Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Ngô Quyền – Người mở đầu kỷ nguyên độc lập của Đai Việt

Phạm Quang Ái | Thứ Hai, 29/04/2019 20:42 GMT +7

Vanhien.vn - Ngô Quyền (898 - 944), còn được các sử gia phong kiến viết trong các pho chính sử là Tiền Ngô Vương, là vị vua đầu tiên sau nghìn năm bị phương Bắc đô hộ.

Vua Ngô Quyền. Ảnh: Internet.

Năm 938, ông và hai con trai là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn được sự ủng hộ của các hào trưởng địa phương đã lãnh đạo nhân dân ta đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Chiến công lừng lẫy đó đã chính thức kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài của dân tộc. Sau chiến thắng này, ông xưng vương, trị vì đất nước từ năm 939 đến năm 944. Ngô Quyền sinh năm Mậu Ngọ (898) niên hiệu Càn Ninh thứ năm hoặc Quang Hóa năm đầu đời Đường Chiêu Tông, trong một gia đình hào trưởng có thế lực ở châu Đường Lâm. Cha Ngô Quyền là Ngô Mân, làm châu mục ở châu Đường Lâm.

Ngô Quyền là bậc anh hùng tuấn kiệt, Đại Việt sử ký toàn thư chép về ông như sau: “...Khi vua mới sinh có ánh sáng lạ đầy nhà, trạng mạo khác thường, có 3 nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền. Đến khi lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc...". Ngô Quyền lớn lên khi thế lực nhà Đường tại Trung Quốc đang trên đà suy yếu. Đô hộ phủ của nhà Đường tại Tĩnh Hải quân(1) ngày càng tỏ ra bất lực trong việc khống chế các thế lực cát cứ địa phương cũng như các thế lực bên ngoài. Lần lượt các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên - Đinh Kiến (năm 687), Mai Thúc Loan (năm 722), Phùng Hưng (năm 767), Dương Thanh (năm 819)... đã làm cho nhà Đường phải chật vật đối phó với nạn phiên trấn cát cứ. Chính vì vậy, sự kiểm soát của chính quyền đô hộ đối với Tĩnh Hải quân ngày càng lỏng lẻo, yếu ớt. Quyền lực của phủ Đô hộ bị phân tán, các thế lực hào trưởng địa phương ngày càng mạnh lên và có vai trò quan trọng trong bộ máy cai trị. Trong thời gian đó, Khúc Thừa Dụ một hào trưởng đất Hồng Châu (thuộc đất Bình Giang và Ninh Giang, Hải Dương ngày nay) đã thiết lập chính quyền tự chủ ở An Nam một cách khá dễ dàng và ít xáo trộn vào năm 905. Nhưng do lực lượng quân sự quá yếu, chính sách đối ngoại không hợp lý nên đã dẫn tới thất bại của họ Khúc trước sự xâm lược của nhà Nam Hán. Song, sự thống trị của nhà Nam Hán cũng chẳng được bao lâu. Năm 931, thế lực họ Dương (Dương Đình Nghệ) ở châu Ái đánh bại quan cai trị nhà Nam Hán là Lý Tiến, Trần Bảo và kế tục họ Khúc làm chủ chính quyền tự chủ của người Việt.

Để tranh thủ được sự ủng hộ của các hào trưởng địa phương khác, trong đó có Ngô Quyền, Dương Đình Nghệ đã có nhiều sách lược cố kết lực lượng để xây dựng chính quyền trung ương ở Đại La. Một trong những sách lược đó là gả con gái Dương Thị Như Ngọc cho Ngô Quyền. Cuộc hôn phối giữa Ngô Quyền và con gái Dương Đình Nghệ, trước hết mang ý nghĩa liên minh chính trị giữa hai dòng họ. Từ địa vị con rể, Ngô Quyền đã trở thành một dũng tướng tâm phúc của Dương Đình Nghệ. Năm 932, Ngô Quyền được vị Tiết độ sứ tin tưởng giao cho quyền quản lĩnh vùng đất căn bản của họ Dương là châu Ái.

Năm 937, Kiều Công Tiễn - một nha tướng đã giết Dương Đình Nghệ để cướp quyền cai trị. Để củng cố vị trí của mình, Kiều Công Tiễn đã thần phục nước Nam Hán, rồi tự xưng là Tiết độ sứ. Hành động này của Kiều Công Tiễn đã gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các hào trưởng địa phương, thậm chí chính nội bộ họ Kiều cũng chia rẽ trầm trọng. Ngô Quyền, với danh nghĩa là bộ tướng và con rể của vị cố Tiết độ sứ, đồng thời cũng là người đứng đầu liên minh Ngô - Dương, ông đã tập hợp lực lượng để tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Bị cô lập, Kiều Công Tiễn hoảng sợ, vội vã sai người sang cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Cung sai con trai là Vạn Vương Lưu Hoằng Tháo đem hai vạn quân, dùng chiến thuyền, xâm lược, hòng chiếm lại Giao Châu. Năm 938, Ngô Quyền giết chết Kiều Công Tiễn và nhanh chóng tổ chức cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán ở khúc sông Bạch Đằng (2). Theo Đào Duy Anh thì “khúc sông ấy (sông Bạch Đằng) hai bên núi cao dựng đứng, cây cối thành rừng, nhiều ngọn sông chảy về, cho nên thế nước rất mạnh, thật là nơi hiểm yếu nhất trên đường thủy từ Trung Quốc vào Giao Châu” (3).

