Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Du lịch:

 

Nghiên cứu giải pháp xây dựng thương hiệu làm công cụ Marketing các sản phẩm chủ lực và du lịch tỉnh Bến Tre

X.V | Thứ Sáu, 11/01/2019 16:04 GMT +7
(Vanhien.vn) Đó là đề tài nghiên cứu của Ths. Lê Quốc Hùng. Là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, Bến Tre có lợi thế về khí hậu và tài nguyên thiên nhiên. Lợi thế này tạo cơ hội cho Bến Tre phát triển công nghiệp chế biến, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa.
 
 
Du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, lịch sử và du lịch vui chơi giải trí, Bến Tre thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước.
 
Cũng tương tự như các tỉnh khác, Bến Tre chưa có chiến lược để xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm xuất khẩu và ngành du lịch, chưa liên kết với các tỉnh khác để giữ được lợi nhuận thương hiệu khi đối mặt với các nhà xuất khẩu nước ngoài. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu hướng đến giúp tỉnh xác định các cơ hội và thách thức đối với các sản phẩm chủ lực và lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch. Qua đó, tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển thương hiệu phù hợp với lợi thế và chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập.
 
Thực trạng phát triển thương hiệu tại Bến Tre - 02 Chỉ dẫn địa lý
 
Bến Tre có rất nhiều sản phẩm nông sản nổi tiếng, chủ lực được công nhận là chỉ dẫn địa lý. Một trong những sản phẩm đó là Bưởi Da Xanh và Dừa uống nước xiên xanh Bến Tre. Ngày 15/03/2018 hai sản phẩm dừa uống nước Xiêm Xanh Bến Tre và Bưởi Da Xanh đã được Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ công nhận là chỉ dẫn địa lý của tỉnh. 
 
Về nhãn hiệu tập thể: Trong một vài năm trở lại đây, một số sản phẩm cây trồng của Bến Tre đã được cấp chứng nhận là nhãn hiệu tập thể của tỉnh. Bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho một số sản phẩm nông sản, đặc sản địa phương của tỉnh bước đầu mang lại kết quả tích cực như hạn chế những rủi ro về biến động giá và mở rộng thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu hàng hóa cho nông sản, góp phần tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập, tác động để quy hoạch lại kinh tế - xã hội nông thôn tại nơi sản xuất. Bến Tre đã xây dựng được một số nhãn hiệu tập thể cho 12 loại mặt hàng nông sản của tỉnh, cụ thể như: Lúa sạch Thạch Phú, Bánh Phồng Sơn Đốc, Măng cụt và Chôm Chôm Chợ Lách, cây giống và hoa kiểng Cái Mơn, Cá khô Bình Thắng  Bình Đại, Tôm khô An Thủy Ba Tri, Nhãn Long Hòa, Gà nòi Mỹ Hương Đông, Chỗi Mỹ An, rau Phú Nghĩa huyện Ba Tri, Heo mỏ Cày Nam. 
 
Dừa Bến Tre được vận chuyển bằng thuyền để bán cho thương lái. Ảnh: Internet
 
Về nhãn hiệu hàng hóa: Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp của tỉnh Bến Tre khoảng 180.000 ha, chiếm gần 80% diện tích đất tự nhiên; trong đó, diện tích trồng cây ăn trái trên là 30.000 ha, gồm diện tích trồng bưởi da xanh, chôm chôm, nhãn, dừa...Mặc dù nhắc đến Bến Tre là mọi người sẽ nghĩ đến dừa, sầu riêng, hoa kiểng Cái Mơn, chôm chôm... nhưng nhiều người còn ít quan tâm đến thương hiệu của các loại nông sản. Từ năm 2011 đến nay, Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre đã hỗ trợ tra cứu cho các tổ chức, doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu hàng hóa được trên 500 lượt... Đến nay, đã có nhiều loại trái cây ở tỉnh được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa như: Sầu riêng cơm vàng hạt lép Chín Hóa (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách), bưởi da xanh của hộ ông Đỗ Văn Rô (xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc )... được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa.
 
