Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Người Ái Nghĩa

Bút ký của Thái Chí Thanh | Thứ Sáu, 16/10/2020 16:09 GMT +7

 

 

Trong trại sáng tác văn học ở Tuy Hòa tôi có một kỷ niệm với thơ Nguyễn Giúp rất thú vị. Một lần, trong bữa ăn rất đông vui, anh kể lại những ký ức thời chiến tranh.

Thấy anh hay nhắc đến Ái Nghĩa, tôi chợt nhớ đến một kỷ niệm ngày giải phóng Đà Nẵng, hỏi:

- Nhà thơ ở Ái Nghĩa à?...

- Phải.

- Thế có biết một cô bé tên Hai nhà ngay bến sông Vu Gia ấy không?...

Nguyễn Giúp nhìn tôi, tò mò:

- Đó là nhà chị Hai tôi. Tôi hay sang nhà chị học bài và chơi mà...

Tôi ngắm nhìn nhà thơ đã luốn tuổi đầy vẻ phong trần xứ Quảng và nhớ lại những người tôi đã từng gặp ở thị trấn nhỏ bé ấy...

- Thôi đúng rồi. Tôi đã từng gặp ông vào ngày vừa giải phóng... Hồi ấy ông nhỏ nhỏ, đen đen... Có đúng không?

Giúp đứng dậy nhìn chằm chằm vào tôi. Cả bàn ăn cũng im bặt, như nén thở dõi theo hai chúng tôi. Giúp bỗng lẩm bẩm: "Ủa... Hay quá ha" rồi bắt chặt tay tôi:

- Đúng rồi! Tôi đã gặp anh ở nhà chị Hai. Dù nhìn anh bây giờ chẳng còn một nét nào của ngày đó, nhưng anh kể tôi bỗng nhớ ra. Hay thiệt... Đã bốn lăm năm rồi...

Hồi ức ùa về. Rồi chúng tôi tranh nhau kẻ về một thời hào hùng, sôi động ấy.

...

Thị trấn Ái Nghĩa sau hai ngày giải phóng đã bình lặng, cứ như chiến tranh đã lùi xa. Dân tình rục rịch tìm về nhà cũ, dần ổn định cuộc sống. Lúc đầu tôi thấy háo hức, nhưng lên đến nơi tôi cũng thấy lo lo vì lúc này hầu như không còn một ai là quân mình ở đây nữa, tất cả đã dồn về Đà Nẵng. Dân tình thì hầu như nhà nào cũng có người là lính, không giải phóng thì ngụy quyền, không ít nhà có người chết trận vì đạn giải phóng, sao biết họ sẽ thế nào với mình. Ai gặp tôi cũng chào, vẻ lễ phép nhưng đầy cảnh giác. Tuyệt nhiên tôi không hề thấy bóng dáng một ai mặc quần áo rằn ri của địch, dù rất nhiều người thanh niên hoặc là cởi trần, hoặc áo thường dân. Ai mà chẳng biết họ là tàn quân của địch đang cải trang hòa vào dân chúng. Nhưng thôi, kệ! Tôi tìm ngôi nhà to và có vẻ khá giả ngay bến sông Vu Gia ở cuối thị trấn, xin nghỉ nhờ để tiện đón đoàn thuyền hậu cần từ Thượng Đức về.

Khi nhìn thấy tôi đeo ba lô, khoác khẩu AK báng gập đi vào, cả nhà chạy ra, vẻ đon đả chào đón, nhưng tôi biết họ có vẻ hơi ngại. Sau khi tôi nói lý do muốn ở nhờ một vài hôm thì họ lại tỏ ra rất vui và nhiệt tình như đón khách quý. Gia đình chỉ có ba người, hai ông bà chừng bốn mươi và đứa cô con gái khoảng mười lăm, mười sáu tuổi.

