Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Nhớ 7 cái tết ở chiến trường

Phạm Việt Long | Thứ Năm, 04/02/2016 20:21 GMT +7

Tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với vai trò một phóng viên, tôi đã có 7 cái tết ở chiến trường. Đây là nhưng kỷ niệm đẹp của thời thanh niên sôi nổi.

Tết 1973 ở căn cứ Dốc Voi, tác giả cùng đồng đội, có hoa đào tự làm

Tết thứ nhất – năm 1969

Ngày 2/2/1969 - 27 tết Kỷ Dậu

Cơ quan di chuyển đã gần hết, chuyến đi này là chuyến cuối cùng. Không làm sao khác được, tôi phải hành quân. May được chia ít sữa, uống được một ít cho đỡ kiệt sức. Sáng, tôi  dậy lấy một cốc cháo, hoà đường, sữa vào và hạ quyết tâm: phải ăn hết cốc cháo này. Nhắm mắt lại mà húp cháo, mà nuốt vội vàng cho nó khỏi chạy thốc trở lại. Và cốc cháo đã hết. Này, đừng mửa nghe, gắng đừng mửa. Giữ lấy số cháo ấy trong bụng như giữ sức khoẻ  mình vậy. Khoác ba lô lên vai, lảo đảo bước đi. Đường xá, cây cối nhoà nhoà và quay cuồng, nghiêng ngả trước mắt tôi. Khát nước vô kể. Bi đông cạn nước. Tôi bụm tay vục nước suối uống. Nước chảy tới đâu thấy mát tới đó. Chao, mát, ngọt đến tận gan ruột. Mai sẽ tiếp tục chiến đấu!

Hành quân trong cơn sốt ly bì

Mệt quá chẳng buồn ăn uống chi.

Nhưng núi cứ ép hoài ăn dốc

No quá cho nên thở phì phì.

Ngủ một giấc, dậy thấy đỡ choáng. Hoạ sĩ Hồng Chinh Hiền cùng nghỉ lại với tôi (anh bị sai khớp chân), săn sóc tôi thật chu đáo. Anh đem sữa của anh ra ép tôi uống. Rồi anh rang gạo, nấu một ăng gô nước đặc như cà phê, pha đường, sữa cho tôi. Tôi không muốn uống - sữa của anh đã hết rồi. Nhưng anh không chịu, bắt buộc tôi phải uống. Nằm trên võng, Hồng Chinh Hiền nói cho tôi nghe về các loại tranh, làm tranh sơn mài kỳ công thế nào... và đọc bài thơ anh mới sáng tác cho tôi nghe. Anh chuyên nghiên cứu về Tây Nguyên, có nhiều bức tranh mầu, ký hoạ rất sinh động, có một số bài thơ hay. Tôi thấy khuây khoả dần. Chiều, đã tỉnh táo hơn, tôi ăn được ít cơm với cá - cá do anh em nhà in cho.

Ngày 13/2/1969 - 28 tết

Mùa xuân ở đây không có mưa phùn. Trời trong xanh. Nắng trải vàng tươi khắp núi đồi. Từng đàn chim bay chuyền, nhảy nhót hót líu lo nghe vui nhộn.

Cơn sốt lui dần, người khoẻ lại.

Chim rừng hót rộn thật dễ thương.

Nắng rực núi đồi, mùa xuân trải.

Vai khoác ba lô lại lên đường.

Chúng tôi đi ngược miết theo bờ sông Thanh. Sông này có nhiều đá, nhiều thác, nước chảy ào ào, réo sùng sục. Lại nhớ con sông Hồng những mùa nước. Đứng trên cầu Long Biên nhìn xuống thấy sông rộng bát ngát, nước đỏ ngầu, cuồn cuộn chảy với sức sống mãnh liệt. Mùa nước đến cũng là mùa hoa phượng vĩ nở đỏ rực trời, là mùa thi. Mấy đứa học sinh chúng tôi thường kéo ra bờ sông Hồng, ngồi trên các tảng đá mà học bài. Trời nước mênh mông, khoáng đãng khiến cho tâm trí thêm minh mẫn, học rất chóng thuộc bài. Song cũng đôi lúc để lòng mơ mộng theo dòng sông. Sóng nước dập dờn. Mỗi khi có một chiếc ca nô lướt qua, dòng nước lại rẽ đôi ra, chạy ào ào vào bờ với những con sóng vồ vập. Sóng trào lên các phiến đá, tung bọt trắng xoá. Chúng tôi để mặc nước bắn vào người mát lạnh. Có những buổi tôi cùng bọn thằng Giang, Hiến - mấy đứa bạn thân - chạy ào trên những bãi cát tràn nước, đạp nước bắn tung toé, té nước nhau ướt đầm đìa mà cười vang. Tuổi thơ ấu của tôi đã trôi qua bằng những ngày học tập rất mải miết; bằng những phút vinh dự lĩnh phần thưởng của nhà trường, bằng những ngày nô đùa hồn nhiên với bè bạn và bằng cả những ngày hè lao động cật lực trên các công trường nắng lửa. Giờ đây, tôi đã xa những ngày ấy, xa những nơi ấy, xa những người bạn thân ấy để vào chiến trường này góp thêm sức chiến đấu. Tôi đã đi qua bao dòng sông. Và nhiều dòng sông đã để lại cho tôi những ấn tượng khó phai mờ.