Kết quả xây dựng danh mục các sản phẩm và dịch vụ có tiềm năng để xây dựng thương hiệu 
 
Về Du lịch: Các thông tin về du lịch Bến Tre chủ yếu được các đại lý du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh nắm vững, trong khi đó, các đại lý du lịch ở Hà Nội có kiến thức khá khiêm tốn về du lịch của tỉnh. Lợi thế lớn nhất của Bến Tre là “QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI” với xử sở dừa và dáng đứng Bến Tre tạo nên nét độc đáo riêng cho tỉnh. Việc du lịch đến Bến Tre được khuyến khích chủ yếu là du lịch trong ngày bởi chất lượng các khách sạn của tỉnh không đạt tiêu chuẩn. Du lịch của tỉnh tập trung trên sông và có rất ít các chuyến du lịch nói về lịch sử của tỉnh. Khách du lịch đến Bến Tre đa số là người Hàn Quốc, Nhật Bản. Họ thích đi thuyền thưởng thức những trái cây tươi được trồng tại vườn, ruộng, trang trại hoặc nhà dân. 
 
Các lĩnh vực/sản phẩm chính được UBND tỉnh Bến Tre hỗ trợ cho du lịch là: 1) Du lịch sinh thái; 2) Các chuyến tham quan tìm hiểu lịch sử/sản phẩm; 3) Tâm linh/ tôn giáo; 4) Trải nghiệm cuộc sống làng quê; 5) Rừng ngập mặn; 6) Tục lệ, trò chơi dân gian; 7) MICE; 8) ẩm thực. 
 
Về Dừa 
 
Thực tế theo số liệu thống kê Bến Tre có 70.000 ha trồng Dừa, 600 triệu quả Dừa/năm, có khoảng 40 sản phẩm từ Dừa… Mặc dù quả Dừa có mặt trên toàn thế giới, bao gồm cả Mỹ, EU và Anh (khoảng 30 quốc gia) nhưng không ai biết đó là Dừa Bến Tre. Dừa Bến Tre được đánh giá là có hương vị đặc biệt, ngọt hơn, giàu dinh dưỡng hơn, lớn hơn và hàm lượng chất béo cao hơn.
 
Về Trái cây tươi bao gồm cả bưởi da xanh: 
 
Hầu hết các loại trái cây tươi được sản xuất tại Bến Tre đều là sản phẩm hữu cơ, được trồng và chăm sóc của người dân địa phương. Các doanh nghiệp ở đây kết hợp chặt chẽ với người nông dân trong việc trồng trái cây để có được sản phẩm chất lượng. Bến Tre đã có khai thác và chế biến trái cây. Tuy nhiên không phải bất kỳ sản phẩm mà các công ty kinh doanh trái cay tươi xuất khẩu đều là của Bến Tre. Điều này làm hạn chế về quảng bá khu vực địa lý của tỉnh.
 
Bưởi da xanh: Các nhà xuất khẩu bưởi da xanh mua sản phẩm từ các hợp tác xã, thực hiện chế biến, đóng gói và phân phối ra thị trường. Bưởi Bến Tre có sự hòa quyện của vị ngọt và chua mà họ yêu thích. Chất lượng bưởi của Bến Tre cũng được xem là cao hơn, và có tác dụng  tốt đến sức khoẻ. Tuy nhiên, do diện tích nhỏ nên Bưởi da xanh Bến Tre gặp khó khăn trong việc chế biến, xuất khẩu bưởi. 
 
Một số sản phẩm có thể phát triển trong tương lai
 
Gạo sạch: Gạo sạch được sản xuất cho tiêu dùng trong nước nhưng không được xuất khẩu.
 
Hải sản – Tôm càng xanh: Do có 65km đường bờ biển nên Bến Tre có tiềm năng lớn trong nuôi trồng thủy sản và hải sản như tôm, ngao, cá tra. Các sản phẩm từ hải sản và thủy sản của tỉnh được các nhà xuất khẩu đưa đi chế biến ở các cơ sở ngoài tỉnh và đi xuất khẩu tại nhiều quốc gia trên thế giới.
 
Kiến nghị chung: 
 
Quảng bá kỹ thuật, cách chăm sóc cho các loại cây trồng nhằm quảng bá “tính tự nhiên” của từng loại sản phẩm chủ lực.
 
Xây dựng mô hình trang trại, miệt vườn kết hợp du lịch nhằm phát triển du lịch nông nghiệp, hải sản của tỉnh, cùng với đó kết hợp bán và giới thiệu sản phẩm của tỉnh với bạn bè, du khách trong và ngoài nước.
 
Thông qua phương tiện số hóa và điện tử, phát triển các loại hàng hóa quốc tế.
 
Tổ chức các hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm của tỉnh.
 
