Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Nghĩ tiếp về vấn đề văn học với đạo đức xây dựng nhân cách con người

GS.TS Trần Đăng Suyền | Chủ Nhật, 17/01/2016 10:44 GMT +7

1. Như  chúng ta đã biết, ở dân tộc nào cũng vậy thôi,văn học chân chính của mọi thời đại đều gắn bó sâu sắc, phản ánh những vấn đề cơ bản của thời đại sản sinh ra nó, trong đó có vấn đề đạo đức xã hội. Bởi lẽ, cái chân, cái thiện, cái mỹ bao giờ cũng là những đặc trưng cơ bản của văn học nghệ thuật của các nền văn học, trong mọi thời kỳ, giai đoạn vận động và phát triển.
Gắn bó sâu sắc với vấn đề đạo đức xã hội là một trong những truyền thống, đặc điểm của nền văn học Việt Nam. Từ văn học dân gian, văn học thời kỳ trung đại đến văn học thời kỳ hiện đại, truyền thống, đặc điểm ấy không bao giờ gián đoạn. Chỉ có điều, khi nào đạo đức xã hội suy vi thì vấn đề đề đạo đức được các nhà văn đặc biệt quan tâm, trở thành một trong những chủ đề quan trọng, nổi bật của văn học.
2. Văn học phản ánh đạo đức của thời đại sản sinh ra nó, trong đó, có vấn đề tối quan trọng là xây dựng nhân cách con người: Xây dựng tư cách và phẩm giá con người trong mối quan hệ đa dạng, phong phú và phức tạp của đời sống. Ở đây, không phải là tư cách và phẩm chất con người chung chung mà là gắn với một thời đại cụ thể, với hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn hóa cụ thể. Đành rằng có những giá trị cơ bản, sâu sắc, có ý nghĩa lâu dài, rất đáng trân trọng như tình  yêu quê hương đất nước, tinh thần, ý thức trách nhiệm với dân tộc, cộng đồng, và cả với chính bản thân mình nữa; nhưng những giá trị ấy cũng phải vận động, phát triển, phù hợp với bối cảnh chung của thời đại.
3. Văn học Việt Nam từ thời kỳ đổi mới (từ 1986) đặt ra biết bao vấn đề về cuộc sống và con người mà văn học giai đoạn trước đó chưa hề biết đến. Nguyễn Khải nhận xét: “Chiến tranh náo động ồn ào mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó. Hòa bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, gió xoáy bên trong” . Thanh Thảo cho rằng: “Những giản đơn của cuộc đời nô lệ / Bỗng phức tạp vô cùng khi ta có tự do”. Hòa bình tức là trở lại đối mặt với cái bình thường bình dị hàng ngày; biết bao cái phong phú, phức tạp, nhiêu khê của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây quanh con người từng giờ từng phút, ở khắp mọi nơi. Nói văn học, nghệ thuật với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam là phải đặt trong bối cảnh ấy.
4. Văn học góp phần xây dựng nhân cách con người bằng con đường nào ? Có nhiều cách xây dựng nhân cách con người, nhưng dù bằng cách nào, cũng không thể xa rời bản chất, đặc trưng nghệ thuật.
    Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945, các nhà văn như Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nam Cao, mỗi người có cách riêng trong việc xây dựng nhân cách con người. Vũ Trọng Phụng, qua việc phê phán vô cùng mãnh liệt, dữ dội và sâu sắc đối với thực trạng xã hội Việt Nam đương thời mà gián tiếp bộc lộ quan điểm xây dựng nhân cách con người Việt Nam.  Vũ Trọng Phụng dõng dạc tuyên bố : “Xã hội này tôi chỉ thấy là khốn nạn: quan tham, lại nhũng, đàn bà hư hỏng, đàn ông dâm bôn, một tụi văn sĩ đầu cơ xảo quyệt mà cái xa hoa chơi bời của bọn nhà giàu thì thật là những câu chửi rủa vào cái xã hội dân quê, thợ thuyền bị lầm than, bị bóc lột”. Nhà văn nói rõ ý đồ nghệ thuật của mình: “Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca những sự thống khổ của dân nghèo bị bóc lột, bị  áp chế, bị cưỡng hiếp, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có chuyện ô uế, dâm đãng” . Bằng tài năng nghệ thuật lớn xây dựng những nhân vật điển hình bất hủ thuộc tầng lớp thống trị có sức mạnh phê phán sâu sắc, những Nghị Hách, Phó Đoan, Xuân tóc đỏ …, Vũ Trọng Phụng đã đóng