Rảo bước bên dòng sông Thanh ấy

Nghe nước đuổi nhau réo ào ào.

Ra biển gặp sông Hồng không đấy?

Có gặp, cho ta gửi lời chào.

Quặn thắt lòng, nhớ Hà Nội sao!

Lội băng qua sông Thanh, rồi chúng tôi đóng tăng nghỉ lại bên một dòng suối lớn. Đã khoẻ hơn.

Ngày 15/2/1969 - 29 tết

Tiếp tục hành quân về nơi ở mới. Núi đồi trập trùng. Sao không có chút mưa phùn cho mát lòng ta, cho khuây nỗi nhớ thương nhỉ. Xuyên rừng, chợt đụng phải một cành lá. Tôi dừng lại và bỗng lặng người, sững sờ. Mùa Xuân, mùa Xuân đây chứ đâu. Cành lá ấy đang nẩy ra những nhành lộc non tươi mơn mởn. Mùa Xuân gieo mầm sống và thúc đẩy sự sống hãy vươn lên mãi!...

Lội suối, trèo núi, băng rừng

Là những công việc ta mừng đón Xuân.

Đường đi bao nỗi gian truân

Mà lòng nghe vẫn lâng lâng lạ thường.

Gửi về miền Bắc quê hương

Nỗi nhớ da diết, niềm thương vô vàn.

Mong ngày thống nhất Bắc Nam

Gia đình sum họp Xuân càng vui hơn.

Gặp mấy anh em cùng Ban mang gùi đi ngược lại - anh em ra suối lớn để bắt ốc, lấy chuối rừng về nấu ăn tết!

Đến nơi, vội vàng đóng một cái nhà tăng nhỏ để ở.

Đêm nay là đêm giao thừa ở miền Bắc. Tôi và Minh ao ước được chất một đống lửa rõ to để ngồi bên mà nghe đài Hà Nội. Song không thể được, căn nhà quá trống trải, đơn sơ, không thể đốt lửa lên được, bọn giặc trời có thể phát hiện ra ánh sáng... Một ước mơ nho nhỏ và giản dị vậy thôi cũng bị hoàn cảnh khắc nghiệt không cho biến thành hiện thực. Chúng tôi đành treo võng nằm đón giao thừa. Anh Minh là người phụ trách tổ Thông tấn chúng tôi. Anh đã có vợ và một con trai, vào Nam từ năm 1960. Anh và vợ anh - chị Tú - có một chuyện tình thật cảm động: Khi anh đi B, chị công tác ở Thông tấn xã, nhưng kiêm cả phát thanh viên cho buổi đọc chậm của Đài Tiếng nói Việt Nam, để anh luôn được nghe giọng nói của chị khi chép tin cho cơ quan. Rồi chị gửi con thơ cho gia đình và vào Nam, cùng anh chiến đấu trên mặt trận tư tưởng ở cùng một chiến trường. Lúc này, chị đang ở cơ sở sản xuất, cách chỗ chúng tôi mấy buổi đường, nên hai vợ chồng không được cùng đón xuân...

Đêm đen mịt mùng. Không đèn lửa. Không mứt, chè...

Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi buổi phát thanh ca nhạc Hội diễn làn sóng. Anh chị em công nhân hát hay quá. Nhất là Bích Việt - công nhân mỏ Quảng Ninh - có giọng hát mượt mà, tha thiết, và Ngọc Bé, công nhân Hà Nội, có giọng hát mạnh mẽ, truyền cảm. Mọi năm trước đây, những buổi tối giao thừa, gia đình tôi thường quây quần bên đài nghe hát, ăn mứt và chúng tôi thường tíu tít giúp mẹ đun nồi bánh chưng cho sôi lên ùng ục.

Đài truyền đi bài ký của Lưu Quý Kỳ. Bài có đoạn nói đến những người chiến sĩ hy sinh cả tết xuân, đón xuân trên đường hành quân, giữa rừng âm u... đúng hoàn cảnh chúng tôi quá. Miền Bắc yêu thương vẫn nhớ đến chúng tôi, vẫn ở bên chúng tôi, tâm sự với chúng tôi.

