Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Người Thái ngày xưa yêu thế nào? Đặc sắc của “Tiễn dặn người yêu”, nghệ thuật miêu tả tâm trạng

Vũ Bình Lục | Thứ Bảy, 13/01/2018 21:08 GMT +7

SỐNG CHỤ SON SAO (Tiễn dặn người yêu) là một truyện thơ đặc sắc của người Thái Tây Bắc. Đối với người Thái, nó được xem là một “quyển sách quý nhất trong mọi quyển sách quý”. Nghĩa là nó đứng vào hàng số MỘT, hàng đầu theo nhận thức, theo quan niệm và tình cảm của người Thái.

Tiếc rằng lâu nay nó không được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, ảnh hưởng của nó đối với người Kinh và các dân tộc ít người khác, vẫn còn rất hạn chế. Gần đây, các nhà làm sách giáo khoa mới chọn một đoạn, có lẽ là tiêu biểu hơn cả về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm độc đáo này, để giới thiệu cho học sinh lớp 10 bậc Trung học phổ thông (THPT) toàn quốc.

TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU gồm có 1846 câu thơ, bằng hơn một nửa TRUYỆN KIỀU của Nguyễn Du. Nội dung mà tác phẩm bao quát cũng chưa thật rộng lớn. Nhưng nó là một thiên tình sử vô cùng bi thương của một đôi trai gái người Thái Tây Bắc trong xã hội phong kiến cũ kỹ đã xa lắm rồi. Nhân vật trong truyện cũng không nhiều. Sự kiện, tình tiết cũng không dày đặc. Cốt truyện giản dị và kết thúc có hậu.

Vậy, tại sao TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU lại có sức sống mạnh mẽ trong đời sống tâm hồn, tình cảm của đồng bào Thái đến thế ? Xin nhắc lại rằng, đây là một quyển sách “quý nhất trong tất cả các quyển sách quý” cơ mà ! Người Thái Tây Bắc lại bảo rằng, đọc SỐNG CHỤ SON SAO người “không biết hát cũng phải biết hát” kia mà !

Như thế, cái chất “ma túy” mê hoặc người ta là ở cốt truyện lâm ly, hay là ở cái màu sắc trữ tình đằm thắm của nghệ thuật thơ ca ? Có lẽ là cả hai vậy !

Đoạn lược trích ở sách giáo khoa lớp 10 THPT, theo tôi, thành công trước hết về phương diện nghệ thuật là ở diễn biến hợp lý của tâm trạng nhân vật trữ tình chủ thế, cô gái Thái trẻ trung xinh đẹp yêu đời, mà đa đoan lắm nỗi thác ghềnh.

Mở đầu đoạn lược trích, cô gái kể rằng:

Mẹ cha ưng gả khi em còn trên nương,

Khi em đang ngoài ruộng…

Bản thân lời kể này của cô gái, khiến ta có thể nghĩ ngay rằng, đó chính là nguồn gốc, là nguyên nhân căn bản của thiên tình sử đầy bi thương và uất hận. Nói cách khác, chính nó là hậu quả bi đát của một mối chung tình. Ở đây, thấy rõ quyền lực tối cao, có tính quyết định của cha mẹ đối với cuộc đời tình duyên của cô gái, kiểu như “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”, chả khác gì tập quán của người Kinh trong xã hội phong kiến mà những ràng buộc Nho giáo đã thấm sâu vào đời sống mọi tầng lớp xã hội. Nghĩa là cô gái Thái trong truyện không thể có quyền tự quyết trong vấn đề hôn nhân, không có quyền lựa chọn người mình yêu. Cô chỉ có một cái quyền duy nhất là tuân theo “ý chỉ” của cha mẹ. Mọi toan tính của việc dựng vợ gả chồng cho cô, mẹ cha đã sắp xếp cả rồi, ngay khi cô “còn ở trên nương”, hay “đang ngoài ruộng”…

