Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Ngũ vị phúc thần đáng thờ phụng ở Vĩnh Phúc*

Nhà văn Hoàng Quốc Hải | Thứ Tư, 30/11/2016 11:29 GMT +7

Tỉnh Vĩnh Phúc đã đầu tư xây khu thờ tự lớn, được gọi là Công viên Văn Miếu Vĩnh Phúc hẳn đã có ý đồ. Tới nay còn có những ý kiến bàn thảo, lãnh đạo mời các nhà văn hóa, các nhà khoa học tới bàn bạc cách xử lý. Đó là việc làm đáng trân trọng, bởi lãnh đạo đã lắng nghe dân, và tìm cách xử lý cho hợp lòng dân.

Suy cho cùng thì tất cả mọi khoản chi tiêu trên đất nước, đều do dân đóng thuế hoặc đóng góp, thậm chí Nhà nước đi vay, thì người dân vẫn phải chi trả. Cho nên chiều theo ý dân là thượng sách.

van mieu vinh phuc

Nhà văn Hoàng Quốc Hải trình bày tham luận “Ngũ vị phúc thần đáng thờ phụng của Vĩnh Phúc” sáng 25/11/2016.

Dường như Vĩnh Phúc có truyền thống người lãnh đạo biết lắng nghe dân, làm theo nguyện vọng của dân. Xa xưa vào thế kỷ 16, 17 có Thái tể Nguyễn Duy Thì giúp nhà Lê Trung Hưng, và giúp  chúa Trịnh Tùng cai quản đất nước hợp lòng người. Gần đây có Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc thấy dân trong tỉnh đói nghèo vì hình thức làm ăn tập thể không hiệu quả, ông đã dám chịu trách nhiệm làm ngược lại với chủ trương làm ăn lớn của Nhà nước, phải đưa hợp tác xã lên qui mô toàn xã và hơn nữa. Thay vì làm lớn, ông đã xé nhỏ nó ra và đưa ruộng đất về cho từng gia đình gọi là “ khoán hộ”. Vì thế, dân Vĩnh Phúc được no ấm, còn ông bị phê phán nặng nề. Tuy nhiên, sau đó việc “xé rào” của ông Kim Ngọc trở thành chính sách nông nghiệp cho cả nước.

Trở lại vấn đề ta đã xây lên một cơ ngơi lớn, chẳng kém gì qui mô Văn miếu Thăng Long, vậy sử dụng nó vào việc gì cho hợp lý và thuận lòng dân.

Thờ Khổng Tử, hoặc thờ Chu Công là thủy tổ của đạo Nho đều không hợp thời thế và cả không hợp lòng dân trong nước, không hợp với tâm thức nhân văn của nhân loại thời nay. Xin miễn bàn, vì nó không chỉ là văn hóa mà còn là chính trị khá phức tạp. Ấy là chưa nói đến Nho học đã quá lỗi thời, và có nhiều nguyên lý của nó đã trở nên phản tiến hóa, phản nhân văn từ cả ngàn năm so với nhân loại tiến bộ.

Nói về truyền thống trọng học thì Vĩnh Phúc cũng có nhiều người đỗ đạt cao từ lâu đời. Và được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống Văn Miếu, Văn từ, Văn chỉ trên toàn tỉnh. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hữu Mùi, Vĩnh Phúc có một Văn miếu cấp tỉnh nguyên ở phủ Tam Đới, bốn Văn từ hàng huyện và bảy Văn từ hàng tổng. Văn từ hàng tỉnh có vào khoảng đầu thế kỷ 15, vào năm nào hiện chưa xác định được. Song quyết không phải được tạo dựng thời giặc Minh chiếm đóng. Ai khẳng định điều đó hãy đọc lại biểu dâng Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên.

Dân Vĩnh Phúc trọng học cả xưa và nay là điều không phải bàn thảo. Nhưng khu nhà cửa mang qui mô đền đài này cũng không vì thế mà đem thờ thần văn chương được. Vậy thờ ai là hợp lí?

Qua nghiên cứu lịch sử vùng đất Vĩnh Phúc, tôi tạm lượng định,Vĩnh Phúc nên thờ các vị sau đây làm phúc thần.

1.Quốc Mẫu Tây Thiên

Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu, hiện được thờ tại đền Chân Suối, xã Hạ Nậu, huyện Tam Đảo. Truyền thuyết kể, bà là một người đức hạnh, văn võ toàn tài, kết duyên với Hùng Chiêu Vương, tức Hùng Vương thứ VI. Hùng Chiêu Vương cũng chính là Tiết Liêu, Lang Liêu, người đã tạo ra Bánh chưng, Bánh dày dâng vua cha và được truyền ngôi.