Đến giờ giao thừa rồi. Rừng già bỗng xao xuyến. Vào những năm trước đây, trong những giờ phút này, gia đình tôi đều thức dậy hân hoan đón năm mới và chờ nghe lời chúc tết của Bác Hồ, sau đó bố mẹ tôi chúc chúng tôi và mừng tuổi chúng tôi bằng những gói mứt, kẹo.

Lời Bác Hồ đã vang lên rồi. Giọng Bác vẫn ấm áp, hiền hậu, song nghe không được khoẻ như các năm trước. Chúng tôi cầu mong Bác Hồ khoẻ mạnh, sống lâu, mong ngày thống nhất Người vào thăm miền Nam chúng tôi!

Tôi nhớ lại đêm giao thừa năm 1964, lúc ấy tôi học lớp 10. Đêm ấy, tôi cùng mấy đứa bạn thân cùng lớp đón giao thừa ở Bờ Hồ, người đông nườm nượp, áo quần sặc sỡ, đèn điện đủ màu rực rỡ, hoa nở khắp đường phố, khắp công viên, pháo bông, pháo hoa sáng rực trên bầu trời đen sẫm... Cảnh nhộn nhip ấy trái hẳn với cảnh tĩnh mịch này. Ở đây chỉ có rừng cây bạt ngàn và con suối nhỏ chảy róc rách.

Sáng, chúng tôi dậy sớm đón năm mới. Ai nấy chỉnh tề trong bộ quân phục, tập họp ở sân nghe lời chúc tết của các đồng chí lãnh đạo. Rồi chúc lẫn nhau, đọc thơ, ca hát ... Sau đó ăn bữa cơm mừng năm mới. Đây, bữa liên hoan của chúng tôi ấm tình rừng núi: cơm gạo trắng do đồng bào miền Băc tiếp tế, nồi canh ốc ngọt lừ nấu với bắp chuối rừng. Anh em húp ốc nghe chùm chụp, rất vui tai. Rồi hoạ sĩ Hồng Chinh Hiền mang tranh ra trưng bày. “Phòng triển lãm” ngoài trời với những bức tranh mầu hay ký họa sinh động làm rực tươi thêm cảnh núi rừng.

Tết chúng tôi nghèo quá: không thịt, xôi, không mứt, kẹo và rất đáng buồn là không có bánh chưng xanh. Chiếc bánh chưng lúc này đối vói tôi rất đáng yêu, không chỉ vì hương vị thơm ngon của nó, mà chính vì nó chứa đựng nhiều tình nghĩa.  Tết đến, gia đình nào chả có bánh chưng. Bánh chưng mang tính dân tộc nhuần nhuyễn, chứa đựng cái ấm cúng của gia đình sum họp, gợi nhớ quê hương, tổ tiên ông bà. Lúc này đây không phải tôi thèm bánh chưng, mà là nhớ, nhớ da diết, nhớ như nhớ người thân yêu.

Tôi ngồi say sưa viết bài thơ mừng năm mới:

NIỀM TÂM SỰ CÙNG XUÂN

Xuân ơi!

Xuân hãy dừng chân

Ghé thăm nhà ta với

Thăm căn nhà đơn sơ ta vừa dựng vội

Để có chỗ nằm và có chỗ đón xuân.

Hãy thông cảm cho người trong cuộc hành quân

Yêu Xuân lắm, song không có gì mà tặng.

Nơi đây giữa rừng già trầm lặng

Xuân hãy đến đi

Đến với những tâm hồn

Cháy bỏng nhiệt tình

Tha thiết yêu thương.

Yêu tất cả, nên rời xa tất cả.

Rời xa mái rạ, xóm ngõ yên lành.

Rồi xa làng quê với luỹ tre xanh.

Rời xa gia đình

Nơi có người cha già nghiêm nghị

Nơi có những người anh, người chị, người mẹ dịu hiền

Nơi có đàn em nũng nịu yêu thương

Để lên đường

Cùng cả nước làm cuộc hành quân vĩ đại.

Đường hành quân, ta đi, đi mãi.

Không biết nghỉ ngừng trong cuộc tổng tiến công!

 

Xuân ơi!

Hãy dừng chân chút nhé

Ghé thăm căn nhà nho nhỏ đơn sơ.

Thăm những tâm hồn cháy bỏng ước mơ.

Thăm những con người dạn dày gian khổ.

Hãy ghé võng ta ngồi

Và cùng ta tâm sự.

Kể chuyện ta nghe

Xuân miền Bắc thế nào?

Ôi quê nhà, ta nhớ làm sao!

Ta xa quê hương gần trọn năm rồi đấy.

Ta nhớ rõ ra đi ngày ấy

Tạm biệt quê hương trong một buổi chiều hè.

