Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Nguyễn Ngọc Hưng với "Lục bát rời"

Tuệ Mỹ | Thứ Sáu, 18/11/2016 16:15 GMT +7

Nguyễn Ngọc Hưng  sinh năm 1960, là tác giả của nhiều tập thơ đã được xuất hiện tại Việt Nam. Anh được đánh giá là “một hồn thơ lạc quan, bởi anh đã dũng cảm vượt lên số phận”, là một người biết “vịn  câu thơ đứng dậy, để sống một cách tử tế”.


LỤC BÁT RỜI

Nửa đêm
Ếch hát gọi tình
Dế kêu tìm bạn

Một mình
Nửa đêm...

Có người chăn ấm gối êm
Có người mây lạnh mưa rêm buốt hồn

Mùa không "thực" lấy chi "phồn"
Gấu mút tay gấu
Mình hôn tay mình

Thoắt ầm ĩ thoắt lặng thinh
Dế gặp bạn
Ếch gặp tình

Gặp ai ?

Gió khuya hiu hắt thở dài
Trăng vàng huyễn mộng "gấu nhai" mất rồi !

 

Nguyễn Ngọc Hưng

( Rút từ tập thơ "Bài ca con dế lửa"- 2012)

Nguyễn Ngọc Hưng  sinh năm 1960, là tác giả của nhiều tập thơ đã được xuất hiện tại Việt Nam. Anh được đánh giá là “một hồn thơ lạc quan, bởi anh đã dũng cảm vượt lên số phận”, là một người biết “vịn  câu thơ đứng dậy, để sống một cách tử tế”.

 

Lời bình của Tuệ Mỹ

 

 Đến với thơ đương đại Việt Nam, người đọc chắc không xa lạ với gương mặt nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng. Anh là nhà thơ có cuộc đời bất hạnh. Căn bệnh hiểm nghèo đã buộc  anh vào giường bệnh nhưng anh đã tự "đứng" lên trên đôi chân bại liệt của mình. Bóng dáng cuộc đời anh cũng là đề tài thường thấy trong thơ anh. "Lục bát rời" (rút từ tập thơ"Bài ca con dế lửa")  là một bài thơ hay Nguyễn Ngọc Hưng viết về mình.

 

 "Lục bát rời" thuộc thể thơ lục bát truyền thống nhưng được “làm mới” bằng cách ngắt câu, vắt dòng tùy thuộc vào dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Hai câu lục bát mở đầu bài thơ được tác giả làm "rời" thành hai khổ thơ:

 

                                   Nửa đêm

                                   Ếch hát gọi tình

                                   Dế kêu tìm bạn

 

                                   Một mình

                                   Nửa đêm…

 

"Nửa đêm" là thời điểm đêm sâu, thanh vắng. Vũ trụ đi vào ngơi nghỉ, con người cũng chìm vào giấc ngủ say.Thế nhưng "nửa đêm" mà vẫn có người (nhân vật trữ tình - nhà thơ) thao thức lắng lòng nghe thế giới ngoài kia: "Ếch hát gọi tình/Dế kêu tìm bạn". Thì ra lúc nửa đêm, ngoài kia, sự sống vẫn rạo rực sinh sôi. Tiếng "gọi tình", "tìm bạn" của loài vật rộn ràng lúc nửa đêm đã khiến cho con người cảm thấy "Một mình / Nửa đêm...". "Một mình / Nửa đêm" là bốn tiếng cuối của câu bát được tách "rời" làm thành một khổ thơ gồm hai dòng, mỗi dòng thơ chỉ có một từ . "Một mình" đã là cô đơn lắm rồi, lại nằm trơ trọi trên một dòng thơ nữa thì nỗi cô đơn kia như nhân lên gấp bội phần.Thật là tận cùng cô đơn !. "Nửa đêm" cuối câu bát không giống "nửa đêm" đầu câu lục. Nếu “Nửa đêm" câu lục thông tin về thời gian thì "Nửa đêm" câu bát thông tin về tâm trạng. Tâm trạng của một con người đang gặm nhắm nỗi cô đơn, lại càng thấy xót xa, cay đắng hơn khi nghe tiếng vọng "gọi tình", "tìm bạn" ngoài kia lúc nửa đêm. Dùng từ chỉ thời gian để gọi tên tâm trạng, đó là cái tài của thi sỹ. Tâm trạng ấy cứ đeo mang, vò xé lòng người. Dấu chấm lửng (...) đứng sau "nửa đêm" cho ta hiểu thêm về điều này. Cùng một thời gian "nửa đêm" nhưng không gian lại đối lập. Bên ngoài loài vật "gọi tình", "tìm bạn" sẵn sàng cho cuộc ái ân còn bên trong phòng con người vẫn "một mình". Niềm u uất, xót tủi của con người như dâng lên tột đỉnh khi đặt trong tình huống này.