Sau khi đem hết tài năng giúp vua trị nước, mở mang bờ cõi, thống nhất gần xa, bà Lăng Thị Tiêu lại về nơi sinh trưởng và hóa tại nơi bà được sinh ra.

Đó là người Mẹ được cả nước vinh danh và tôn thờ từ rất xưa.

2.Trần Nguyên Hãn

Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn(1390-1429) vị đệ nhất khai quốc công thần thời nhà Lê bị hàm oan và chết tức tưởi, nay còn đền thờ tại quê ông ở Sơn Đông, Lập Thạch,

Với Trần Nguyên Hãn, có lẽ không cần thuyết trình gì thêm, bởi ai cũng hiểu tường tận về tài năng, đức độ và công lao của ông. Ông xứng đáng được đưa vào ngôi đền thiêng không chỉ của Vĩnh Phúc mà còn của cả nước.

3. Nguyễn Duy Thì

Thái Tể Nguyễn Duy Thì (1572-1652). Ông người làng Yên Lãng nay là thôn Hợp Lễ, thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Duy Thì là người có đức, có tài, làm quan được vua yêu, chúa mến, chăm dân, được dân kính, dân yêu. Ông mất đã hơn 400 năm, tận bây giờ, ngày giỗ của ông vẫn là ngày hội trong vùng, có tới hàng vạn người tham dự.

Sách “ Đăng khoa lục” cũng như sách “ Các nhà khoa bảng Việt Nam đều ghi: Nguyễn Duy Thì (1572 – 1652) người xã Yên Lãng huyện Yên Lãng, cha của tiến sĩ Nguyễn Duy Hiểu, 27 tuổi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Quang Hưng 21 (1598) đời Lê Thế Tông. Từng đi sứ sang nhà Minh. Làm quan đến chức Tá lý công thần, tham tụng, Hộ bộ thượng thư kiêm chưởng lục bộ, kiêm Quốc tử giám tế tửu, Thái phó, tước Tuyền quận công, được mở phủ Bình Quân (tại quê nhà). Thọ 81 tuổi. Khi mất, được tặng chức Thái tể. Tác phẩm hiện còn 2 bài thơ chữ Hán (Trang 514 sách các nhà khoa bảng Việt Nam do Lê Đức Thọ chủ biên, NXB Văn Học 1993).

Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Đây là bộ sách có độ tin cậy cao, nhất là các nhân vật được lưu danh đều qua sàng lọc khắt khe. Tập IV về tỉnh Sơn Tây, phần nhân vật chí, kỷ nhà Lê hơn 300 năm chỉ chép có 29 người, đứng đầu là Trần Nguyên Hãn.

Phần Nguyễn Duy Thì sách chép:” Nguyễn Duy Thì người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng. Khi làm tướng sinh (thuở học trò) mộng thấy thần nhân đọc câu thơ rằng: “ Yên Lãng nhân, Yên Lãng nhân, thiên hạ yên nguy hệ thử thân” (Người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng, yên nguy trong nước quan hệ người này). Sau đỗ chánh tiến sĩ đời Quang Hưng, làm đến thượng thư, coi việc lục bộ hàng 30 năm, làm chỗ dựa của đời. Chết tặng Thái tể.” (Tập IV tr 236 sách Đại Nam nhất thống chí).

Nếu theo dõi cuộc đời quan trường của cụ Nguyễn Duy Thì, thì việc thần nhân báo mộng từ thuở học trò của cụ quả không sai.

Lại sách “ Lịch triều hiến chương loại chí” do Phan Huy Chú để công biên soạn tới hơn 10 năm, cục kỳ công phu và nghiêm túc. Phần nhân vật chí, Phan Huy Chú chép về Nguyễn Duy Thì như sau: “Ông người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng. Năm 27 tuổi đỗ tiến sĩ đệ nhị giáp, khoa Mậu Tuất năm Quang Hưng thứ 27 (1598) đời Lê Thế tong”…

Bấy giờ thường có điềm tai dị xuất hiện, ông dâng khải nói:

Dân là gốc của nước, đạo trị nước cốt phải yên dân. Trời với dân đều một lẽ, lòng dân vui thì thuận ý trời. Nên người giỏi trị nước phải yêu dân như cha mẹ yêu con, nghe thấy dân đói rét phải lo, trông thấy dân vất vả phải thương, cấm chính thể hà khắc tàn bạo, cấm việc tự tiện thu thuế, để dân được sinh sống thoải mái, không có tiếng sầu giận thở than. Đó mới là biết đạo trị nước. Nay thánh thượng để ý đến dân, ra một chính sách gì là cốt để nuôi dân, thi hành một lệnh gì là cốt ngừa sự nhiễu dân, lòng yêu dân thật  như độ lượng của trời đất cha mẹ.