Việc đầu tiên là tôi mượn một cái nong to, viết lên đấy mấy chữ làm hiệu như đã được cấp trên nói rõ trước khi đi, rồi cắm lá cờ giải phóng, dựng sát bờ sông để anh em chạy thuyền đến sẽ cặp vào, chờ xe của đơn vị lên chở về. Khổ nỗi, không rõ thuyền bao giờ sẽ đến, nên tôi cứ thấp thỏm quanh quẩn ở bến sông. Gia đình bố trí cho tôi ngủ phòng riêng khá chu đáo có giường nệm đặt sát cửa sổ nhìn ra bến sông cho dễ quan sát. Nhưng tôi cũng phải cảnh giác đề phòng, đạn lúc nào cũng lên nòng và không khóa an toàn, sẵn sàng ứng phó khi bất trắc. Về khuya, tôi bỏ màn, rải chăn như người đang ngủ trên giường, rồi tắt đèn và nhẹ nhàng rải võng nằm ở góc phòng, đề phòng kẻ nào rình mò, thủ tiêu. Đến bữa, gia đình mời tôi ăn chung rất xôm xả. Mấy bữa liền tôi mang cá hộp và thịt hộp tiêu chuẩn ra góp vào bữa ăn, nhưng gia đình đều không cho mở. Mãi đến một lần, thấy bữa ăn có vẻ đạm bạc, toàn là rau với đậu phụ, tôi bèn mở luôn cả hộp cá và hộp thịt mời mọi người. Chờ mãi cũng không thấy ai động vào đồ hộp làm tôi hơi ngỡ ngàng.

- Sao gia đình không ăn đồ hộp, ngon mà!

Ông bố bảo:

- Anh giải phóng cứ xài tự nhiên nghe, còn nhà tui bữa ni ăn chay.

Quả là tôi không biết, đang sượng hết cả mặt thì ông bố bảo cô con gái:

- Bữa ni con He coi lại bài vở nghe!

- Dạ… Nhưng trường đang nghỉ… không biết sắp tới có…

- Răng không! - Ông bố liếc nhìn tôi rồi quay sang con, nghiêm giọng - Sắp thi tú tài một rồi nghe, không đỗ được học công lập thì nghỉ chứ không có tiền học tư thục mô… Đừng nghĩ mình giỏi mà…

- Đâu có… Cô bé có vẻ bẽn lẽn, nhìn tôi…

Quả thực nghe họ nói chuyện với nhau, chỉ hiểu loãng đoãng vì tiếng địa phương, dù tôi đã ở Quảng Đà đến nửa năm nhưng ít tiếp xúc với dân nên chưa quen.

- Thế He học lớp mấy rồi? Tôi hỏi.

- Dạ… Con học mười một rồi, thưa chú. Cô bé trả lời rồi nhìn tôi, mắt không dấu vẻ kiêu hãnh.

Cơm xong, cô bé ngoan ngoãn ngồi học bài. Bỗng một người con trai dáng gầy gầy, đen đen, kém He chừng một vài tuổi cầm cuốn vở chạy qua. Cậu ta chào tôi có vẻ ngưỡng mộ rồi len lén nhìn khấu súng tôi dựng cạnh ba lô, hỏi:

- Dạ chú, súng ni nổ dữ hơn súng “cực nhanh” hông?

Tôi gật đầu rồi lấy thuốc lá hút, vờ như không để ý nhưng mắt vẫn không bỏ sót hành động nào của cậu bé. Chả biết đâu được, vùng đất vừa giải phóng, mọi chuyện đều có thể xẩy ra.

Thấy cô bé và cậu con trai bắt đầu làm bài, tôi đứng sát cửa sổ, ngóng xuống bến. Chợt nghe tiếng hai đứa trẻ tranh luận với nhau về một bài toán, làm tôi chú ý. Tôi tò mò đứng gần xem. Đó là bài toán phương trình bậc hai mà hồi đang học, tôi đã giải rất nhiều. Bài toán không khó, hai đứa trẻ lập phương trình rồi tìm nghiệm mọi cách dễ dàng. Tôi chăm chú xem rồi gật gù. Cậu con trai thấy vậy, hỏi:

- Chú cũng biết giải à?

- Biết... Chú con biết cách giải đơn giản hơn...

- Thiệt há? Cô bé tỏ ra ngạc nhiên, đưa tôi tập giấy nháp - Chú bày cho tụi con đi...

Tôi không dùng đến giấy, chỉ bảo các cháu cách giải khác, đơn giản hơn. Hai chấu làm theo rồi nhìn tôi vẻ ngạc nhiên. Cậu con trai hỏi:

- Chú ơi, chú học lớp mấy rồi?

Tôi bảo là học dở lớp mười rồi đi bộ đội. Hết chiến tranh chú lại đi học như các cháu thôi. Tôi cầm quyển vở của He xem rồi không nhịn được cười. Nhãn vở đề Trần Thị Hai, lớp 11A Trường THPT Đại Lộc. Thế mà tôi nghe người ta gọi là He, tôi cũng gọi He, vậy mà nó cùng dạ hoài. Đúng là ngôn ngữ bất đồng.

