn mầu, kết hoa, treo băng biển đãn mừng. Ngay cả các trường học, công sở, đa dạng cách thể hiện các biểu tượng đủ các cỡ to, nhỏ thi nhau trưng bày rực rỡ ở vị trí sang trọng. Tranh ảnh, phù điêu, mô hình đôi khi có bóng dáng chúa giáng sinh của Công giáo, hay thánh Ala của Hồi giáo cũng có cơ gia nhập. Tuy nhiên hình thức lễ hội này có vẻ riêng biệt, không có biểu hiện giao thoa với lễ hội thờ thần Thiên Hậu, nhưng các các hiện vật thờ lễ như hàng mã, đèn lồng sawhc sỡ màu đỏ thì chẳng khác vật dụng trong tín nguwowxowxng thờ nữ thần Thiên Hậu là mấy.

Lễ hội tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Đông Nam Á theo chu kỳ năm tháng, thường trùng với lịch canh tác nông nghiệp. Phần lễ với việc cúng tế khẩn cầu tiến hành trang nghiêm đúng quy cách. Phần hội với những hoạt động đa dạng nh­ăn uống, vui chơi, ca múa, giao du thi đấu các trò chơi dân gian dưới hình thức giải trí. Lễ hội diễn ra bất kể ngày, đêm với các hoạt động phong phú và rông khắp toàn dân , tạo được niềm tin vào sức mạnh của các thế lực siêu nhiên bằng “thông tin đại chúng theo kiểu dân gian”. Lễ là phương thức giải toả tâm lý. Hội là hoạt động khuyến khích và củng cố niềm tin của con người sau khi được thoả mãn một phần những bức xúc trong cuộc sống đời thường.

Như vậy, tín ngưỡng thờ nữ thần Thiên Hậu là một tín ngưỡng dân gian phổ biến của người Hoa. Cư dân các nước Đông Nam Á hải đảo đã tiếp nhận tục thờ nữ thần Thiên Hậu, sau khi có cộng đồng người Hoa đến định cư trên quê hương của họ. Trải qua hơn 300 năm tồn tại và phát triển, tục thờ nữ thần Thiên Hậu đã trở thành một thực thể văn hóa đối với cả khu vực châu Á nói chung và Đông Nam Á hải đảo nói riêng.

1. Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu đã được các sách địa phương chí của tri thức phong kiến Trung Hoa ghi chép từ cuối thế kỷ XIX. Từ đầu thế kỷ XX (1920) đến nay, các nhà nghiên cứu đã điều tra, kết hợp vận dụng các lý thuyết nghiên cứu tổng hợp và so sánh với nhiều hướng tiếp cận khác nhau như văn hóa dân gian, sử học, dân tộc học, khảo cổ học, tôn giáo học, xã hội học để tìm hiểu bản chất và lịch trình phát triển của hiện tượng giá trị kép của tín ngưỡng dân gian và văn hóa của mỗi cộng đồng cư dân. Kết quả đó là toàn bộ hệ thống về tí ngưỡng thờ thần Thiên Hậu:  Khởi nghiệp từ Trung Quốc, rồi đến Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kông, và một nước Đông Nam Á.

2. Thờ Thiên Hậu là một dạng thức tín ngưỡng dân gian, do vậy giá trị văn hóa mà tục thờ đã tự thân bộc lộ một hệ cấu trúc thiêng liêng và dân dã. Và yếu tố thiêng của tục thờ nữ thần Thiên Hậu hiển thị rõ vai trò tuyệt đối hóa phạm vi tác động và hiệu quả chính trị xã hội và lợi ích kinh tế; đặc biệt đối với các thương thuyền và cư dân ngư nghiệp ven biển. 

3. Tục thờ nữ thần Thiên Hậu ở các nước Đông Nam Á hải đảo là sản phẩm xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tại các điểm định cư mới của người Hoa qua quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa trong môi trường địa chính trị mang tính đặc thù miền sông nước.  Do đó việc nghiên cứu bản chất và đặc trưng tín ngưỡng thờ thần Thiên Hậu cần được chú trọng ở các nước Đông Nam Á hải đảo.