Những người thừa hành, chưa thể tất hết được ý của nhà vua, chỉ chăm bạo ngược, đua nhau xa xỉ. cai trị một huyện thì khốn khổ cho dân một huyện, cai trị một xã thì khốn khổ cho dân một xã, những việc nhũng nhiễu hà lạm, việc gì cũng làm, khiến cho dân trong nước, trai không áo, gái không váy, tiệc hát xướng không có nưã, lễ cưới xin không đầy đủ, việc nuôi người sống, chôn người chết không biết nhờ vào đâu, việc ăn uống thường dùng hàng ngày không biết lấy gì chu cấp, những kẻ nghèo yếu hèn hạ, những loài sâu bọ, cỏ cây, đời sống không được toại.

Vì thế mà cảm động đến trời đất, nên lòng trời không thuận. Tai nạn nước lụt dâng lên lạ thường, phải chăng là chính sự lúc này có thiếu sót. Có thể không sợ hãi tu tỉnh nghĩ đến cái lỗi gây nên điềm tai biến ấy được không?

Nếu làm được chính sách giúp dân, thì trên thuận lòng trời, dưới đẹp ý dân, tự khắc đổi tai vạ thành điềm lành, hàng năm được mùa, mọi nhà mọi người no đủ, trong nước thái bình, cơ nghiệp nước nhà truyền ức  muôn năm từ nay trở đi được lâu dài mãi.

Lời tâu của ông được Triết Vương (Trịnh Tùng) khen và nhận để chỉnh đốn.

Một người trông coi lục bộ (chức ngang tể tướng, tương đương thủ tướng ngày nay) mà tấm lòng đau đáu thương dân đến vây. Lời tâu khiêm nhường, nhưng rõ là bản cáo trạng tố cáo bộ máy cầm quyền đang hư hỏng: “Chỉ chăm bạo ngược, đua nhau xa xỉ, cai trị một huyện thì khốn khổ cho dân một huyện…”

Đức của ông lớn đến mức chính quyền nhà Trịnh phải truy phong không chỉ cha mẹ mà cả ông bà của Thái tể Nguyễn Duy Th́ì. Sau này còn lục dụng và phong tước cho cả cháu chắt . Các cháu chắt nhiều đời sau của ông còn đỗ đạt cao, đời đời đứng đầu các họ có danh vọng trong toàn tỉnh.

Trong dòng họ ấy gần đây còn nổi lên vị danh họa Nam Sơn tức Nguyễn Vạn Thọ (1890 – 1973) từng có tranh dự triển lãm tại Paris nhiều lần, vừa có giải vừa bán được tranh cho bảo tàng Mỹ thuật Pháp. Ông là họa sĩ Việt Nam đầu tiên có vinh dự ngang tầm Châu Âu từ nửa đầu thế kỷ 20.  Họa sĩ Nam Sơn còn là người đồng sáng lập trường Mỹ thuật Đông Dương (1925) với họa sĩ người Pháp, ông Victor Tardieu. Đương nhiên họa sĩ Victor Tardieu là Hiệu trưởng đầu tiên. Chính ngôi trường ấy đã đào tạo cho nhiều thế hệ họa sĩ Việt Nam, trong đó có nhiều người nổi tiếng như: Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Khang, Nguyễn Đỗ Cung, Lương Xuân Nhị, Bùi Trang Chước, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm… Lớp họa sĩ này có bốn danh họa được đương thời tôn vinh: “ Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn”.

Tôi đã đến thăm nhà thờ cụ Nguyễn Duy Thì, một ngôi nhà khiêm tốn vốn là dinh quan Thái tể. Con cháu còn giữ được nguyên vẹn 32 đạo sắc phong từ Lê đến Nguyễn. Cả nước chưa có gia đình và dòng họ nào làm được như vậy. Mộ của cụ là một nấm đất lùn tịt nằm giữa cánh đồng lúa quê hương.

Tể tướng Nguyễn Duy Thì với thân thế, sự nghiệp như vậy, họ hàng dòng tộc nối đời như vậy, tưởng cụ xứng đáng được tôn vinh trong Điện thần tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay.

4.Nguyễn Thái Học.

Nguyễn Thái Học sinh năm 1902 tại làng Thổ Tang, phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên. Ông là một nhà cách mạng luôn đấu tranh cho độc lập dân tộc.       Ngay khi còn là sinh viên trường Thương mại Đông Dương, ông từng gửi những đề xuất cải cách xã hội của mình cho Alexandre Varenne toàn quyền Đông Dương. Năm 1927, ông thành lập Đảng Việt Nam quốc dân, chủ trương dùng bạo lực lật đổ chính quyền thực dân Pháp, lập ra nước Việt Nâm theo chế độ Cộng hòa.