- Ủa. Có chuyện chi chú?

Tôi giải thích làm hai đứa trẻ cũng bật cười. Thấy không khí thân mật, cậu bé bảo tôi:

- Chú... chú có đánh nhau trên Thượng Đức hông ?...

Tôi gật đầu làm cậu bé càng háo hức, hai mắt long lanh nhìn tôi:

- Rứa... mà chú còn sống được. Giỏi thiệt... Cháu thấy hồi mấy tháng trước bên Cộng hòa đưa rõ nhiều lính dù, thiết giáp chạy rần rần ngày đêm, suốt ngày đêm ở trển không ngớt tiếng bom đạn... Cháu nghĩ răng mà các chú sống được... Kỳ thật hé?

Thấy hai cháu nhỏ đang ngắm nhìn mình vẻ ngưỡng mộ, khâm phục, tôi thấy lòng mình vui vui pha chút tự hào:

- Còn nhiều chuyện kỳ hơn mấy nhỏ à... Nhưng bây giờ chú chợp mắt chút xíu, hai đứa khi nghe tiếng xuồng máy cặp bến thức chú dậy nghe.

- Dạ! Hai đứa trẻ cùng đáp.

Tôi đã ríu mắt nên vừa đặt lưng xuống giường là kéo luôn một mạch. Khi tỉnh dậy, tôi chạy vội ra bến sông, thấy cả cây cờ và cái nong bị gió thổi đổ từ bao giờ. Tôi hốt hoảng hỏi mọi người xung quanh có ai thấy một đoàn thuyền cắm cờ giải phóng chạy qua không? Người bảo không, người bảo có, có người còn bảo có đoàn thuyền máy chở bộ đội, cắm cờ mới chạy qua. Nghĩ đó là đoàn thuyền của đơn vị nên tôi lo quá. Làm sao bây giờ? Tôi phải đuổi kịp đoàn thuyền mới được. Tôi định chạy bộ, nhưng gia đình cho tôi mượn cái xe đạp, đạp theo đường 14 B dọc sông, may ra mới kịp.

Tôi khoác khẩu AK vào người, phi lên xe, đạp hộc tốc theo con đường ven sông Vu Gia. Sau những ngày vừa giải phóng, trên đường bộ, dưới đường sông chộn rộn người, xe, thuyền xuôi ngược. Tôi đạp được khoảng dăm km thì oái oăm thay, con đường tách xa dần con sông. Đành dắt xe đi xuống dọc theo bờ sông để còn vừa hỏi thăm, vừa đuổi theo. Gần đến bờ sông, tôi thấy một toán dăm người, lưng trần, quần nhà binh. Tôi đoán họ là tàn quân đang chạy ẩn náu, nhưng tôi cứ thản nhiên, như không quan tâm đến họ là ai, cũng không hề có cử chỉ sẵn sàng phòng vệ, rồi chủ động gọi to, vẻ thân thiện: “Các anh ơi… Cho hỏi với, có thấy đoàn thuyền cắm cờ xanh đỏ chạy xuôi theo sông không?”. Họ có vẻ ngạc nhiên nhìn chằm chằm vào tôi, rồi lắc đầu, bảo họ không để ý… Sau đó, họ nhanh chóng lẩn đi, nhưng tôi biết họ đang dè chừng và theo dõi mình...

Trời đã về chiều, bờ sông tím dần, cảnh người, thuyền cũng thưa dần. Bấy giờ, tôi rất hoang mang vì càng đi, bờ sông càng lầy lội, không thể dắt xe đạp đi tiếp được nữa, đành vác lên vai, len lủi đi trong cây cối um tùm. Chợt nghe tiếng lội bùn lục xục phía sau. Tôi vờ làm động tác gỡ một cành cây mắc vào bi đan xe đạp để quay lại quan sát, thoáng thấy mấy bóng người ẩn hiện trong các lùm cây phía sau. Một cảm giác rùng mình làm tôi ớn lạnh. Đã thành một phản xạ của người lính trận, trong những lúc như vậy, tôi lại tự trấn tĩnh để xử ý tốt nhất, nếu không muốn mất mạng. Tôi biết toán tàn binh vẫn đang bám theo, nếu tôi có hành động gì chống lại họ thì sẽ tấn công toi ngay, nên tôi vẫn để nguyên khẩu súng AK sau lưng, hai tay vẫn giữ chiếc xe đạp trên vai và bước nhanh ra bờ sông. May quá, vừa thấy một chiếc thuyền gắn máy đang chạy giữa sông, tôi gọi to:

- Cho đi nhờ sang sông với… Cho đi với...