đinh chúng lên để dư luận muôn đời nguyền rủa, qua đó thể hiện sự trân trọng những con người có tư cách và phẩm chất cao quý, những con người sống “có nghĩa lý”. Khác với Vũ Trọng  Phụng, Thạch Lam có cách  riêng xây dựng nhân cách con người trong những tác phẩm của ông. Mục đích văn chương, theo Thạch Lam là để bồi dưỡng, phát huy lòng nhân đạo: “Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người  được thêm trong sạch và phong phú hơn”. Trong truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa, tình huống truyện chỉ là sự chuyển đổi thời tiết (vào cuối thu, trời bỗng trở lạnh) gợi lên những kỷ niệm thân thiết của mỗi gia đình, và đặc biệt gợi tình thương đối với những người nghèo không có áo ấm để mặc. Nhà văn đã miêu tả thật sinh động và thấm thía tình thương nảy nở êm ái trong lòng mỗi con người khi gió lạnh đầu mùa không báo trước, đột ngột trở về nơi phố huyện nghèo. Tác phẩm như nói thầm với ta hãy sống có tình, có nghĩa với nhau, hãy thông cảm, thương xót và giúp đỡ những người nghèo khổ. Thạch Lam đặc biệt yêu quý những tâm hồn thiếu nhi trong trẻo, tốt đẹp, giàu tình thương người, sớm biết làm điều thiện một cách hồn nhiên, chân thật. Trong các truyện ngắn Đứa con đầu lòng, Sợi tóc, Đứa con trở về, Thạch Lam lại gợi ra vấn đề nhân cách, lương tâm và danh dự của con người.  Ngòi bút của Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn – thì bao giờ cũng hướng tới việc khêu gợi tình thương, thức tỉnh nhân tính, khẳng định ý thức cá nhân chân chính ở mỗi con người, và “làm cho người gần người hơn”. Nam Cao khẳng định: “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng tình thương, tình bác ái, sự công bình...” (Đời thừa).
    Từ  1945 đến 1975, do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, văn học Việt Nam chủ yếu được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Văn học giai đoạn này ít nói về đời thường, ít khai thác những cảnh ngộ, tình huống éo le, trắc ẩn của con người. Văn học thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhân cách con người Việt Nam bằng cách biểu dương, ca ngợi những con người với những tính cách cao đẹp, đại diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của dân tộc, tiêu biểu cho lý tưởng của cộng đồng hơn là lợi ích và khát vọng cá nhân. Và nếu như có nói đến đạo đức thì chủ yếu vẫn là đạo đức gắn liền với ý  thức chính trị, trách nhiệm công dân chứ chưa hẳn đã là đạo đức nhân bản, đạo lý truyền thống.
    Năm 1975 mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ độc lập, thống nhất của dân tộc. Đất nước bước vào thời kỳ xây dựng; nhiều vấn đề sau chiến tranh đặt ra trên mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có văn học. Đến năm 1986, với Đại hội VI  của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta từng bước chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nói, đây là một bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của của dân tộc sau khi Tổ quốc được thống nhất. Đổi mới là một đòi hỏi cấp bách, là một tất yếu lịch sử để đưa đất nước tiến lên, thoát khỏi đói nghèo, sự trì trệ và lạc hậu, để từng bước hội nhập với thế giới. Nền văn học Việt Nam cũng từng bước đổi mới. Không khí dân chủ được đề cao hơn. Tinh thần nhân văn, ý thức cá nhân trở thành cảm hứng sáng tạo của nhiều cây bút ở thời kỳ đổi mới.
Trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa mới, văn học lại đáp ứng yêu cầu xây dựng nhân cách con người Việt Nam với những tìm tòi, đổi mới rất đáng ghi nhận. Từ khuynh hướng sử thi, văn học Việt Nam từ sau 1975, nhất là từ 1986 đã chuyển mạnh sang khuynh hướng thế sự, đời tư, quan tâm nhiều hơn đến “cái đời thường”. Hiện thực đời sống được khám phá trên nhiều phương diện, nhất là đời sống nội tâm của con người với những trăn trở, khát vọng thầm kín, đầy tinh thần nhân bản mà trước đó, do hoàn cảnh chiến tranh và cả do căn bệnh tư duy mòn cũ, duy ý chí nên ít được chú ý. Các tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, v.v… đều tập trung viết về bi kịch của con người với những hoàn cảnh, số  phận khác nhau. Cái kết thúc cuộc đời đầy bi thảm của Vạn (Bến không chồng), cái chết oan ức, tội nghiệp của bà Son (Mảnh đất lắm người nhiều ma), đầy ám ảnh, đã gieo vào tâm trí người đọc biết bao buồn thương, suy nghĩ. Nó có tác dụng thanh lọc tâm hồn, khơi gợi những tình cảm nhân văn, tạo nên những day dứt, giằng xé, những ân hận trong lòng người đọc, thức tỉnh ở họ sự cảm thông, chia xẻ với mỗi cuộc đời bất hạnh. Những bi kịch đó cũng giúp cho con người nhận ra những quan niệm nhân sinh ấu trĩ một thời, những định kiến khe khắt hẹp hòi, cái môi trường sống làm hủy hoại cái phần nhân bản trong mỗi con người. Sáng tác của Nguyễn Minh Châu từ sau 1975 thường ẩn chứa một bức thông điệp nào đó về đạo đức, lối sống, về nhân cách của con người. Trong Bức tranh, Nguyễn Minh Châu đã diễn tả tinh tế mà sâu sắc cuộc đấu tranh nội tâm quyết liệt của người họa sĩ, khi một lần đi cắt tóc, anh gặp lại người lính năm xưa đã từng giúp anh ở chiến trường. Cuộc đấu tranh giữa  cái tốt và cái xấu, giữa rồng phượng và rắn rết, giữa thiên thần và ác quỷ trong con người họa sĩ, qua đó, thể hiện sự thức tỉnh của lương tâm con người, bộc lộ một nhu cầu, một bản lĩnh dám nhìn thẳng vào tâm hồn mình, vượt lên trên những điều tầm thường, xấu xa vốn ẩn náu rất sâu, và thường được bao biện, ngụy trang bằng những vỏ bọc bên ngoài có vẻ tốt đẹp. Nhà văn lưu ý mọi người về sự độc ác một cách hồn nhiên ngoài ý muốn (Đứa ăn cắp), nhắc nhở chúng ta về cách ứng xử của con cái đối với cha mẹ (Mẹ con chị Hằng), lên tiếng cảnh báo về hậu quả của lối sống gia trưởng (Giao thừa). Còn Nguyễn Khải trong Một người Hà Nội lại tập trung khắc họa nhân vật bà Hiền, vừa để khẳng định một nhân cách của văn hóa Thăng Long – Hà Nội, vừa  gửi gắm những suy ngẫm, trăn trở về thời đại, về cái đúng, cái sai, cái nhất thời, cái vĩnh hằng… Qua ngòi bút sắc sảo, đậm chất triết lý – chính luận của Nguyễn Khải, nhân vật bà Hiền nổi bật ở bản lĩnh cá nhân, ở khả năng tự ý thức, có nhân cách đẹp, tiêu biểu cho bản sắc văn hóa Hà Nội. Với người như bà Hiền, người đọc có thể nhận ra những nét đẹp trong lối sống và cách sống. Nguyễn Khải có lý khi cho rằng: “Nói cho cùng, để sống được hằng ngày tất nhiên phải nhờ vào những “giá trị tức thời”. Nhưng để sống cho có phẩm hạnh, có cốt cách nhất định phải dựa vào những giá trị bền vững”. Và cũng đúng như nhà văn, qua nhân vật “hắn” trong tiểu thuyết – tự truyện Thượng đế thì cười đã bộc bạch: “Bằng sự từng trải của tuổi tác hắn đã nhận ra vẻ đẹp của  đời thường và sự bất biến những tính cách mới xác lập trong nửa thế kỷ qua sẽ thành máu huyết của dân tộc, thành tích cách Việt Nam”.
M. Gorky đã từng khẳng định : “Văn học là nhân học”. Hơn bao giờ hết, trong tình hình xã hội hiện nay, bằng con đường riêng của mình, văn học cần phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề xây dựng nhân cách con người Việt Nam. Người đọc đang khao khát những tác phẩm văn học có tầm cao về tư tưởng, đặc sắc về nghệ thuật, vừa thức tỉnh ý thức cá nhân, vừa thắp sáng ngọn lửa nhân văn, đánh thức tình yêu và trách nhiệm của mỗi con người đối với quê hương, với dân tộc và thời đại. Muốn có được những tác phẩm như vậy, nhà văn cần phải có tư tưởng lớn, tình cảm lớn, tài năng nghệ thuật lớn; cần có bầu không khí tự do sáng tác; và cũng cần cả tấm lòng tri  âm của độc giả nữa.
                                                   

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2015

T.Đ.S

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}