Chưa rõ ảnh hưởng của Nho giáo đối với người Thái Tây Bắc sâu rộng đến đâmức nào, nhưng dẫu sao thì cứ xem đây là một tập tục có từ xa xưa của đồng bào Thái. Cũng như người Kinh, cha mẹ có quyền quyết định cuộc sống tương lai của con cái trong việc dựng vợ gả chồng. Và nếu như đó là một quyết định sáng suốt, thì có lẽ không còn gì phải bận tâm thêm nữa. Nhưng mà…

Chuyện kể rằng cha mẹ cô gái nhất định không chịu gả con gái cho người cô yêu, mặc dù đã gắn bó với cô từ hồi còn thơ bé, chỉ vì một lý do thật đơn giản: chàng trai kia quá nghèo. Thế thôi ! Cuộc sống “một mái nhà tranh hai trái tim vàng”, theo cha mẹ cô gái, nó chỉ đơn thuần là một ảo tưởng lãng mạn, hoàn toàn không thực tế chút nào chăng ? Chẳng thế mà cha mẹ cô đã ép gả cô cho một người con trai nhà giàu, mặc dù cô không hề yêu người đó. Bởi vậy, làm sao mà cô gái không đau khổ, không thất vọng buồn chán, khi cô buộc phải tuân theo “kịch bản” duy lý của cha mẹ ?

Lại cũng theo tập tục của người Thái, mặc dù đã lấy chồng, nhưng cô gái còn được ở nhà với cha mẹ ba năm, là vì người chồng của cô vẫn còn phải “ở rể ngoài” theo lệ. Chỉ sau ba năm, nếu khong có gì thay đổi, cô gái mới chính thức về nhà chồng. Và đấy cũng chính là khoảng thời gian tạo sinh vấn đề. Nghĩa là cô gái còn được ba năm để nuôi hy vọng, rằng người yêu của cô sẽ may mắn kiếm được tiền, sẽ cứu cô thoát khỏi hoàn cảnh đau khổ hiện tại, sẽ đem lại hạnh phúc thực sự cho cô. Cho nên, trong lòng cô lúc nào cũng có “vía” của người cô yêu, có hình ảnh thân thương của người cô yêu. Hình như, tất cả thiên nhiên, tạo vật xung quanh cô đều “có vía anh yêu”, đều thấy thấp thoáng bóng hình của người con trai mà cô yêu quý chân tình. Đến như “mặt trời” mãi trên cao cũng thấy có hình bóng anh yêu, đúng hơn, đấy chính là hình bóng anh yêu, là “vía anh yêu”. Hình ảnh MẶT TRỜI ở đây được cô gái nhắc đi nhắc lại tới hàng chục lần, ở nhiều vị trí, nhiều dạng thức khác nhau và cuối cùng nó “khuất mây mờ, sập tối”, theo sự hành tiến lui dần của thời gian, phía phía tối tăm, về phía lụi tàn…

Rõ ràng, toàn bộ tâm trí của cô gái là để nhớ đến người yêu, là để được tận hưởng niềm hạnh phúc lứa đôi trong tưởng tượng. Mặt trời đối với cô sao mà gân gũi, sao mà thân thương đến thế ! Nó “quấn ngọn giang”, nó “quấn ngọn tre”, nhưng nó chỉ gợi lên những khoảnh khắc gắn bó vậy thôi, rồi nó lại như cái bóng ma chơi cứ đùa giỡn, “không gọi”, “không chờ”. Cuối cùng thì nó cũng “khuất mây mờ”, chìm dần vào đêm tối mênh mông tuyệt vọng.

