Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

NGND, AHLĐ Phạm Thế Bổng: Dụng cụ trực quan luôn sinh động trong giờ vật lí

Minhh Thu | Chủ Nhật, 11/11/2018 13:56 GMT +7

Vanhien.vn - Hưởng ứng “Lời kêu gọi thi đua yêu nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào “Thi đua dạy tốt, học tốt” của ngành Giáo dục, thầy Phạm Thế Bổng luôn là tấm gương mẫu mực. Dành cả tuổi thanh xuân, thầy Phạm Thế Bổng cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp “trồng người”.

Thời sơ tán

Trường phổ thông cấp 3 Đoàn Kết thành lập năm 1960. Vì chưa có cơ sở vật chất riêng, nên học sinh phải nhờ địa điểm lớp học ở trường cấp II Đoàn Kết (gần Chợ Trời) - khu Hai Bà Trưng, Hà Nội. Học trò ngày ấy, không thể nào quên thầy giáo Phạm Thế Bổng, vì thầy đã tự tay chế tạo nên các mô hình, dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho giáo án trên lớp. Thầy Bổng luôn khích lệ tinh thần học tập của học sinh, bằng các dụng cụ trực quan sinh động. Mỗi tiết học vật lí của thầy Phạm Thế Bổng khơi dậy trí tò mò, ưa thích khám phá các hiện tượng của học trò, giúp học sinh hiểu bài và nêu được ứng dụng trong cuộc sống.

Thời gian sau, trường phổ thông cấp III Đoàn Kết được chuyển về ngôi trường mới xây dựng ở gần hồ Quỳnh Lôi. Năm 1965, giặc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, đồng bào Thủ đô được lệnh phải sơ tán ra khỏi thành phố. Trường phổ thông cấp III Đoàn Kết chia thành hai phân hiệu là: Phân hiệu Đoàn Kết A và phân hiệu Đoàn Kết B, để đi sơ tán.

Câu hỏi đặt ra lúc này là việc lựa chọn địa điểm sơ tán? Thầy Phạm Văn Thung, Phạm  Thế Bổng, Nguyễn Văn Thư đi tiền trạm, thấy việc sơ tán về Hưng Yên là không ổn, vì cầu Long Biên sẽ là trọng điểm đánh phá của giặc.Thầy Phạm Thế Bổng lựa chọn đưa phân hiệu Đoàn Kết B sơ tán về làng Vạn Phúc (Thanh Trì).

Các thầy bàn nhau rồi xin ý kiến cấp trên, và triển khai ngay kế hoạch sơ tán trường, lớp, ra ngoại thành Hà Nội, để kịp năm học mới.

Quán triệt lệnh sơ tán, thầy hiệu trưởng Đào Văn Trinh tóc bạc trắng, thầy Vũ Ngọc Quỳnh, cô Loan, cô Nguyệt Tú cùng các thầy, cô giáo vừa lo chuyển bàn ghế, đồ dùng giảng dạy, sách vở; vừa phải động viên phụ huynh học sinh cho con họ theo trường đi sơ tán... Ngày phân hiệu Đoàn Kết B chuyển địa điểm, có bạn được cha mẹ đèo xuống Vạn Phúc, còn phần lớn học sinh là đi bộ theo lớp. Có hai xe ô tô dành để chuyên chở bàn ghế, bảng, đồ dùng học tập,... đến đê Đông Mỹ, thì dỡ bàn ghế xuống, xếp lên xe bò kéo vào làng... Đường đất hẹp, khó đi. Gặp hôm trời mưa, bùn đất trơn trượt nhão nhoét. Buổi ban đầu, thầy giáo và học sinh ở nhờ nhà dân, học nhờ ở đình làng.

Được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, nhà trường được làng cho mượn mảnh đất để làm lớp học. Ngoài dạy học, mỗi thầy đều xung phong nhận thêm việc. Thầy Phạm Văn Thung nhận lên tận thượng nguồn mua tre, nứa, lá thả bè trôi theo sông Hồng về Vạn Phúc. Rồi, thầy trò cùng nhau chuyển vật liệu, dựng trường lớp, đào hào từ các dãy bàn trong lớp học chạy ra hầm trú ẩn.