Lợi dụng thủy chế sông, Ngô Quyền sai đóng cọc dưới lòng sông, đầu bịt sắt nhọn sao cho khi nước triều lên thì bãi cọc bị che lấp. Ngô Quyền đã cử con trai cả là Ngô Xương Ngập (vốn có khí chất dũng mãnh) dẫn thuyền nhẹ ra khiêu chiến, nhử quân Nam Hán vào bãi cọc lúc thủy triều lên. Và, đợi khi nước triều rút xuống, ông mới cho phục binh ở hai bên bờ sông nghênh chiến. Binh thuyền của giặc phải rút lui, nhưng vì nước cạn nên mắc vào cọc bịt sắt vỡ rất nhiều. Hai vạn quân lương, chiến thuyền của Hoàng Tháo đã bị cả thủy quân ta kết hợp với quân cung nỏ trên bờ đánh cho tan tác. Kết quả, quân Nam Hán thua chạy, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ của mình trên sông. Với mưu lược và tài năng tuyệt vời, Ngô Quyền đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng nổi tiếng năm 938, kết thúc hơn một thiên kỷ Bắc thuộc, mở ra thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ cho Việt Nam. Về trận Bạch Đằng, trong sách Việt sử tiêu án (TK XVIII) đã đánh giá: “Trận thắng trên sông Bạch Đằng là cơ sở cho việc khôi phục quốc thống. Những chiến công đời Đinh, Lê, Lý, Trần sau này còn nhờ vào uy danh lẫm liệt ấy để lại. Trận Bạch Đằng vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lẫy lừng ở một thời bấy giờ mà thôi đâu”(4).

Thắng lợi của Ngô Quyền trên khúc sông Bạch Đằng vào năm 938 đã đặt dấu chấm hết cho mọi âm mưu xâm lược của nhà Nam Hán nói riêng và phương Bắc nói chung, đồng thời cũng kết thúc thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc. Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, trở thành vị vua đầu tiên của đất Việt tự chủ, độc lập. Kinh đô của triều đại mới không nằm ở Đại La như trước kia mà chuyển sang Cổ Loa, kinh đô của nước Văn Lang - Âu Lạc từ nghìn năm trước. Sở dĩ Ngô Quyền không lấy Đại La sầm uất và có truyền thống nhiều thế kỷ là trung tâm chính trị của cả nước như họ Khúc, họ Dương đã chọn, theo các sử gia thì bắt nguồn từ hai nguyên nhân cơ bản sau: thứ nhất là tâm lý tự tôn dân tộc, thứ hai là ý thức bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước. Trước hết, đó là ý thức dân tộc trỗi dậy, tiếp nối quốc thống xưa của các vua Hùng, quay về với kinh đô cũ thời Văn Lang - Âu Lạc, biểu hiện ý chí đoạn tuyệt với Đại La do chính quyền đô hộ phương Bắc khai lập. Lại thêm do Đại La trong nhiều năm là trung tâm cai trị của các chính quyền đô hộ phương Bắc. Bên cạnh đó, Đại La cũng là trung tâm thương mại sầm uất nhiều đời chủ yếu của các thương nhân Hoa kiều nắm giữ. Đại La do đó trở thành nơi tụ tập nhiều lớp dân phương Bắc, từ tầng lớp quan lại cai trị nhiều đời, nhân sĩ sang tránh nạn, đến tầng lớp thương nhân tới làm ăn buôn bán. Đây là đô thị mang nhiều dấu vết cả về tự nhiên lẫn xã hội của phương Bắc, và vì vậy, thế lực của những lớp dân này ở Đại La cũng không nhỏ. Do đó, lực lượng này rất dễ thực hiện việc tiếp tay làm nội ứng khi quân phương Bắc trở lại, điển hình là việc họ Khúc nhanh chóng thất bại và kết thúc bằng việc Khúc Thừa Mỹ bị bắt về Trung Quốc. Rút kinh nghiệm từ thất bại của Khúc Thừa Mỹ, Ngô Quyền không chọn Đại La, mà đã chọn Cổ Loa như một biện pháp an toàn, bền vững cho vương triều, vừa tìm một hướng đi mới cho dân tộc. Tuy nhiên, cũng nhiều người cho rằng, việc tìm đến vị trí bên lề của phủ trị cũ cho thấy dấu vết/tâm lý co cụm có tính chất địa phương, tự ti về sức mạnh của bản thân trong cách ứng xử của các tập đoàn quyền lực thời kỳ này. Sử sách không ghi rõ thành tích cai trị của Ngô Quyền mà chỉ nhắc đến chung chung "đặt trăm quan, chế định triều nghi, phẩm phục".