Và đến khi chẳng còn mặt trời để mà nhìn ngắm, để mà tâm sự, thì hình như niềm say mê hạnh phúc của cô gái lại được chuyển hướng sang một hình ảnh khác, gần gũi hơn, đó chính là những bó củi dâu do chính tay cô “tuốt dao ra chặt”. Cô bó củi cho thật nhiều, “cho bõ gánh”. Không phải chỉ một bó, mà hai bó. Hai bó chưa đủ, cô “kiếm ba bó”. Hai bó giành cho mẹ yêu nấu rượu, ninh xôi, còn bó thứ ba là để giành cho việc “nhen lửa sàn hoa”:

Lửa sàn hoa để bạn trai hơ áo,

Em chẻ đóm chờ mồi thuốc anh yêu…

Như vậy, bó củi thứ ba là để cô gái trở về với những kỷ niệm của tuổi xuân tràn đầy hạnh phúc trong trẻo. Nó cũng thật giản dị. Giản dị đến mức mộc mạc, bởi tâm hồn cô rất chân thật, trái tim cô rung động chân thành. Và cô gọi “vía” về như gọi “anh yêu” về để cùng sống những ngày hạnh phúc dẫu đơn sơ mà đầm ấm nghĩa tình. Cô gọi “vía” về nhà, “về với cây sào giang vắt khăn”, với “cây sào lăn vắt áo”, “về giã gạo thêm cơm bữa sáng”, về “nằm đệm nẹp đen, nẹp đỏ”. Rồi thì cô tưởng tượng ra tất cả viễn cảnh cuộc sum họp và cuộc sống đơn sơ của người lao động bình dân mà ấm áp tình chồng vợ.

Hỡi vía anh yêu, về nhà theo nhau,

Em khoác lẵng, em gánh củi

Vừa đeo rựa, vừa xách bầu…

Cuộc sống có thể gian khổ vất vả thật đấy, nhưng em sẵn sàng chịu đựng tất cả, làm lụng tất cả, gánh vác tất cả, miễn là được sống với anh, miễn là có anh bên cạnh. Thế cũng là đủ lắm rồi, chứ có cầu chi giàu sang tiền nhiều của lắm !

Nhưng mà trớ trêu thay, đó mới chỉ là khát vọng. Cuộc sống lứa đôi hạnh phúc do chính cô tưởng tượng ra, nó bỗng vụt tan biến đi, khi cô vừa bước chân về tới bản, tới nhà. Trước mắt cô thấy bày ra la liệt những “gói dong chen gói cá”, “gói dong kín gói gà”, “gói trầu không bắt chéo”, “gói dong dầy gói xôi”… và cả “thuốc lào khô gói bằng lá đề” nữa chứ. Nghĩa là đầy đủ những lễ vật xin cưới của nhà trai đang bày ra ngổn ngang trước mắt.

Cô gái bỗng chợt nhận ra rằng: Tất cả đã kết thúc thật rồi ! Giấc mộng hạnh phúc của cô đã hoàn toàn tiêu tan. Cô dường như không thể làm chủ được mình nữa, trở nên thất thần, hoảng loạn, “nát ruột nát gan” vì đau khổ, tuyệt vọng.

Em lập cập chạy ra sàn

Mâm cơm chiều dọn vội

Nghĩ đến anh mà nát ruột gan

Như nặn nến sáp không nên

Như ôm cây to không xuể…

Rồi thì em lại “lập cập chạy vào đằng quản” để cầu xin bác gái bác trai cứu giúp. Cũng không được. Cô gào lên như con thú trúng thương:

Giúp tôi với, hỡi chị em dâu rể trong nhà !

Nhưng mà vẫn không có ai trả lời, không có kết quả. Tất cả mọi người đều từ chối giúp cô. Đến như con chim cu trên ngọn cây cũng khuyên cô nên chấp nhận sự sắp đặt của số phận:

Con gái thành nàng dâu

Bố gả chồng cho, đừng chối cô à !

Thế là chấm hết. Ảo mộng, đúng hơn la niềm hy vọng cuối cùng của cô cũng đã tiêu tan, chỉ còn lại một hiện thực vô cùng cay đắng: cô sắp phải làm vợ một người đàn ông mà cô không yêu. Cô bất lực, chới với và sụp đổ hoàn toàn:

Dầu van xin, cha cũng không buông, không thả,

Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa

Bằng con chẫu chuộc thôi !