Mỗi khi kẻng báo động vang lên, có trò Nguyễn Hùng (nay ở phố Hàng Bột) là học sinh lớp 8,bị cụt cả hai chân, phản xạ rất nhanh, Hùng tụt ngay xuống hai cái nạng để dưới gầm bàn, đu người trên nạng thoăn thoắt ra hầm trú ẩn... có khi còn trước cả các bạn trong lớp. Thầy và trò xa gia đình, bên nhau thực hiện nhiệm vụ dạy tốt, học tốt. Ngoài đạo lễ thầy trò, học sinh còn quý thầy, cô giáo như người thân thiết.

Vạn Phúc là làng dâu tằm. Để làm tốt công việc dân vận, thầy Phạm Thế Bổng tự thiết kế, làm hệ thống loa phóng thanh cho xã; lên Viện Nông nghiệp xin về giống cây ngô cho năng suất cao để bà con gieo trồng, giống cây dâu tằm lá to để lấy lá cho tằm ăn; chế tạo ra guồng quay tơ to, giúp bà con quay được mấy bánh tơ mà vẫn nhẹ tay quay; thầy còn hướng dẫn dân làm bèo hoa dâu để chăn nuôi, v.v...

Các thầy, cô giúp học sinh sớm hòa nhập với cuộc sống ngoại thành. Chị Nga là học sinh thời sơ tán, kể: - Thầy Bổng đến nơi ở của các nhóm nữ sinh, hướng dẫn lấy lá chuối khô, đan thành phên, che làm nhà tắm. Dạy học sinh cách ăn, ở, cẩn thận củi lửa, cách sinh hoạt cùng nhà dân như thế nào? Đào hố đi vệ sinh, rồi ủ tro ra làm sao? Tối đến, các nhóm “Bạn giúp nhau cùng tiến” chụm đầu ôn bài. Ếch nhái “ộp oạp, ộp oạp...” đầy ao như một bản nhạc đồng quê. Trời mưa, đường làng lầy, trơn trượt, bùn quánh dưới chân, thầy Bổng vẫn cầm ngọn đèn bão tỏa sáng dưới chân, đội mưa đi kiểm tra từng nhóm học tập, nhắc nhở học sinh vệ sinh, ngủ sớm, để sáng dậy sớm đi học... Học sinh thời đó nên người được là nhờ có những thầy cô giáo tận tâm với học trò.

Vất vả là thế! Khát khao mang vật lí thực nghiệm đến từng tiết học của thầy Bổng vẫn luôn cháy bỏng... Thầy Bổng vận động cả tổ vật lí của trường cùng dạy học theo mô hình thí nghiệm. Khái niệm “dạy chay” không bao giờ có trong giờ học vật lí của thầy. Chính vì thế, công việc của thầy Bổng càng nhiều thêm. Cô Nguyệt Tú kể rằng thầy Bổng vừa hướng dẫn, vừa tình nguyện chuẩn bị dụng cụ thực hành cho cả tổ vật lí trong mỗi tiết học.

Cuối tuần, thầy Phạm Thế Bổng còn đạp xe về Hà Nội dạy bổ túc văn hóa ở trường Nguyễn Văn Tố (phố Hàng Quạt). Có lần, vừa đi về đến rạp Tháng Tám, xe bị gãy cổ phốt, khiến thầy bị thương. Nhưng, khi quay trở lại nơi sơ tán, xe đạp của thầy Bổng vẫn chất đầy thực phẩm mà cô Nguyệt Tú và các cô giáo gửi mua...

Anh hùng Lao động

Nghỉ hè. Tháng tám năm 1971, mưa lớn nhiều ngày cùng với hoàn lưu sau bão, đe dọa vỡ đê Thanh Trì. Thầy Phạm Thế Bổng lo lắng các đồ dùng, sách vở học tập của nhà trường sẽ bị ảnh hưởng, nên đạp xe ngay về Vạn Phúc. Đê vỡ. Nước ngập tận nóc nhà.Thầy Bổng phải nhờ cán bộ địa phương cử người hỗ trợ, giúp cho một cái thuyền, thầy dỡ mái gianh, lặn ngụp xuống nước, đưa các vật dụng giáo cụ giảng dạy lên thuyền mang đi bảo quản ở nơi khác.

Chiến tranh ác liệt, có lệnh tổng động viên, thầy Nguyễn Cổn và nhiều học sinh xung phong lên đường ra mặt trận. Có học sinh còn viết huyết tâm thư. Thầy Nguyễn Cổn là chính trị viên, có lần đang ngồi trên thuyền qua sông, chợt nghe thấy tiếng “Em  chào thầy”. Thầy Nguyễn Cổn và học trò gặp nhau trên đường ra mặt trận còn hạnh phúc nào bằng. Trò của thầy tủm tỉm... khoe đã kịp lấy một cô bạn cùng lớp.