 

 Một mình trong đêm thâu, trong nỗi niềm xót tủi, nhà thơ suy ngẫm về sự bất công của tạo hóa:

 

Có người nệm ấm chăn êm

Có người mây lạnh mưa rêm buốt hồn

 

"Có người mây lạnh mưa rêm buốt hồn" không ai khác chính là nhà thơ. Nói về cảm nhận cái lạnh đêm mưa,người đọc lại nhớ đến câu thơ của Huy Cận:

 

Đêm mưa làm nhớ không gian

Làm run thêm lạnh nỗi hàn bao la

(Buồn đêm mưa)

 

Vì mang nỗi khắc khoải không gian nên "nỗi hàn" của Huy Cận cũng "bao la" lan tỏa. Còn cái lạnh của Nguyễn Ngọc Hưng không thế, nó tụ đọng lại thành khối khiến cho con người phải "rêm buốt hồn". "Rêm buốt", tột cùng nhức nhối, tột cùng tái tê! Hai câu lục bát này không bị tách rời, vẫn vẹn nguyên tạo thành thế đối lập. Có người hạnh phúc ấm êm trong yêu thương chồng vợ.Trong khi đó, có người phải chịu nỗi bất hạnh đau tê sống trong cảnh "một mình". Càng nghĩ, kẻ cô đơn càng thấy lòng mình thêm tê tái.

“Rêm buốt hồn" cứ thế tiếp diễn :

 Mùa không "thực"  lấy chi  "phồn"

Gấu mút tay gấu

Mình hôn tay mình

 

"Phồn thực" - nhục cảm! Đã là người, chắc ai cũng có xúc cảm phồn thực. Mà nói đến phồn thực thì phải có sự hòa hợp Âm Dương. Đằng này chỉ có "Gấu mút tay gấu/ Mình hôn tay mình" nên: Mùa không "thực" lấy chi "phồn". Thật là chua xót!

 

 Và đỉnh cao của nỗi chua xót là đây:

 

                        Thoắt ầm ĩ thoắt lặng thinh

                        Dế gặp bạn

                        Ếch gặp tình

 

                        Gặp ai ?

 

Một cuộc giao hoan của loài vật đang diễn ra bên ngoài kia. Rất phồn thực!  Mặc dù chỉ cảm nhận bằng thính giác "Thoắt ầm ĩ thoắt lặng thinh", mặc dù chỉ "nghe thấy" nhưng trong ẩn thức của nhà thơ như "nhìn thấy" cái phồn thực bên ngoài kia vậy. Để rồi trong tiềm thức vụt bật ra câu hỏi "Gặp ai?". Đó là hai tiếng cuối của câu bát được tách "rời" ra đứng riêng trên một dòng thơ và cũng là một khổ thơ để tạo thành điểm nhấn cho toàn bài thơ.

 

 Phải, một khổ thơ mà chỉ chứa có một câu hỏi "Gặp ai?". Một câu hỏi lớn lặng trong tiềm thức bấy lâu đến lúc này được đánh thức bởi không khí ái ân bên ngoài. "Gặp ai?", có phải nhà thơ đang hỏi mình? Có lẽ thế. Vì đây là lời độc thoại nội tâm. Nội tâm của một con người luôn mang niềm u uất về thân phận. Hay là anh hỏi Trời, hỏi vào định mệnh? Một thứ định mệnh trêu ngươi đã buộc đời anh vào một không gian nghiệt ngã : giường bệnh. Vậy nên, với anh, chuyện đi "gặp bạn", "gặp tình" chỉ là chuyện của giấc mơ. Vây nên,"Gặp ai ?", với anh mãi mãi là câu hỏi không lời đáp. Anh quả là con người bất hạnh. Không chỉ bất hạnh về mặt thể chất (bị bại liệt) mà còn bất hạnh về tinh thần (không đi tìm được bạn tình để xây dựng hạnh phúc lứa đôi). Bất hạnh trước dẫn đến bất hạnh sau. Bất hạnh nối tiếp bất hạnh. Khổ đau nối tiếp khổ đau. Nhất là bất hạnh về tinh thần không chỉ làm anh đau mà còn làm "rêm buốt hồn" anh nữa. Nỗi đau này như dày vò anh.Trong một số bài thơ khác, Nguyễn Ngọc Hưng cũng đã bộc bạch nỗi niềm này:

 

             -Hạnh phúc là gì ở đâu tôi soi hoài không thấy

             -Vẫn thăm thẳm thằm thăm cuộc kiếm tìm mất sóng

               Không việc để làm,không ai để yêu,không có gì lăn tăn hi vọng

                               (Tôi đi tìm hạnh phúc)

 

              -Đau khổ khiến người ta phát điên

               Hạnh phúc có làm ai mất trí

              Tập tễnh suốt đêm dài mộng mị

                                (Giấc mơ người bại liệt)

 

  Lúc này anh chỉ còn biết trút nỗi niềm vào thiên nhiên:

                Gió khuya hiu hắt thở dài

               Trăng vàng huyễn mộng  "gấu nhai"  mất rồi !

 

Gió trăng là sản vật của thiên nhiên nhưng cũng là tri kỷ của thi nhân. Đồng cảm với nỗi lòng của anh nên "Gió khuya hiu hắt thở dài". Còn "trăng" là đối tượng nhà thơ gửi giấc mộng vàng để thoát ly hiện thực buồn đau. Nhưng hỡi ơi, giấc mộng được "gặp bạn", "gặp tình" bây giờ đã trở thành "huyễn mộng"!  Hụt hẫng, chơi vơi khiến con người nhanh chóng sụp đổ "gấu nhai mất rồi!". Kết thúc bài thơ bằng dấu chấm than (!) như là dấu chấm hết cho "huyễn mộng". Giấc mơ được gặp bạn tình phút chốc cũng tan tành! Cặp lục bát kết thúc bài thơ không "rời" vì phải chăng nó mang tiếng "thở dài" cùng với niềm tuyệt vọng của nhà thơ xuyên thời gian.

 

 Là một con người có nghị lực phi thường, Nguyễn Ngọc Hưng đã trụ vững giữa bao nghiệt ngã của cuộc đời. Anh đã và đang sống trong tình yêu thương của bè bạn.Thơ của anh đã mang ánh sáng đến cho đời. Bạn đọc đón nhận thơ anh với tất cả lòng ngưỡng mộ, mến yêu. Thiết tưởng đó là hạnh phúc lớn lao của một con người đang "sống". Thế nhưng sâu thẳm trong lòng, nhà thơ luôn hướng tìm đến một thứ hạnh phúc khác, đó là hạnh phúc lứa đôi. Phải, khao khát hạnh phúc lứa đôi, khao khát phồn thực là khát khao rất người, rất đời và vì thế nó rất thật. Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Ngọc Hưng không ngần ngại bộc bạch nỗi niềm rất thật của mình. Nỗi niềm của anh đáng được cảm thông và trân trọng vì nó rất trong sáng và rất nhân bản. Chính vì thế, bài thơ được người đọc đón nhận với tất cả sự đồng cảm sâu sắc và sự trân quý vô cùng.

 

 Cảm động lòng người không chỉ ở tiếng lòng chân thành của nhà thơ mà còn bởi cái tài làm thơ của thi sỹ. Ngôn từ dung dị, giàu biểu cảm, nhiều thi ảnh đẹp, giàu sức gợi,  cách ngắt câu, vắt dòng phù hợp đã tạo được hiệu  ứng nghệ thuật và có giá trị biểu đạt ý tưởng cao. Ấn tượng hơn cả là giọng điệu bài thơ. Khác với âm điệu du dương trầm bổng phô diễn cái buồn đều đều mênh mang trong bài lục bát  “Buồn đêm mưa” của Huy Cận, nhịp thơ trong “Lục bát rời” như được ngắt  theo hơi thở nhịp tim của nhân vật trữ tình để tạo nên một âm điệu đặc biệt: Khi thì u uất tái tê, lúc thì hằn học, bức bối, khi hồi hộp, lúc thở dài… Tất cả đã tạo nên một hợp âm buồn về thân phận của một thi sỹ tài hoa.

 

 Với Nguyễn Ngọc Hưng, “Tự lòng anh, chính nơi bản thể, chính nơi giường bệnh, thơ nảy ra. Bão giông ba động thế gian với muôn nỗi khóc cười, thơ tìm anh mà đến. Vì lẽ đó, thơ anh gần gủi mà không đơn giản… Hưng làm thơ tự nhiên như anh cần thở để sống” (Mai Bá Ấn). “Lục bát rời” chính là tim gan của nhà thơ tan chảy rồi đọng lại thành dòng - dòng thơ gan ruột, dòng cảm xúc chân thành.

  Bình Định, 21/10/2015

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}