Trị vì được 6 năm, năm 944, Ngô Vương qua đời, hưởng thọ 47 tuổi. Ông không có miếu hiệu và thụy hiệu, sử sách xưa nay chỉ gọi ông là Tiền Ngô Vương. Sau cái chết của ông, nhà Ngô suy yếu nhanh chóng, không còn đủ sức khống chế được các thế lực cát cứ địa phương và dẫn đến việc sụp đổ vào năm 965. Theo sử sách và gia phả, Ngô Quyền có 4 người con trai với bà Dương hậu (không thấy nói đến con gái) là Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn, Ngô Nam Hưng và Ngô Càn Hưng. Con trưởng là Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, sinh vào khoảng thập niên thứ hai của TK X. Tiền Ngô Vương truyền ngôi cho Ngô Xương Ngập nhưng bị Dương Tam Kha (em vợ của Ngô Quyền, cậu của Ngập) làm phụ chính cướp ngôi, Xương Ngập phải bỏ trốn. Dương Tam Kha tự xưng là Bình Vương. Xương Ngập phải trốn về miền Nam Sách, tìm đến nương nhờ người tôi trung của cha là Phạm Lệnh công tại Trà Hương, nhờ Phạm Lệnh công đem vào núi giấu nên thoát thân. Con trai thứ hai của Ngô Quyền là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn do bà Dương hậu sinh ra. Ngô Xương Văn đã cùng hai tướng Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc đánh và phế truất Dương Tam Kha vào năm 950, trung hưng lại cơ nghiệp. Nam Tấn Vương cùng với anh là Thiên Sách Vương trị vì từ năm 950 đến năm 954. Đến năm 954, Ngô Xương Ngập mất (5), Ngô Xương Văn một mình trị nước từ năm 955 đến năm 965 thì mất. Vương triều nhà Ngô sụp đổ, đất nước rơi vào nạn cát cứ của 12 xứ quân. Con trai thứ ba là Ngô Nam Hưng, thứ tư là Ngô Càn Hưng đều là con đẻ của bà Dương hậu, nhưng không được sử sách đề cập gì thêm.

Các nhà sử học Việt Nam thời trung đại như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên..., đánh giá rất cao công trạng của Ngô Quyền. Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về ông rằng: “Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được” (6). Ngô Sĩ Liên ca tụng ông là mưu tài đánh giỏi, làm nên công dựng lại cơ đồ, đứng đầu các vua đồng thời cho rằng cách thức cai trị của ông có quy mô của bậc đế vương. Và, sách Quốc sử khảo đã tôn vinh ông là vua Tổ phục hưng dân tộc.

Theo Đào Duy Anh thì: “Ngô Quyền không theo gương họ Khúc và họ Dương chỉ tự lập làm Tiết độ sứ, quyết xưng vương hiệu để đặt nền móng cho một nước độc lập. Ngô Quyền là người anh hùng trung nghĩa, vì đại nghĩa dân tộc mà nổi lên, nên được tướng sĩ và nhân dân mến chuộng và hết lòng ủng hộ. Ngô Quyền là người tài lược, đã dùng chiến thuật độc đáo mà phục kích quân giặc trên sông Bạch Đằng. Đó là những yếu tố chủ quan và khách quan quyết định sự thành công của họ Ngô” (7).

 

_______________

1. Tĩnh Hải quân là tên gọi đơn vị hành chính dưới thời Đường được đặt tại Giao Châu thay cho tên gọi An Nam đô hộ phủ. Việc này bắt đầu từ năm 863, nước Nam Chiếu chiếm được An Nam đô hộ phủ, tướng Sái Tập nhà Đường tử trận. Cao Biền được điều sang dẹp loạn, phải mất 3 năm mới hoàn toàn đánh được Nam Chiếu. Để khôi phục và củng cố quyền hành tại Giao Châu, nhà Đường thăng An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân, cho Cao Biền làm Tiết độ sứ. Sau Cao Biền, các Tiết độ sứ kế tục là Cao Tầm, Tăng Cổn, Tạ Triệu, An Hữu Quyền, Chu Toàn Dục và Độc Cô Tổn.

2. Một khúc sông do các ngọn sông ở Lục Đầu giang đổ về, chảy ra cửa Nam Triệu; phía Nam khúc sông là đất Hải Yên, tỉnh Kiến An, phía bắc là huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên.

3, 7. Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006, tr. 147.

4. Ngô Thì Sỹ, Việt sử tiêu án, Văn Sử xuất bản năm 1991

5. Theo học giả Đào Duy Anh trong Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, thì Ngô Xương Ngập mất sau một năm lật được Dương Tam Kha, tức năm 951.

            6. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1972.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 341, tháng 11-2012

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}