Tất cả học sinh học xong cấp III thời đó, đủ tiêu chuẩn là được đi học nước ngoài, hoặc tuyển thẳng vào đại học. Học trò Nguyễn Hùng là học sinh bị cụt hai chân, chọn cách lập gia đình với một bạn gái xinh xắn cùng lớp. Nguyễn Hùng học giỏi, xếp loại A1. Sau khi lấy vợ, Nguyễn Hùng một mở cửa hàng sửa chữa điện tử ở phố Hàng Bột, rất đông khách. Anh đã thành đạt, mà bước khởi đầu chỉ là từ những dụng cụ trực quan trong giờ lên lớp của nhà giáo Phạm Thế Bổng .

Hết sơ tán đợt một, được sự quan tâm của Sở Giáo dục Hà Nội và bà Nghiêm Chưởng Châu, trường phổ thông cấp III Đoàn kết B chuyển về ngôi trường mới xây dựng ở khu lao động Mai Hương, học buổi sáng, lấy tên là trường phổ thông công nghiệp cấp 3 Hai Bà Trưng. Phân hiệu trường phổ thông cấp 3 Đoàn Kết A học buổi chiều.

Hưởng ứng “Lời kêu gọi thi đua yêu nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào “Thi đua dạy tốt, học tốt” của ngành Giáo dục, thầy Phạm Thế Bổng luôn là tấm gương mẫu mực. Dành cả tuổi thanh xuân, thầy Phạm Thế Bổng cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp “trồng người”. Thầy mong rằng, mỗi giờ lên lớp là phải có thí nghiệm vật lí, giúp các em nắm vững ngay kiến thức đã học, để ứng dụng ngay vào thực tế cuộc sống, chiến đấu đang sôi động. Lứa học trò thời gian khổ ấy có nhiều người thành danh, như: Phạm Khôi Nguyên (nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường), Hà Kim Ngọc (Đại sứ Việt Nam tại Mỹ),v.v...

25 năm liền thầy Phạm Thế Bổng đạt danh hiệu “Chiếnsĩ thi đua”, đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”, được đi báo cáo điển hình trong Đại hội Chiến sĩ toàn quốc. Đặc biệt, bốn lần nhà giáo Phạm Thế Bổng được Bác Hồ trao tặng Huy hiệu Bác Hồ.

Một đồng nghiệp kể về lòng yêu nghề của thầy Phạm Thế Bổng: Thầy Bổng thường ghé qua nhà, rủ tôi cùng đi ăn sáng là bánh mì patê ở phố Huế, uống cafe, rồi trên đường đi dọc từ  phố Huế, xuống phố Bạch Mai, có lúc tôi  nghe thấy tiếng xe đạp phanh kít, nhìn lại, thấy thầy Bổng đang cúi xuống nhặt cái đinh ốc, đôi khi là đoạn dây thép, vài dải nhiễu của máy bay B.52,v.v... cũng được thầy nhặt lên cho vào túi da mắc ở bac - ba - ga. Thầy tận dụng tất cả vật liệu để tạo dựng dụng cụ thí nghiệm. Sau này, khi nhà trường được tặng bộ dụng cụ thí nghiệm của Đức, thầy Bổng thấy thí nghiệm xảy ra nhanh, học sinh sẽ không quan sát kịp. Nên thầy Bổng đã tự chế tạo thêm bộ phận gắn vào dụng cụ thí nghiệm đó giúp làm chậm quá trình xảy ra phản ứng để cho học sinh dễ nhìn thấy …

Phòng thí nghiệm ở tầng một, lớp học thì ở trên tầng hai, tầng ba. Sau giờ lên lớp, thầy Phạm Thế Bổng thường ở lại trường chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm cho đồng nghiệp. Đợi đến tiết học, thầy mang lên lớp... Nhiều khi đến chiều, thấy thầy Phạm Thế Bổng không ăn trưa, cặm cụi bên dụng cụ thí nghiệm, cô Nguyệt Tú mời thầy ăn tạm củ khoai lang, đỡ đói.

Tuy thầy không là Đảng viên, nhưng với tinh thần trách nhiệm cao, thầy Phạm Thế Bổng (1929 - 2004) quê ở xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng Lao động (1984), tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất (1986), là Đại biểu Quốc hội, là Thư kí Ban Văn hóa Giáo dục Quốc hội.