Có thể nói rằng, phần cuối của đoạn thơ như một cao trào, bi kịch tâm trạng được đẩy lên đến mức đỉnh điểm. Toàn cảnh là một sự đối lập, đối lập đến nghiệt ngã. Không gian rộng lớn dường như rợn ngợp. Những người thân yêu gần gũi trong nhà, giờ đây cũng trở nên hoàn toàn xa lạ. Cô gái như một cái bóng yếu ớt, xiêu vẹo, nhỏ bé vô cùng giữa bao la lạnh nhạt. Cô như một con chim nhỏ trúng thương, bị dồn đến chân tường, không có lối thoát. Con chim nhỏ ấy cố gào lên thảm thiết, cố vùng vẫy mong thoát khỏi định mệnh, cuối cùng cũng đành phải gục ngã một cách thảm thương…

Đặc sắc nhất của đoạn thơ là ở nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật cô gái. Khi cảm thấy mình sắp mất tất cả, sắp rơi vào bi kịch, người đầu tiên mà cô gái nghĩ đến, chính là người yêu của cô, không biết còn đang vất vưởng ở nơi nào, xa thăm thẳm, đến nỗi:

Em lập cập chạy ra sàn

Mâm cơm chiều dọn vội,

Nghĩ đến anh mà nát ruột gan !

Tâm trạng của cô gái trong TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU được tác giả miêu tả rất chân thực và cảm động. Cô thất thần, hoảng loạn, run rẩy, chân chạy đấy, tay vẫn làm đấy, nhưng quả thực là cô không còn hồn vía nào nữa. Bụng cô lúc này chỉ còn biết nghĩ đến người yêu, thương cho phận mình thì ít, mà thương xót cho người yêu thì nhiều, cay đắng đến nát cả ruột gan…

Chi tiết này khiến ta liên tưởng đến nàng Kiều của Nguyễn Du. Khi Kiều biết rằng mình sẽ phải bán mình chuộc cha, nàng đã kêu lên vô cùng thảm thiết:

Ôi Kim lang, hỡi Kim Lang,

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !

Có sự đồng điệu của những mối tình rơi vào bi kịch. Có sự đồng vọng của những tiếng kêu thống thiết của thân phận những người đàn bà, ở mọi thời đại, ở mọi phương trời, khiến người đọc không thể không thầm rơi nước mắt xót thương. Cô gái Thái và nàng Kiều có chỗ giống nhau là ở nỗi đau, là ở tâm trạng mất mát không phương cứu chữa, nhưng hoàn cảnh mỗi người thì có khác. Kiều tự nguyện bán mình để chuộc cha, chấp nhận hy sinh, mặc dù đó là sự hy sinh vô cùng đau đớn. Cô gái Thái thì ngược lại, nàng bị cha mẹ ép buộc phải lấy người mình không yêu. Những câu thơ trong TRUYỆN KIỀU thấm đẫm nước mắt pha máu của Kiều, ngôn ngữ thơ nhuần nhuyễn và sang trọng, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật thơ ca tiếng Việt. Những câu thơ trong TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU của người Thái Tây Bắc mộc mạc, giản dị, bởi nó là cảm nhận của người Thái, là bản sắc cuộc sống tâm hồn của người Thái. Cũng có thể bản dịch của Học Phi chưa thể chuyển tải hết được cái hay cái đẹp của nguyên tác chăng ? Nhưng dẫu sao thì nỗi đau của con người ở dưới gầm trời này, đâu mà chẳng giống nhau ?

TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU sở dĩ có được sức sống bền bỉ và mãnh liệt như thế, được người Thái quý yêu trân trọng như thế, phải chăng nó chính là nỗi buồn của con người, khát vọng của con người kết tinh thành nghệ thuật, thành văn hóa người, thấm đẫm tinh thần nhân văn đẹp đẽ?

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}