Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng, một hồn thơ miền núi, hồn thơ dân tộc

Huy Thắng | Thứ Năm, 28/09/2017 16:13 GMT +7

        Khác hẳn chồng, nhà văn Hoàng Quốc Hải, một người  kĩ tính, nhất là khi anh pha trà mời khách. Trà ngon được anh chọn mua khá cầu kì  lúc pha trà thì anh cẩn thận chuẩn bị như một nghi thức. Người sốt ruột không thể ngồi uống trà với anh. Cách pha và thưởng trà của anh như một thứ đạo. Ngược lại Nguyễn Thị Hồng như không mấy chú ý  đến hình thức. Có khách đến chơi khi không có đức lang quân thì thường chị  chỉ lấy mấy gói trà Ac tê sô cho vào cốc to rót đầy nước sôi đem mời và giải thích: “Trà này uống mát và bổ, rất lợi cho gan”. 

           Nếu không biết hẳn không ai nghĩ một người phụ nữ nhỏ nhắn, mảnh mai  yếu đuối kia khi đang chức trưởng ban biên tập sách văn học của Nhà xuất bản đã  mạnh dạn đề xuất lên  lãnh đạo  để có thể cho ra mắt những cuốn sách mà nội dung được coi như còn cấm kị ngày ấy Dấu ấn tên tuổi nhà xuất bản Phụ Nữ qua những cuốn sách văn học được khẳng định gắn liền với sự tinh tế và bản lĩnh của nhà thơ Nguyễn Thị Hồng.

         Nguyễn Thị Hồng  trong trẻo, hồn hậu, có chút mềm yếu, đa cảm. Ngày gia đình chị ở  Giảng Võ, một hôm đi làm về chị thấy một người đàn ông ăn mặc xộc xệch thấy chị đạp xe qua anh ta liền lao đến đầu xe của chị hỏi diều gì đó. Sợ quá, chị cứ thế dấn đạp xe thật nhanh. Về khu tập thể chị còn chưa hết bàng hoàng đem chuyện kể lại. Mọi người trong khu tập thể nói đó là một người ăn xin.tính nết như không được bình thường. Nghe vậy Hồng ân hận để rồi chiều hôm sau chị qua chỗ đó nhưng không thấy, cả mấy hôm sau vẫn vào giờ đó chị cũng có ý chờ để biếu anh một ít tiền nhưng vẫn không thấy. Mọi người bảo chắc anh ta đi xin chỗ khác. Vậy nhưng vẫn làm Hông ân hận, áy náy mãi như người chính mình là nguồi có lỗi.

         Trong kỉ yếu Hội viên hội nhà văn Việt nam, nói về nhà thơ Nguyễn Thị Hồng có ghi :” Nguyễn Thị Hồng sinh năm 1948. Quê quán Thái Bình.”    Chị tốt nghiệp khoa ngữ văn Đại học tổng hợp Hà Nội, được nhận về  Nhà xuất bản Phụ nữ và ở đây từ đầu những năm bẩy mươi của thế kỉ trước cho đến khi nghỉ công tác. Về hưu chị cùng gia đình định cư tại Hà Nội.

         Nhưng có lẽ ít ai biết Nguyễn thị Hồng lại được sinh ra tại một xã miền núi huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái .Và hơn mười năm đầu đời chị đã cùng bố mẹ và người anh trai sinh sống tại đây. Đến tận bây giờ kí ức tuổi thơ của chị về con suối , dẫy núi, rừng cây điệp trùng đến những ngôi nhà sàn, các cô gái Tày khăn vấn, áo chàm, những người nông dân miền núi thật thà, chất phác ngày ngày cần mẫn, lưng  dắt dao quắm, lên nương làm rẫy, cảnh núi rừng ,đồi núi đẹp như tranh vẫn luôn sâu đậm trong tâm trí của chị.

          Ngày công tác ở Nhà xuất bản Phụ nữ Nguyễn thị Hồng dã gặp và làm quen với một chị cán bộ người dân tộc Tày tuổi đã cao quê tận Hà Giang, công tác ở Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Hai chị em tuy chênh lệch tuổi tác, khác dân tộc nhưng như duyên trời, lại hết sức gắn bó, thân thiết suốt mấy chục năm. Chị Kim Sinh không lập gia đình và lấy ngôi nhà của vợ chồng cô em kết nghĩa làm nơi hàng ngày qua lạị. Khi chị mất đi, vợ chồng Nguyễn Thị Hồng đã lập ban thờ ngay tại nhà mình để  ngày rằm, mồng một, giỗ, Tết tiện hương hoa cho chị..