Người lái thuyền cho thuyền áp vào bờ, và tôi được họ chở sang bờ bên kia...

Sang bờ sông bên kia tôi thấy tự tin hơn vì có nhiều người và xe máy, xe ô tô chạy trên con đường gần đó. Tôi lóc cóc dắt xe đạp qua nhiều căn nhà nhỏ, nhiều lán ven bờ trong con mắt tò mò của nhiều người. Buồn và lo lắng vì không thấy đoàn thuyền của đơn vị nhưng tôi không thể tiếp tục được nữa, đành tìm đường trở lại Ái Nghĩa.

Chợt thấy một cụ già ngồi lặng ngắt như chiếc bóng trong túp lều dựng sát bờ sông, tôi dắt xe đến hỏi đường. Bà cụ cứ nhìn tôi trân trân rồi tỏ ra sợ sệt, bỏ đi. Bỗng một cô gái ngồi trên chiếc hon đa nữ, chạy qua. Tôi vẫy cô gái dừng lại, hỏi:

- Em ơi... Cho anh hỏi nhờ, về Ái Nghĩa đường nào?

Cô gái xuống xe, nhìn tôi, vẻ ngạc nhiên:

- Ủa... Mà răng chú giải phóng lại ở đây?

- Tôi có việc .. .

Không để tôi nói hết, cô gái chỉ lên mấy căn lán nhỏ, nơi bà cụ đi vào:

- Ở đây lộn xộn lắm đó chú. Con cũng về Ái Nghĩa nè… Chú dắt xe lên đường lớn đi... Con chỉ cho.

Cô gái rồ ga, cho xa chạy lên trước, đứng chờ tôi. Tôi lên đến nơi, tấp xe sang vệ đường, cạnh xe cô gái.

Bây giờ, tôi mới nhìn kỹ cô gái, khá xinh và trẻ, bằng tuổi tôi là cùng. Cô gái hỏi:

- Chú giải phóng về nhà ai ở Ái Nghĩa zậy. Đưa con dìu về luôn.

Thấy tôi có vẻ ngại, cô gái cười rất tươi:

- Chú hổng có ngại nghen! Xa lắm đó...

Tôi gật đầu đồng ý, nhưng lúng túng, không biết xử lý chiếc xe đạp thế nào cho tiện.

- Có khi chú bỏ xe lại, ngồi sau để con kèm về...

- Không được, xe đạp tôi mượn của dân, ai lại...

- Ui chao, cái xe cũ rồi mà chú... Mà chú là giải thì sợ chi... Hay con gửi nhà quen ròi lấy sau, chú!

- Cũng không được... Của dân là của dân...

- Kỳ cục ha...

Tôi và cô gái loay hoay không biết nên đi như thế nào cho thuận lợi. Chợt tôi có sáng kiến, cột dây giun vào đuôi xe máy, làm “rơ mooc” của cô. Cô ta mỉm cười và mở dây giun đang quấn ở đuôi xe đưa cho tôi, khẽ nói: “ngộ thiệt ha”. Sau khi tôi buộc chắc chắn hai đầu dây, cô gái bật đèn rồi rồ ga, phóng đi.

Đoạn đầu, đường dốc và hẹp nên cô gái chạy chậm, tôi ngồi trên xe đạp đều khiển không khó lắm. Nhưng từ lúc đi qua thị trấn Tuý Loan, cô chạy nhanh dần, làm cho sợi dây giun cứ căng ra, có lúc chỉ như sợi chỉ... Tôi có cảm tưởng như sợi dây sắp đứt phựt, bắn vào mặt tôi nên rợn người. Lại những lúc cô phanh gấp, tôi bị động không kịp hãm, suýt đâm vào đôi xe máy, hết cả hồn. Thấy không ổn, tôi kêu to:

- Dừng lại... dừng lại...

Phải mấy lần tôi gọi, cô gái mới nghe rõ, dừng xe lại.

- Hay là em chỉ đường để anh tự đi. Chứ kiểu này kinh lắm...

Cô gái chợt hiểu nỗi kinh hoàng của tôi, bật cười, lộ hàm răng trắng láp lóa trong ánh xe ngược chiều, rất đẹp.