Nếp nhà gia giáo

Điều đặc biệt, tuổi trẻ thầy Phạm Thế Bổng được đào tạo ở các trường nổi tiếng ở Hà Nội. Chất nghệ sĩ, tài hoa, tiếp thu từ nền giáo dục mới. Nhân ngày Giải phóng Thủ đô (1954), thầy Bổng là họa sĩ có tranh triển lãm ở Nhà thông tin (phố Tràng Tiền), là nhạc công tham gia ban nhạc trẻ cùng họa sĩ Lưu Yên. Thầy Phạm Thế Bổng là cháu nội Cụ Thượng Phạm Văn Thụ là người có công đầu trong việc bảo vệ Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội).

Nguyên do, năm 1923, Hà Nội xảy ra nạn dịch hạch. Bệnh viện Phủ Doãn không còn chỗ cho bệnh nhân, nên người Pháp chuyển bệnh nhân sang Văn Miếu Quốc Tử Giám. Khi hết dịch, chính quyền thực dân có ý muốn chuyển Văn Miếu vào Hà Đông, hỏi ý kiến các sĩ phu Bắc Hà. Các cụ nhà ta phản đối, nhưng lại không nói ra, chỉ thầm bảo nhau, nếu muốn thì người Tây tự trèo lên mà dỡ, chứ ta không làm. Riêng cụ Phạm Văn Thụ là tri phủ Thái Bình, khi được Thư kí Toàn quyền Packier hỏi đã khẳng khái trả lời: “Dẫu triều Nguyễn dời đô vào Phú Xuân cũng không hủy được Văn Miếu. Phải để nguyên làm cổ tích cho cả nước Nam”. May thay, viên thư kí là người cũng rất yêu các di sản văn hóa nên đồng tình: “Ngày mai, tôi sẽ truyền đạt ý kiến của tiên sinh lên Toàn quyền và sẽ xin 4 vạn Đông Dương để tẩy uế, tu sửa lại Văn Miếu”. Khi cụ Phạm Văn Thụ vào Hà Đông, thuật lại với cụ Nguyễn Thượng Hiền và các văn thân, ai nấy con nửa tin, nửa ngờ, mấy hôm sau thì được tin Văn Miếu Quốc Tử Giám được giữ nguyên trạng, và được chi 4 vạn Đông Dương. Trí sĩ Bắc Hà ai cũng mừng vui.

Tiến vi quan ... để hộ dân

Thời còn đi học, cụ Phạm Văn Thụ (tự Đàn Viên, sinh 30 tháng 6 năm 1866), người xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, cạnh làng Xuân Dục quê hương khởi nghĩa Bãi Sậy của Cụ Tán Thuật, được Cụ Tán Thuật truyền dạy “Đã học thì phải thi. Đã thi thì phải đỗ. Đã đỗ thì phải ra làm quan, mà làm quan thì phải vì dân, chứ không được theo lối hồ trành”. Quả nhiên, sau này khi làm Tổng đốc Thái Bình, Cụ Phạm Văn Thụ nói “Phàm những việc lợi cho dân Thái Bình, hết thảy ta được dự phần tài quyết”.

Có lần nghe tin hơn một trăm người dân sẽ bị trảm vì nổi loạn, cụ Phạm Văn Thụ đến tìm hiểu và nói tránh đi... xin quan Tây tha cho. Cụ Phạm Văn Thụ rất giỏi cứu đê điều. Cụ làm quan ở đâu thì dân ở đấy được ấm no, tệ nạn được ngăn chặn, học hành khoa cử được mở mang. Cuối năm 1922, cụ Phạm Văn Thụ đã nhiều lần làm đơn từ chối nhậm chức, xin về nghỉ hưu, nhưng bị triều đình bác bỏ. Cụ Phạm Văn Thụ lần lượt được bổ nhiệm chức Thượng thư Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Binh, Cơ mật viện Đại thần. Chính quyền Pháp Đông Dương còn bắt cụ Phạm Văn Thụ nhận chức ở Phủ Liêm Sở để dễ bề quản lí. Nhưng, nói đúng hơn, ở cương vị nào Cụ Phạm Văn Thụ cũng là tận tụy “lá bùa Hộ quốc an dân”.

Nam triều bị thay đổi liên tục. Nhục mất nước, dân lầm than, cơ cực.

Lui vi sư...

Từ cụ Thượng Phạm Văn Thụ đến Anh hùng Lao động Phạm Thế Bổng thật là một đại gia đình danh gia vọng tộc, phải chăng cũng ở nguồn “Hiền tài là nguyên khi quốc gia”.        

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}