Ông lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930. Khởi nghĩa thất bại. Ông bị thực dân Pháp bắt và chém đầu ngaỳ 17 tháng 6 năm 1930 tại Yên Bái.

Hiện nay tại thành phố Yên Bái có tượng đài Nguyễn Thái Học,có đền thờ ông và các đồng chí của ông trong một công viên tâm linh rất tôn nghiêm.

Tên ông ngày nay đã được đặt cho nhiều đường phố chính trong cả nước, cũng có nhiều trường học các cấp được mang tên ông.

Trong cuộc Hội thảo tổ chức tại quê hương Nguyễn Thái Học ngày 24 tháng 12 năm 2003, các nhà khoa học đều nhất trí tôn vinh Nguyễn Thái Học là anh hùng dân tộc.

Nguyễn Thái Học một nhà yêu nước vĩ đại, xứng đáng được đưa vào Điện thần của Vĩnh Phúc và của cả nước.

5. Ông Kim Ngọc

Ông Kim Ngọc (1917- 1979 ) làm Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc từ năm 1958, năm 1968 sáp nhập Vĩnh Phúc với Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú, ông Kim Ngọc lại làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú cho tới năm 1977, đúng 60 tuổi. Và 1978 ông về hưu.

Cuộc đời ông nổi tiếng về “khoán hộ” trong nông nghiệp, tức là khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình, gọi là “khoán hộ”.

Nhờ dũng cảm xé rào của người đứng đầu tỉnh mà dân Vĩnh Phúc bớt đói nghèo. Các tỉnh cũng ngầm học Vĩnh Phúc mà khoán hộ cho dân dễ thở. Nếu không có “khoán chui” của Kim Ngọc, ai dám bảo đảm, thập niên 80 của thế kỷ 20 dân ta không rơi vào thảm họa chết đói hàng loạt. Bởi thời đó, nước ta bị thế giới cấm vận toàn diện. Bạn bè có thể giúp đỡ ít nhiều chỉ còn trông đợi vào Liên Xô. Mà Liên Xô cũng đang khủng hoảng trầm trọng và đang bên bờ vực của sự sụp đổ. Nhờ cải tiến quản lý Hợp tác xã nông nghiệp từ năm 1966, Kim Ngọc đi theo hướng ngược lại của đường lối chỉ đạo mà dân Vĩnh Phú thoát chết đói, nông dân cả nước thoát hiểm. Trung ương tỉnh ngộ, ra nghị quyết 10 về nông nghiệp năm 1988, sau này gọi là “khoán 10”.

Do tháo bỏ được sự kìm hãm của cơ chế quản lý lạc hậu, nên chỉ một năm sau ta không chỉ đủ gạo ăn mà còn lần đầu tiên xuất khẩu 1 triệu tấn gạo. Và vươn lên vị trí nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

Về vấn đề này, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Công thương đã viết: “ Bài học về khoán hộ ở Vĩnh Phú mãi còn giá trị, không phải ở cách cụ thể mà đồng chí Kim Ngọc giải quyết mà là ở chỗ ông đồng cảm sâu sắc trước tình cảnh đói nghèo của người dân, cùng đau nỗi đau của họ, và dám tháo bỏ qui định mà thực tiễn đã chứng tỏ không phù hợp để thúc đẩy sản xuất”.

Như phần trên đã tường giải, tôi đề nghị tỉnh Vĩnh Phúc nên rước 5 vị kể trên để thờ làm phúc thần, trong khu Điện thờ mà ngẫu nhiên tỉnh vừa xây dựng Công viên Văn Miếu.

Các vị kể trên theo thứ tự thời gian từ huyền sử đến trung đại và cận, hiện đại. Họ đủ tư cách không chỉ xứng đáng là thần linh của Vĩnh Phúc mà còn  của cả nước.

Thần thánh là ai? Họ cũng là những con người như chúng ta. Nhưng họ khác chúng ta ở chỗ họ dám dấn thân làm những việc siêu phàm, vì lợi ích của quốc gia và dân tộc, mà người khác không dám làm hoặc không làm nổi.

Những điều tôi trình bày trên, dù thành tâm và có nghĩ suy sau trước, gần xa, nhưng vẫn là ý kiến của một người, chỉ mong cung cấp vài thông tin khiêm tốn cho quí vị lãnh đạo tại địa phương tham khảo, để ra quyết định đúng, quyết định hợp lòng dân.

Cách đây vài chục năm, tôi qua Nghệ An, nhặt được hai câu ca dao mà tôi quí hơn cả nhặt được kim cương. Xin chép lại:

Thương dân dân lập đền thờ

Hại dân dân đái ngập mồ thối xương


Hà Nội 20.10.2016

-----------------------------------------------

* Tham luận tại Hội thảo khoa học "Văn hiến Vĩnh Phúc - Truyền thống và hiện đại"        

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}