Cô bảo tôi tháo dây giun rồi bắt tôi vác xe lên vai, ngồi cẩn thận rồi mới cho xe chạy. Lúc đầu, tôi rất căng thẳng vì xe đạp trên vai tôi cứ loàng ngoàng, lại vướng khẩu súng AK khoác chéo sau lưng, rất dễ va vào những xe ngược chiều. Nhưng chỉ lát sau, tôi đã lựa được thế giữ thuận nhất, nên khá dễ chịu. Lần đầu tiên được ngồi sau xe máy của một cô gái xinh đẹp, mùi thơm dìu dịu của nước hoa, của son phấn làm tôi ngây ngây người với cảm giác rất thú vị. Nhất là cảm giác tuyệt vời bởi mái tóc uốn bồng bềnh của cô ta bay ngược về sau, như xoa như vuốt vào mặt tôi... Rồi khi cô thắng xe làm cả người tôi dồn lên, áp sát vào cô ta, làm tôi nóng ran, ngỡ như có luồng điện chạy trong người... Đang được thưởng thức cảm xúc mê mẩn mà đời lính tôi lần đầu có được thì chiếc ghi đông xe đạp như trêu tức tôi, bỗng gạt tóc cô bé khỏi mặt tôi sau cú xóc ổ gà... Tôi muốn thay tư thế ngồi, bẻ lại chiếc ghi đông xe đạp trở lại như cũ để được sát vào người cô hơn, được tóc cô lại vờn vờn vào mắt, nhưng lại sợ làm cho cô gái khó điều khiển, đành ngồi yên... Không hiểu cô bé có cảm nhận được cảm xúc của tôi không mà điều khiển xe máy rất điệu nghệ, dù lúc tránh xe hay lên xuống ổ gà cũng không dừng lại... Tưởng là đường dài, hóa ra chỉ một lát sau, chúng tôi đã vè đến Ái Nghĩa.

Cô gái định đưa tôi về tận nhà cô bé Hai, rồi mời tôi qua thăm nhà... Tôi đang hồi hộp về việc sẽ làm quen cô gái mà trong mắt tôi lúc đó rất đáng yêu thì thấy bến sông ồn ã cảnh người bốc vác. Thì ra, đoàn thuyện đi chậm, nên mãi gần tối mới tới nơi. Tôi mừng đến phát khóc. Chẳng kịp giữa lời hứa với cô gái tốt bụng, thậm chí quên cả hỏi tên nhau, lao vào cùng đồng đội chuyển quân trang, hậu cần lên xe, chia tay vội vàng với gia đình cháu Hai rồi theo xe về Đà Nẵng.

*

Bữa cơm tối của trại sáng tác kéo dài đến khi tôi kể xong những kỷ niệm ngày giải phóng Đà Nẵng, chín giờ tối. Nhà thơ Nguyễn Giúp cứ nhìn tôi mãi, như cố tìm một nét nào đó của "chú giải phóng" gặp mình năm xưa.

- Vậy đã có lúc nào anh trở lại những vùng đầy kỷ niệm đó chưa?

Nguyễn Giúp hỏi tôi. Tôi thành thực:

- Chưa ông ạ! Khổ thế đấy! Cứ tưởng sau chiến tranh là mình sẽ thăm lại những kỷ niệm xưa, thế mà chẳng hiểu sao, đến bây giờ vẫn chưa...

Nhà thơ Nguyễn Giúp lấy điện thoại:

- Tôi gọi chị Hai nhé, chị ấy lấy chồng gần, vẫn ở Ái Nghĩa...

Không hiểu sao, tôi lại thấy hồi hộp, nên bảo:

- Từ từ đã... Hay là để dịp tới, tôi sẽ lên thăm ông và chị ta luôn thể. Để bất ngờ xem chị ấy còn nhận ra không?

Nguyễn Giúp gật đầu, hẹn tôi ngày về Ái Nghĩa quê anh...

Tôi nắm chặt tay nhà thơ, lòng lại bồi hồi hình dung ra cô gái ngày nào sau gần nửa thế kỷ gặp lại. Và biết đâu, cơ duyên lại gặp cô gái đi xe hon đa lần ấy thì sao... Cuộc đời chẳng biết đâu được. Nhưng mà đã gần nửa thế kỷ rồi, cô ấy cũng như tôi, đã nên ông, nên bà cả rồi... Chỉ có kỷ niệm là đẹp mãi, trẻ mãi trong tôi.

Trại viết Phú Yên, tháng 5 năm 2020 -TCT - Tạp chí VNQĐ số cuối tháng 10/2020

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}