            Hơn bốn mươi năm làm thơ, Nguyễn thị Hồng  xuất bản năm tập thơ: “Em ra đi”,” Biển đêm”,”Gọi thu”, “Những bông hoa thiên sứ”, “Cuộc bàn giao thế kỉ”- “Hồn khèn”. . Thơ Nguyễn thị Hồng thành công ở nhiều đề tài nhưng từ những cơ duyên kia mà những bài thơ viết về miền núi và các dân tộc thiểu số của chị lại rất ám ảnh, ấn tượng với người đọc.Có thể khẳng định, trước chị và sau chị chưa một nhà thơ nào viết nhiều và thành công trong mảng về miền núi và dân tộc như chị. Một đóng góp không hề nhỏ.

      Một trong những bài thơ đầu tiên viết về miền núi của Nguyễn thị Hồng là bài “ Bình dị “ viết tại huyện Chư Pông, Kôn Tum  tháng 11 năm 1983:

  Em nguyên sơ như đất

  Em nguyên sơ như cây

  Em nguyên sơ như nắng

  Như gió cao nguyên này

  Giặc đến đất rung chuyển

  Thành miệng núi lửa phun

   Giặc đến cây tự biến

  Thành muôn ngàn mũi tên…

          Bài thơ  viết về người thật, việc thật  nhưng như thể hiện về chính con người mình mà cũng qua đó như nói về sức sống cả một dân tộc.

            Cũng trong năm 1983, trong chuyến công tác về huyện Sa Thầy, lần đầu tiên trong đời, Nguyễn thị Hồng thấy tượng nhà mồ của người Gia Rai. Ngôi mộ như chỉ mới vừa được chuyển đi. Dấu tích còn lại là những bức tượng nhà mồ đứng trơ trọi trong giữa rừng đại ngàn. Trên từng thớ gỗ của gương mặt bức tượng hiện rõ nét u buồn, trầm tư và nỗi đau tử biệt sinh li muôn đời của kiếp người. Chị liên tưởng về sự sống, về cái chết như có liên hệ tiền định giữa những con người thực thể đang tồn tại với các vong linh người đã khuất: Và chị đã viết :

Ơ cái hồn

Mình biết nhau mấy đời rồi

Để kiếp này dù thoảng như giấc mộng

Mình đã bỏ đi mà ta còn sống

Nên ta hoá tượng nhà mồ

Trong bóng chiều trầm tư

Ơ cái hồn

Cuộc đời thì ngắn mà tình ta dài

Làm sao sống được khi mình lẻ loi

Dưới ba tấc đất hồn mình đơn côi

Trên ba tấc đất hồn ta đơn côi

Nếp đâu còn thơm khi mình đơn côi

Ta ra cùng mình để không lẻ đôi

Hồn ta hoá tượng nhà mồ

Trong bóng chiều trầm tư

             Về bài thơ này có nhà thơ cảm nhận : “ Chỉ khi ý thức được bi kịch đầu tiên và mãi mãi cho sự sống của con người ta là cái chết, khi ấy con người mới biết sống đến tận cùng người. Và điều này thơ Nguyễn thị Hồng đã có một “ Lời tượng nhà mồ “ tuyệt bút”

        “Một thoáng bản Tày” là bài thơ Nguyễn thị Hồng viết về quê hương của chính người chị người dân tộc Tày kết nghiã tại xã Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang :

Chiều nay như lạc vào cổ tích

Tôi lạc vào em, xã Việt Lâm

Làng bản mướt xanh tre với trúc

Cọ xoè tán lá, hứng mùa xuân

 

Suối Vạt ngày đêm róc rách trôi

Gột đi sương nắng hộ em tôi

Sau ngày bận mải vương bùn đất

Là mặt trăng, em gái Tày ơi

          Khi đọc cho ta như cho ta  cảm giác được ngắm một bức tranh lụa phong cảnh miền núi êm đềm, thơ mộng, có cảnh, có người.

          Không giống những bài thơ trước, “Hồn khèn” là một trường ca gồm 739 câu.mang một phong cách khác hẳn. Sức hấp dẫn của bản trường ca này là có thể đọc liền một mạch. Ý và chữ cứ đan xen, mời gọi.  Đọc xong cảm giác như được tiếp cận với trường ca dân gian bất hủ: “Tiếng hát làm dâu”,   áng thơ đã gắn liền với tâm hồn, tình cảm của người Mông   

        Câu chuyện của “Hồn khèn” không mới. Thậm chí còn cũ. Chuyện tình yêu của một đôi trai gái Mông do hoàn cảnh chàng trai thì quá nghèo, gia đình cô gái lại muốn gả con cho một gia đình giầu có nên đôi trẻ đã bị ngăn cách, không đến được với nhau. Rồi cô gái phải đi lấy chồng theo lệnh mẹ cha. Tình yêu của đôi trai gái chỉ được nối lại mỗi năm một lần vào phiên chợ tình Khâu Vai. Và rồi cũng chẳng được mấy phiên