Kiến nghị slogan: Để đưa sản phẩm Bến Tre ra thị trường nước ngoài, chúng tôi nghĩ rằng khẩu hiệu như "Thiên nhiên yêu Bến Tre" “Nature loves Ben Tre”. Nó mang lại một hình ảnh “bao trùm” thú vị và thống nhất cho Bến Tre. Nó sẽ cộng hưởng với thế hệ trẻ và tổng hợp một số yếu tố làm cho sản phẩm của Bến Tre tốt hơn. 
 
Qua kiến nghị chung trên, xin đề xuất giải pháp cụ thể cho từng loại sản phẩm của Bến Tre như sau:
 
Du lịch : 
 
- Xây dựng một trang web mới bằng các ngôn ngữ trong và ngoài nước.
 
- Đưa các thông tin về các sản phẩm của Bến Tre lên mạng xã hội nhằm giúp du khách có thể dễ dàng tìm kiếm các thông tin về tỉnh
- Phát triển dịch vụ tour du lịch.
 
- Phát hành một loạt các tờ rơi, bản đồ,v.v...bằng tiếng nước ngoài có sử dụng hình ảnh minh họa.
 
Xây dựng một video trên YouTube sử dụng cảnh quay hiện có nhưng với bình luận mới do các chuyên gia quảng cáo viết cho du khách trong và ngoài nước; và một video dành cho các chuyên gia/đại lý du lịch/công ty lữ hành.
 
Quảng bá có hệ thống đến nhân viên của các địa lý du lịch/công ty lữ hành tại các khách sạn ở thành phố HCM, Hà Nội.
 
Dừa: 
 
Tư vấn xây dựng kế hoạch chi tiết để tham vấn với (các) Nhà sản xuất chính.
 
Tên, logo, khẩu hiệu... được chuẩn bị, giới thiệu và thử nghiệm với người tiêu dùng trong và ngoài nước.
 
Làm việc với cơ quan và các chuyên gia kỹ thuật để chuẩn bị “lộ trình” từ sản xuất đến bán hàng.
 
Làm việc với đội ngũ bán hàng của công ty để lựa chọn quốc gia cho lần ra mắt đầu tiên.
 
Chuẩn bị chiến dịch PR, ngoại tuyến và trực tuyến và hỗ trợ nhà sản xuất để triển khai chiến dịch.
 
Hải sản:
 
Truyền thông về đặc điểm vừa sạch vừa ngon và tính nhiệt đới của sản phẩm bằng việc giới thiệu cách kiểm soát độ sạch sẽ của nước và cải thiện thức ăn để cải thiện hương vị, chỉ ra các kết quả kiểm tra sản phẩm, giấy chứng nhận và chứng minh nguồn gốc hải sản Bến Tre.
 
Xây dựng các video giới thiệu các công thức nấu ăn mới, các món ăn mới từ hải sản Bến Tre đến khách hàng trong và ngoài nước, thông qua các video này nhằm giới thiệu và duy trì sự quan tâm  của khách hàng, đồng thời quảng bá thương hiệu cho hải sản Bến Tre.
 
Đề xuất cụ thể:  
 
Thành lập văn phòng trung tâm "Điều phối và xây dựng thương hiệu Bến Tre" có trách nhiệm và năng lực giám sát sự phát triển của thương hiệu qua các giai đoạn khác nhau. 
 
Các công ty và hợp tác xã sản xuất tham gia vào kế hoạch xây dựng thương hiệu có thể trở thành thành viên của một ủy ban các doanh nghiệp tư nhân đặc biệt liên quan mật thiết với ngành.
 
Chúng tôi sẽ giám sát và thực hiện phát triển phù hợp, bao gồm: 1) Xác định đặc điểm sản phẩm và phát triển sản phẩm; 2) Đề xuất khung pháp lý và cơ cấu hợp tác cụ thể giữa khu vực tư nhân và khu vực công - và hợp tác trong khu vực tư nhân; 3) Phát triển thương hiệu Bến Tre; 4) tuyển dụng nhân viên địa phương tham vọng và nhiệt tình làm việc cùng với nhóm khi dự án chuyển sang giai đoạn thực hiện; 5) Chuẩn bị các kế hoạch công khai thực tế theo ngân sách, tạo sự công khai; 6) Chuẩn bị bản tóm tắt ý tưởng, các đề xuất và đệ trình cho các nhà tài trợ và các đối tác phát triển; 7) Tổ chức hoặc hỗ trợ đội ngũ bán hàng trực tiếp chuyên nghiệp ở thị trường nước ngoài; 8) Tăng mức tài chính.
 