Cũng ở núi rừng

Xao xác tiếng ve

Ta bắt đầu cuộc hành quân gian khổ.

Qua những mảnh đất quê hương dạn dày bom lửa:

Thanh Hoá

Nghệ An

Hà Tĩnh

Quảng Bình

Lúc đó quê nhà lúa đang độ lên xanh.

Lúa vẫy chào ta, dập dờn sóng dậy.

Tạm biệt đất mình với mùa hè nắng cháy.

Ta đặt chân sang đất nước Triệu Voi.

Đội một mùa mưa nước ngập đất trời.

Vượt những con sông ào ào thác lũ.

Vượt đỉnh Trường Sơn quanh năm mây phủ

Vượt những cầu treo chót vót ngọn cây

Mê mải hành quân

Đi suốt đêm ngày

Ta lại vượt đỉnh Trường Sơn lần nữa

Để về miền Nam chiến trường rực lửa.

Đây Công Tum

rừng núi điệp trùng

Đây Quảng Đà

dậy sóng tiến công

Ta say đắm hoà mình trong đất nước.

Cùng đội ngũ điệp trùng, mạnh chân ta bước.

Với bút, mực này ta hăm hở xung phong

Viết những dòng tin tiếp sức tiến công

Và ta lại chịu thêm nhiều gian khổ.

... Có những hôm trời mưa như thác đổ

Cõng gạo xuyên rừng, vượt núi, băng sông.

Có những khi đói quặn thắt lòng.

Có những buổi sốt rét run cầm cập.

Và nhiều nữa những khó khăn dồn dập

Đã thử sức này, ta đã vượt qua.

Giữa chốn chiến trường, ta hiểu thêm ta

Và lại thấy yêu mình thêm chút nữa.

Cũng chính trong những ngày gian khổ.

Ta biết quí thêm những thứ quí trên đời.

Giữa chốn núi rừng thiếu thốn rau tươi

Ta thêm quí từng lá rau rừng chân thật.

Giữa những cơn đói làm lòng ta quặn thắt,

Ta quý thêm vị đậm đà của hũ đót, củ nưa.

Giữa cái lạnh lùng của đêm tối, rừng mưa,

Ta thêm quí ngọn lửa hồng ấm áp.

Giữa những lúc máy bay thù quần rát,

Ta quý thêm từng bóng cây xanh

Những rừng cây nặng nghĩa, nặng tình

Đã ấp ôm ta, che mù mắt giặc.

Giữa kẻ thù lòng lang dạ sói

Ta thêm yêu tình đồng chí sắt son

Từng bọc đùm nhau trong những phút sống còn

Từng ấp ôm nhau chia bùi, sẻ ngọt.

Từng chiến đấu với gan vàng, dạ thép.

Cùng một quyết tâm: địch mất, ta còn...

 

Nắng đã dậy rồi

Rực rỡ núi non.

Vui rộn rừng cây

Từng đàn chim ríu rít

Bao tâm sự trong lòng, làm sao nói hết.

Xuân ơi Xuân, Xuân có hiểu lòng ta?

Cảm ơn Xuân đã đến thăm nhà,

Mời Xuân lại cùng ăn cơm, Xuân nhé.

Ăn bữa cơm đơn sơ, bình dị.

Với bắp chuối rừng và canh ốc trong veo.

Có nữa chi đâu, giữa chiến khu nghèo.

Xuân ăn nhé, rồi cùng ta bước tiếp

Theo đội ngũ trùng trùng, điệp điệp

Bão dậy, sóng trào

nổi dậy, tấn công

Nào, sẵn sàng Xuân nhé

Xung phong!

Hãy xốc tới

Ta quyết giành toàn thắng!

(Xuân Kỷ Dậu 1969)

Cuộc sống trở lại nếp bình thường của nó. Chúng tôi lại chặt cây, chặt lá dựng nhà. Nơi này khá nhiều cây cọ. Tôi trèo tuốt lên ngọn cây, chặt được khá nhiều lá cọ về lợp nhà. Căn nhà của tổ Thông tấn xã chúng tôi xinh xinh, nằm sát bờ suối, con suối nông nhưng rộng, lòng bằng phẳng, toàn cát, nước trong vắt.

Tết thứ hai: Năm 1970

Ngày 4/2/1970

Ở nhà chuẩn bị đón xuân mới. Năm nay cơ quan chuẩn bị vật chất khá đầy đủ: có heo, nếp, kẹo... Điều thú vị nhất là cơ quan tổ chức gói bánh chưng. Vượng đảm nhận việc đó. Trên chiếc bàn to trong nhà, chúng tôi chất đầy nếp, đậu xanh, thịt, lá... trông thật vui mắt. Vượng ngồi gói bánh một cách say sưa, tự hào. Quả thật anh đáng tự  hào ở cái tài gói bánh chặt chẽ, vuông vắn của mình.