4. Tín ngưỡng thờ thần Thiên Hậu có nguồn gốc từ tục thờ Ma Tổ - một thiếu nữ chết thiêng, được các triều đại phong kiến Trung Hoa sắc phong danh thần Thiên Phi, Thiên Hậu. Và thần Thiên Hậu đã theo những thương thuyền và lực lượng cư dân tản đi, định cư khắp nơi trên thế giới; lan truyền đến các thương cảng lớn phía đông Trung Quốc, đến Đài Loan, Okinawa và Đông Nam Á, trở thành một dạng biểu tượng hội tụ tinh thần và văn hóa người Hoa, được phân chia theo các nhóm phương ngữ Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Khách Gia, Triều Châu và các nhóm khác ở nơi mới địng cư.     

 5. Cộng đồng tín ngưỡng Thiên Hậu tại các nước Đông Nam Á hải đảo trước đây, thường gắn liền với tổ chức hội quán. Phát triển sâu, rộng đến đầu thế kỷ XX, cấu trúc tổ chức chặt chẽ hơn thành ban quản trị tế tự của một cộng đồng tộc người, có bầu chọn định kỳ hay luân lưu thay đổi, tùy thuộc hoàn cảnh địa phương, trong các cộng đồng tín ngưỡng Thiên Hậu, ở các nước Đông Nam Á hải đảo, cá biệt có nơi nảy sinh những mâu thuẫn trong nội bộ dân chúng ngoài cộng đồng người Hoa.

6. Trong các nghi thức thờ thần Thiên Hậu có hệ thống các lễ hội tín ngưỡng, nhất là ngày lễ vía, các nghi thức tín ngưỡng xuyên suốt năm âm lịch đã và đang góp phần quan trọng để cộng đồng người Hoa có thể mở rộng quan hệ thân thiện hơn với các tộc người bản địa Đông Nam Á sống xen kẽ. Niềm tin vào tính thiêng của thần thánh và nguyện vọng cầu an, giàu sang phú quý hòa quyện với nhau tạo thành một “khuôn mẫu” trong đời sống văn hóa, hướng tới xây dựng nền đạo đức chân, thiện, mỹ của cộng đồng.

7. Sau hơn 300 năm tồn tại và trải qua các thăng trầm của lịch sử cùng với quá trình giao lưu - tiếp biến văn hóa mạnh mẽ, tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở các nước Đông Nam Á hải đảo, thể hiện đặc điểm tính tôn ti và tính mực thước trong nhận thức nhóm cộng đồng tộc người được đề cao.  Đồng thời, ngay trong quá trình tiếp biến và dung nạp ấy,  sự tích hợp quan niệm nhân sinh, vũ trụ…được thể hiện bằng các biểu tượng thần thờ với các tín ngưỡng khác như tục thờ cúng tổ tiên, và các tôn giáo phương Đông như Nho, Phật, Đạo.

8. Tín ngưỡng thờ nữ thần Thiên Hậu là một dạng thiết chê văn hóa dân gian, có biểu tượng chính minh bạch; quy tụ tinh lọc và có hệ thống tri thức bản địa theo thời gian chủ nhân tín ngưỡng cư trú, nên hình thức tồn tại của tí ngưỡng đù ở ngay tại quê hương sản sinh hay ở nơi người đời mới đến cư ngụ giá trị giáo dục đạo đức văn hóa xã hội. Trong phối cảnh văn hóa các nước Đông Nam Á hải đảo, tục thờ nữ thần Thiên Hậu càng “thiêng hóa” hơn; thể hiện tính sâu sắc tinh tê trong nhận thức,lao động và sáng tạo.


'Lưu Tích Thành Cb, 1994, Sđd., tr. 135-146.

[2]t^0^^Dương Hiểu Yến (2012), Sđd.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}