Các hoạt động bổ trợ 
 
1) Xác định các thuận lợi mang tính cạnh tranh về xuất xứ và các “câu chuyện thương hiệu” đáng tin cậy của Bến Tre.
 
2) Xác định và thống nhất các tiêu chuẩn chính xác cho các sản phẩm của Bến Tre - tổng thể và cho mỗi ngành.
 
3) Thành lập các Ban kỹ thuật tạm thời cho từng lĩnh vực được lựa chọn để quảng bá, bao gồm các chuyên gia trong ngành.
 
4) Thử nghiệm sản phẩm và quảng cáo.
 
5) Thiết lập các hệ thống và cấu trúc cần thiết để kiểm tra, cấp phép và đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn này.
 
6) Bắt đầu đưa hình ảnh của Bến Tre lên mạng trực tuyến một cách nhanh chóng.
 
7) Tạo mẫu cho tất cả các trang web, để truyền đi khẩu hiệu/vị trí và thông điệp mới, sử dụng ý tưởng/ slogan “Thiên nhiên yêu Bến Tre” “Nature loves Ben Tre – hoặc phát triển ý tưởng trong tương lai. 
 
Đề xuất cho từng loại hình sản phẩm như sau:
 
- Các hoạt động cho ngành Du lịch
 
Nhiệm vụ chính là phát triển các ‘sản phẩm’ du lịch mà du khách độc lập, Công ty lữ hành, Đại lý Du lịch tại Việt Nam và Công ty lữ hành nước ngoài có thể bán cho khách hàng của mình - cho họ cơ hội trải nghiệm cuộc sống ở Việt Nam cụ thể là: 
 
Tăng số lượng các loại hình tham quan sinh thái của tỉnh.
 
Đưa ra nhiều gói tham qua với nhiều mức chi phí khác nhau (VD: khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp và trung bình trên bờ biển hoặc trong lòng thiên nhiên)
 
Thời điểm du lịch tập trung vào những mùa vụ, thời điểm trồng, ra hoa, thu hoạch trong năm; để người dân cùng tham gia vào hoạt động trồng và thu hoạch sản phẩm, từ đó góp phần giới thiệu sản phẩm sạch của vùng.
 
Sở Du lịch kết nối các sản phẩm khác nhau với nhau trong các chương trình để cho du khách hoặc đại lý du lịch có thể dễ dàng bán.
 
Các hoạt động cho ngành Dừa
 
Nhiệm vụ là đưa Bến Tre trở thành một thủ phủ dừa của thế giới – lớn hơn, giàu dinh dưỡng hơn, ngọt ngào hơn so với các loại dừa khác. Quảng bá các lợi ích mà dừa Bến Tre mang lại để thấy được sự khác biệt về thương hiệu dừa của tỉnh. Đồng thời, cần có một cuộc nghiên cứu, đặc biệt về các phụ phẩm của dừa, những phụ phẩm có thể chế biến trong tỉnh, cụ thể là: hoàn thành nghiên cứu thực tế, phân tích lợi thế cạnh tranh tiềm năng, thiết lập cấu trúc và thống nhất các tiêu chuẩn thương hiệu dừa Bến Tre mới, các quốc gia sẽ bán sản phẩm, phương thức giới thiệu, cách bán, chiến dịch quảng cáo.
 
Các hoạt động cho ngành Trái cây tươi bao gồm cả bưởi da xanh
 
Cần thực hiện nhiều hơn các nghiên cứu thực tế, đặc biệt về đóng gói và hậu cần để duy trì độ tươi mới - và phân tích các lợi thế cạnh tranh tiềm năng của trái cây tươi và trái cây chế biến. Sẽ có hiệu lực trong việc xác định vị trí của trái cây tươi hài hòa với dừa và các cơ hội bán hàng chung cần được điều tra. Sau đó xem xét các cấu trúc yêu cầu.
 
Các hoạt động cho ngành Cá và hải sản: Cá, nghêu, tôm càng xanh, cua
 
 1) Hoàn thành nghiên cứu thực tế; 2) Thống nhất chương trình với các nhà sản xuất và ngư dân nuôi cá để sản xuất các loại hải sản thực sự tốt hơn và có thể đảm bảo hoàn toàn sạch sẽ, hữu cơ và không ô nhiễm; 3) Phân tích các lợi thế cạnh tranh tiềm năng; 4) Thành lập các Ban kỹ thuật, có thể nhờ sự giúp đỡ từ các sở liên quan và Sở Khoa học và Công nghệ.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}