Đêm, chúng tôi chất lửa nấu bánh. Nồi bánh sôi sùng sục, sùng sục và ánh lửa bập bùng làm căn nhà trở nên vui và ấm.

Ngày 5/2/1970

Đêm nay là đêm giao thừa. Toàn tiểu ban tuyên truyền chúng tôi ngồi quây quần bên bếp lửa trò chuyện, đón giao thừa. Có bánh bích quy, cà phê hẳn hoi. Trong hoàn cảnh chiến trường này, thế là sang lắm.

Chúng tôi vui tết, song lòng không khỏi đượm buồn khi nhớ tới Bác Hồ. Giao thừa này là giao thừa đầu tiên chúng tôi không được nghe Bác chúc tết, đọc thơ mới. Nghe đài truyền lại lời Bác chúc tết năm ngoái, cảm thấy Bác vẫn sống, vẫn đang tươi cười...

Ngày mồng 1 và mồng 2 tết

Chúng tôi đón Tết Nguyên đán trong không khí bận rộn, khẩn trương vô cùng. Họp suốt sáng, tối mùng một và sáng mùng 2. Chủ yếu là bàn việc sản xuất. Vấn đề lương thực vẫn luôn là vấn đề trọng yếu. Phải tích cực sản xuất, tự túc lương thực, nếu không sẽ đói ngay. Phải coi sản xuất ngang chuyên môn. Với tinh thần khẩn trương đó, ngay trưa mùng 2 tết, chúng tôi toả đi các ngả đường: cõng gạo, sản xuất. Tôi vào nóc ông Chanh tham gia sản xuất ở cơ sở một.

Tết thứ ba: Năm 1971

Từ 24 đến 30/1/1971 - xuân Tân Hợi

Chúng tôi đón xuân mới tại cơ quan. Trời chẳng có gì là xuân cả vì cứ u ám suốt và lạnh vô cùng.

Thật là tai hại, cái con heo to lớn mập mạp của cơ quan lại  bị bệnh gạo - phải chôn. Do vậy quá nghèo thịt. Anh em kháo nhau rằng đó là điều may, năm mới sẽ tha hồ gạo mà ăn.

Tuy nhiên, về tinh thần thì khá thoải mái. Chúng tôi họp tiểu ban, đại hội chi bộ trước tết, còn đến giao thừa và ngày 1, 2 đều được nghỉ. Tôi và Vượng thức suốt đêm nghe đài, tán chuyện tào lao.

Đồng bào cũng vào ăn tết với chúng tôi. Cơ quan đãi bà con một bữa khá thịnh soạn. Bọn tôi cũng dành kẹo bánh đem biếu nhà ông Xây - cơ sở của chúng tôi.

Tết thứ tư : 1972

15/2/1972 – mồng 1 tết Nhâm Tý

Con đường 5 hôm nay tràn ngập ánh nắng, nườm nượp người qua lại và rộn ràng tiếng xe chạy, tiếng cười nói. Con trai, con gái, quần áo đủ mầu cưỡi xe đạp đi ngược lên. Thỉnh thoảng, một chiếc Honda chở 4, 5 người lại phóng vụt lên. Phía trên đó là “điểm” tết của huyện. Hùynh gặp mấy đứa nhỏ quen, mượn xe đạp. Cậu ta leo lên xe chở một chú nhỏ phóng vụt đi. Tôi chở một cô bé chừng 16, 17 tuổi. Cùng đi với chúng tôi còn có một toán 5, 6 cô gái chừng 16, 17 tuổi. Đi với họ, trước cảnh rộn ràng và những tiếng cười nói ríu rít, tôi lại nhớ những ngày còn là học sinh, những ngày lễ, chủ nhật đi chơi với bè bạn.

Tôi hy vọng ở điểm Tết này sẽ khai thác được nhiều chuyện hay. Nhưng cách tổ chức của huyện làm tôi thất vọng. Một chiếc cổng chào dựng cẩu thả trên đường. Hàng khẩu hiệu căng trên đó rủ xuống, không đọc được chữ. Khi tôi tới, phần mít tinh đã xong, đồng bào đang chuẩn bị ra về, chỉ có thanh niên ở lại. Anh em cán bộ đang phát cho đồng bào thư của Uỷ ban Mặt trận tỉnh. Nhiều người cầm lấy, ngồi tại chỗ chăm chú đọc. Tuy nhiên, có một chị không nhận: “Tôi không dám, không dám”. Anh cán bộ đưa lần nữa: “Chị cứ cầm coi thử”, chị vẫn không nhận, lách đi.