          Trong trường ca,  thông qua một câu chuyện tình cụ thể, Nguyễn Thị Hồng giúp cho  mọi người hiểu về xã hội người Mông, lịch sử người Mông, tính cách người Mông. Để  viết nên được bản trường ca này, Nguyễn Thị Hồng khi còn công tác đã từng nhiều lần lên những vùng được coi là địa bàn cư trú lâu đời của người Mông ở nước ta như   Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ… ( Hà Giang), vào những năm 1972 và 1995, Bắc Hà, Sa Pa…(Lào Cai), vào năm 1992. Không chỉ  chịu  đi  nhiều, mà chị còn được nghe nhiều , đọc nhiều và tiếp xúc nhiều với những người Mông ngay trên mảnh đất của họ nên cuộc sống con người, cảnh vật dường như đã ngấm vào chị.

          Trường ca “ Hồn khèn “ ra đời vào năm 2003. Không sống trong bối cảnh người Mông không thể có khái niệm quả ngoã mật, quả xẻn hay tống quá xu, hay mẻn mén, rau dớn…Các địa danh vùng cao thì nhiều người từng biết, từng nghe nhưng được tác giả đặt vào hoàn cảnh phù hợp  thì lại vô cùng sống động, như: Tùng Vài, Quản Bạ, Mèo Vạc, núi Cô Tiên, Khau Vai…Những câu thơ  ví von thấm đẫm dân ca, tục ngữ Mông:

         Chỉ là những đoạn tre trúc dài ngắn vô hồn nhưng khi được nhà thơ thổi tình cảm vào thì cây khèn  kia sao có ma lực:

Anh đi cùng cây khèn trúc

Khèn trúc biết nói lời tình

Thầm thĩ

Luồn xuống khe sâu

Khèn trúc cùng hơi thở anh

Chui qua khe cửa

Luồn vào da thịt em

Vuốt ve da thịt

Em !

         Nói về sự kiên nhẫn  trong tình yêu của đôi trai gái:

Em lướt nhẹ nhàng

Đến bên tảng đá

Đêm đêm anh ngồi lõm

Đêm đêm anh ngồi mòn

            Từng có truyền thuyết yêu nhau có người hoá đá. Đã hay, nhưng kiên nhẫn ngồi đợi nhau đến đá phải mòn, đá phải lõm thì không phải truyền thuyết mà là thật. Những chữ dùng vậy , đọc mà bàng hoàng, mà nể sợ.

           Hoặc khi đã phải đi làm dâu gia đình người mình không yêu thương, nhung không thể cưỡng lại các tập tục, cô gái chỉ còn biết thở than:

Em đã bước qua cửa nhà người

Cái chân gà nhà người đã cào lên

Lưng em nhận ma

Làm dâu người không ngọt

Làm dâu người không bùi

Em như chùm quả xẻn

Vỏ vàng mà ruột cay.

        Đọc mà ứa nước mắt thương đôi trai gái yêu nhau mà không lấy được nhau. Càng cảm  thương hơn khi họ từng ước ao đươc luôn bên nhau mà không thực hiện được

Ước em như sợi lanh

Anh quấn ngang người

Anh đâu em đó

          Thơ về miền núi, về các dân tộc thiểu số của Nguyễn thị Hồng không phải đã  nhiều. Nhưng tất cả đều hay, thật hay, để lại nhiều dấu ấn.. Cái làm nên đặc sắc trong mảng thơ này là khi viết về dân tộc naò thì dường như văn hoá, lịch sử, cuộc sống của dân tộc đó như đã ngấm vào máu thịt chị. Cảnh vật, con người…qua chữ nghĩa, hình tượng , cứ hiển hiện rõ ràng trước mắt ta, không lẫn lộn. Những câu  thơ lúc mạnh mẽ, quyết liệt khi dịu dàng, tha thiết đầy cảm thương , xẻ chia luôn hiện diện trong từng câu, từng chữ trong mỗi bài thơ của chị. Trong cách viết, tác giả cũng không câu nệ, gò bó, khi là một đoạn dài, lúc chỉ  một chữ. Khi là thể lục bát, năm chữ, bẩy chữ, lúc là thơ không vần. Tưởng không nhất quán nhưng hoá chủ ý của người viết. Chữ nghĩa luôn đi theo cảnh, theo tình.

            Qua những bài thơ trên cũng phần nào thấy được tài năng, tính cách và con người nhà thơ Nguyễn Thị Hồng.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}