Phải mất rất nhiều thì giờ mới tập hợp được một số thanh niên lại để Huyện uỷ nói chuyện. Chị Vân kêu gọi thanh niên ổn định chỗ ngồi rồi hô bài chòi. Dưới này, một cậu thanh niên mặc quần ống tuýp, chân đi đất, tay xách đôi giày da nhạo báng:

- Chà, bà ta mới mập làm sao!

Cậu ta và mấy cậu khác đầu tóc bù xù cứ lom khom đi lại giữa bãi, ồn ào. Cậu đi đất bắt từ trên cây một con sâu to tướng làm trò chơi cho mấy cậu kia. Nhiều cô, cậu khác cũng ngồi tản mạn khắp nơi tán gẫu. Trong số đó phần đông là thanh niên từ vùng địch lên. Những hình ảnh đó quá xa lạ với tôi.

Chiều, về thôn Mỹ Thành. Mấy anh bạn ở huyện đội đưa tôi vào chơi nhà người quen. Chui vào nhà dưới mái tôn thấy nóng hầm hập. Gia đình dọn cơm mời chúng tôi. Nói chung cũng khá đầy đủ, có thịt, cá, bánh tét nhưng có lẽ nấu không ngon như các món tết ngoài Bắc. Sau đó nhà bên cạnh mời chúng tôi ăn bánh ngọt. Đang ăn dở dang thì có người báo: “Địch lên”. Thế là tất cả đứng dậy, lui ra ngoài xóm. Tới rìa xóm thì ngồi lại nghe ngóng. Được biết có 8 tên lính lên tới máy nước. Có người lên cho biết chúng đã rút. Lại vào xóm. Đồng bào nói rằng tên quận trưởng vừa tới chúc tết và cho ảnh Thiệu. Anh em du kích đang đi thu ảnh đó lại.

Lại xóm Lò rèn. Xóm này nằm bên trục đường, cách cầu Bến Muồng mấy trăm mét - bọn địch đóng ở cầu này. Vào nhà một chị cơ sở. Chị vồn vã đón chúng tôi:

- Các anh không xuống sớm xem bọn lính gặp, bắt tay với cách mạng. Chà, đồng bào phấn khởi lắm.

Chị lại bàn thờ, bưng mâm cỗ xuống mời chúng tôi. Bàn thờ có đặt một bức ảnh của một người đàn ông còn trẻ - chắc là chồng chị.

Đang ăn thì nghe tiếng pháo dội tới - pháo nổ khá gần. Trên đồn, bọn địch bắn đèn dù sáng rực. Ra sân ngó lên thấy những quả đèn treo lơ lửng đang xuống thấp dần, xì khói trắng ra. Cả cái xóm này sáng bừng lên. Chị chủ nhà nói:

- Không sao đâu, các anh cứ ăn đi.

Chắc bọn địch sợ ta ém đồn nên bắn đèn quan sát. Chúng tôi tiếp tục ăn. Chị đi gọi 2 đứa con về. Tiếng pháo vẫn nổ, ùng oàng ở phía rìa núi. Đèn dù vẫn thay nhau thắp sáng bầu trời. Bọn địch trên đồn gọi loa xuống: “Đồng bào cứ yên tâm, chúng tôi bắn vào núi thôi”. Chúng tôi tránh vào bên đường mà đi. Một cậu bé đứng ở một góc sân nói:

- Bọn địch ăn rồi bắn đèn hầu mấy anh cho mấy anh thấy đường đi!

Tết thứ năm: 1973

Chủ nhật 1/1/1973

Năm nay bắt đầu bằng một ngày trời trong xanh, nắng rực rỡ và lại hơi lạnh. Đến đêm, trời hơi mưa lắc rắc.

Từ 2 đến 15/1/1973

Nghe tin Mỹ đã buộc phải ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và lại nối tiếp các cuộc mật đàm với ta. Rõ ràng bọn chúng đã bị thất bại nặng nề. Khả năng một vẫn còn.

Ngày 16/1/1973

Theo tin tham khảo, Mỹ đã phải tuyên bố chấm dứt đánh phá miền Bắc. Chúng tôi vui, một niềm vui nao nao khó tả. Nó không sôi động, náo nức vì đây chưa phải là tin phổ biến chính thức, mà nó trầm trầm, sâu lắng bên trong. Buổi sáng, vui đến mức không muốn ăn cơm.

Chúng tôi ráo riết chuẩn bị để làm việc tốt khi khả năng một xảy ra. Bộ phận ảnh phóng nhiều bộ ảnh cỡ lớn để triển lãm.

Anh Phi (Phó ban), Hoài Nam (Tuyên truyền) và Lợi (đánh máy) đã vào thường trực ở Thường vụ Z11.

Thư gia đình

Phạm Đức Hoá

Long yêu dấu.

Chắc con nóng lòng mong tin của bố mẹ và các em. Bố vừa ở nơi sơ tán về, vội biên mấy dòng để con yên tâm. Qua 11 ngày giặc Mỹ điên cuồng oanh tạc miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng, gia đình ta đều bình yên cả. Hôm 2/1/1973, mẹ và các em lại tiếp tục sơ tán ở Mỹ Hào, Hải Hưng, đề phòng giặc Mỹ tráo trở. Còn bố về Hà Nội vài ngày, xong lại đi sơ tán theo cơ quan Bộ. Gia đình cô Chung vẫn bình yên và ở nơi sơ tán. Các bà về ăn cưới các em Phúc + Thành đã về  Hà Giang cuối 11/1972 và gia đình trên ấy vẫn được bình yên.

Hà Nội tuy bị oanh tạc, nhân dân tuy bị thương vong, song vẫn hiên ngang sau chiến thắng vĩ đại. Gia đình lại mới nhận được thư và ảnh của con đề tháng 10/1972. Gia đình rất phấn khởi, chỉ tiếc không được gặp Hoàng Trà, bạn của con, vì gia đình đi sơ tán cả.

Gia đình ta đã dọn về phòng mới ở Kim Liên, sum họp được 2 tháng thì sơ tán.

Bố mẹ, anh Đức và các em vẫn được khoẻ mạnh. Còn em Ngọc thì đến 5/1/1973 vào năm thứ nhất trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ ở nơi sơ tán. Em học tiếng Anh đủ 3 năm (lớp năng khiếu tiếng Anh) và nay tiếp tục học. Nhẽ ra em đi học ở Liên Xô,  song gia đình đã có 2 anh đi nước ngoài rồi nên phải nhường cho các bạn.

Bố gửi cho con mấy tấm ảnh do em Phúc chụp và rửa để con làm kỷ niệm.

Bố đang vội giải quyết một số việc nên viết thư ngắn. Chúc con mạnh  khoẻ, dũng cảm nhận thêm nhiệm vụ cách mạng.

Thân yêu

Bố

Phạm  Đức Hoá

Ngày 24/1/1973

Đài Phương Tây đưa tin trưa nay Nixơn sẽ đọc một bài diễn văn về Việt Nam. Chúng tôi đều bảo nhau chú ý nghe đài TNVN vì có thể sẽ có nhiều tin quan trọng.

Quả vậy, 10 giờ rưỡi, buổi thời sự đã đọc một bản thông cáo của Bộ Ngoại giao nước ta nói rằng Mỹ và ta đã ký tắt Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Tối, cơ quan họp. Anh Nhớ - Phó Ban -  nói lại thông báo trên và cho biết cơ bản thì bản Hiệp định này vẫn như bản Hiệp định thảo ra hồi tháng 10.

Nửa đêm, đài công bố Hiệp định và 4 Nghị định thư kèm theo. Chúng tôi nằm trên võng, bên bếp lửa lắng nghe và bàn tán sôi nổi. Các văn kiện nói lên rất rõ sự thất bại của Mỹ, Thiệu. Nghị định thư về việc Mỹ tháo gỡ mìn ở các hải cảng, sông ngòi làm chúng tôi thật thú vị.

Chúng tôi chụp chung với nhau một tấm ảnh ngồi bên bếp lửa.

Ngày 25/1/1973

Huề lên đường đi Bình Định - ở đó có một địa điểm trao trả tù binh hai bên.

Tôi nóng lòng sốt ruột muốn lao ngay xuống địa phương để được cùng đồng bào đón ngày đại thắng. Thật gay, nhà chỉ còn tôi và anh Đảo làm tin, biên tập, không thể đi được.

Tôi xuống chỗ hội nghị của Khu để gặp đại biểu một số tỉnh lấy phát biểu cảm tưởng của họ trước tình hình mới.

Ngày 27/1/1973

Hôm nay, Hiệp định Pari về Việt Nam đã được ký kết. Chỉ sáng mai thôi, hoà bình, niềm ước vọng tự ngàn đời của dân tộc Việt Nam, sẽ đến với Tổ quốc thân yêu của chúng ta.

Nhận được tin địch lấn chiếm vùng giải phóng, ta chặn đánh quyết liệt, đồng thời tấn công chiếm thêm một số vùng. Đêm, súng nổ rền vang khắp nơi. Chỉ mấy tiếng nữa thôi là hoà bình đến. Nhưng các chiến sĩ của chúng ta vẫn chiến đấu ngoan cường, vẫn hy sinh. Tôi nghĩ, cái chết lúc này đắt giá gấp mấy cái chết những lúc trước.

Ngày 28/1/1973

Ngày hoà bình đầu tiên.

Sáng sớm, mưa lắc rắc, trời lành lạnh.

Nghe anh Tường giải thích về hiệp định và anh Năm chúc Tết (Anh Năm Công, tức Võ Chí Công, là Bí Thư Khu Uỷ). Anh Năm cười vui vẻ nhưng nói rất rắn rỏi, biểu hiện niềm sung sướng, tự hào nhưng rất quyết tâm, cảnh giác. Cuộc chiến đấu sắp tới sẽ hết sức gay go, phức tạp.

Buổi chiều, trời lại hửng nắng. Tôi và hai Cường ra nước Y. Dòng suối vẫn chảy đều đều và reo róc rách. Những tia nắng xuyên qua những bông lau làm chúng óng lên, mỡ màng. Không còn nghe tiếng máy bay chiến đấu, chỉ có tiếng máy bay vận tải nặng nề. Nằm trên đá ngắm thiên nhiên, lại nhớ Hà Nội, nhớ gia đình da diết. Ôi, mới ngày nào, nghĩ đến hoà bình còn thấy xa vời quá. Vậy mà nó đã đến, đến thực sự rồi. Nghĩ lại cứ thấy ngỡ ngàng như vừa ngủ mơ xong! Tuy nhiên, cho tới nay, tôi vẫn hiểu rằng ngày về thăm nhà (thăm thôi) vẫn còn xa xôi lắm! Biết bao công việc đã bầy ra trước mắt. Không thể vắng mặt trong cuộc chiến đấu mới này.

Gặp đoàn cán bộ tập trung để đi Quảng Ngãi phục vụ việc trao trả tù binh. Ở đây có Xuyến, y sĩ ở bệnh viện một. Cô người Phú Thọ nhưng sống ở Hà Nội từ nhỏ. Cô gái 22 tuổi ấy có vóc người khoẻ mạnh, có tác phong mạnh bạo. Lần này là lần thứ 3 tôi gặp và nói chuyện với Xuyến. Buổi tối, cùng ngồi xem phim với Xuyến, nói chuyện nhiều. Tất nhiên, chỉ nghe tiếng nói nhẹ nhàng, thanh thoát của con gái Hà Nội thôi, cũng đủ thấy ấm áp và êm dịu rồi. Cô gái này có những nét độc đáo: đối với một số người thì rất bướng bỉnh, với một số khác lại rất tình cảm; yêu nhạc, thích thể thao và tâm hồn cũng khá lãng mạn.

Tết thứ sáu: 1974

Ngày 22/1/1974 (thứ ba - 30 tết Quý Sửu)

Đêm giao thừa này tôi ở C.9 (Nhà máy in của Ban) - nơi mà Ngân mới chuyển về công tác. Anh em tổ chức đón xuân thật vui. Cùng đón giao thừa, vui văn nghệ. Sau đó về nhà. Lần đầu tiên được cùng Ngân đón giao thừa. Ngân nói rằng đây là giao thừa đầu tiên Ngân không khóc. Thức với nhau tới 2 rưỡi sáng.

Tết thứ bảy: 1975

Ngày 14/1/1975

Trời hửng nắng.

Thế là mưa ròng rã hơn một tháng rồi, nay mới chịu tạnh. Đáng sợ thật, hơn một tháng trời không một ngày ngừng mưa!

Liệu đã kết thúc mùa mưa chưa?

Trong Nam Bộ, tình hình phát triển tốt quá. Ta đã giải phóng tỉnh lỵ Phước Long - lần đầu tiên tiêu diệt được cả tiểu khu quân sự địch. Chắc Trung Bộ cũng sắp đánh.

Chúng tôi đi Trà Mi vào đầu năm 1975. Vẫn mưa. May có đường ô tô nên khỏi phải vượt nhiều suối sâu. Đường lép nhép, đỏ quạch. Đến sông Tranh, nước lên lớn quá, mấy vị lái đò không chịu chở. Cà rà tán mãi mà chẳng ăn thua. Bên kia bờ, có mấy người đứng, gọi tên anh lái đò ầm ĩ. Anh ta càu nhàu: “Qua đây, ai biết tên tôi mà chẳng cố nhớ mà kêu!”. Mãi sau, nhận ra người quen, anh mới lấy thuyền ra bến.

Thuyền cao su bơm căng hơi, chở được 4 người, kể cả lái. Anh lái thuyền to, mập, khoẻ mạnh. Ra giữa dòng, nhìn nước chảy chóng cả mặt. Anh lái quạt mạnh mái chèo, mũi thuyền vừa hơi quay ngược với dòng nước thì đã tạo ra một con sóng lớn muốn chồm vào thuyền. Anh bảo: “Cứ ngồi im”. Thuyền tiến vào bờ, cập đúng bến. Anh chèo khoẻ thật, chỉ trôi chừng mấy mét thôi.

(Trích "Bê trọc" - NXB Thanh Niên 1999, Văn học, Dân trí tái bản)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}