Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn nghệ sỹ:

 

Những nhà văn Quân đội "vào trại" 1976

Thứ Bảy, 24/12/2016 09:41 GMT +7
Vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, bỗng nhớ đến các bạn nhà văn quân đội từ các chiến trường tụ về Hà Nội cùng tham gia "Trại sáng tác" do Tổng cục Chính trị mở để chuẩn bị vào học trường Viết văn Nguyễn Du. Hồi đó là cuối năm 1976.

 

Từ trái sang: Anh Ngọc, Nguyễn Trọng Tạo, Hữu Thỉnh, Khuất Quang Thụy,  Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Tính

Tôi là người cuối cùng đến nhập “Trại sáng tác” lúc đó đóng bên bờ sông Tô Lịch gần cầu Trung Hòa ngày nay. Ở đó đã có vài chục cái tên thật thân quen mà giờ tôi mới được gặp. Hữu Thỉnh, Thao Trường (Nguyễn Khắc Trường), Trần Nhương, Nguyễn Hoa, Khuất Quang Thuỵ, Lê Văn Vọng, Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn Đức Mậu, Lê Lựu, Trần Đăng Khoa, v.v… và ba người bạn cùng quân khu đã “nhập trại” trước tôi là Đào Thắng, Tô Đức Chiêu, Xuân Đức.

Những nhà văn lính trải qua cuộc chiến tranh khốc liệt, giờ đây đóng cửa phòng “hì hục viết”. Hữu Thỉnh viết trường ca “Đường tới thành phố”, Nguyễn Đức Mậu viết trường ca “Sư đoàn”, tôi viết trường ca về Đồng Lộc “Con đường của những vì sao”… Chu Lai viết tiểu thuyết “Nắng đồng bằng”, Khuất Quang Thụy viết tiểu thuyết “Trong cơn gió lốc”, Xuân Đức viết kịch nói “Tổ quốc” Đào Thắng viết “Điểm cao thành phố”… Toàn những đề tài chiến tranh. Lúc ấy ai cũng muốn xây dựng những tác phẩm lớn để “tạc vào lịch sử”. Và bên cạnh những tác phẩm “dài hơi”, thì nào truyện ngắn, truyện vừa, thơ dài thơ ngắn cứ xuất hiện như bươm bướm bên suối rừng mùa xuân.

Viết ở Hà nội chưa được nửa năm, hai thầy Hồ Phương và Xuân Thiều lại cho trại viên vào Đà Lạt ngồi viết ở trường Võ bị Đà Lạt. Trường Võ bị Đà Lạt lúc ấy đã trở thành Nhà an dưỡng của binh chủng không quân, tăng cường sức khỏe cho các phi công chiến đấu. Các nhà văn quân đội lúc này cũng được hưởng chế độ ăn ở của phi công để viết. Vì vậy mà khi vừa đến đây, ai cũng được cân và ghi trọng lượng vào sổ tiếp nhận (để khi rời nhà an dưỡng người ta cân lại xem có tăng, giảm cân hay không). Phòng viết sáng nào cũng được các cô nhân viên phục vụ thay cho bình hoa mới. Hoa Đà Lạt đẹp lạ lùng, đủ loại, có loại hoa nếu không đến đây thì chúng tôi không thể nào biết được: Hoa xin đừng quên tôi (Forget me not), hoa trinh nữ vàng (mimosa), hoa cẩm tú cầu (hydrangea)…

Một chế độ chăm sóc đặc biệt như vậy, nhưng không phải ai cũng viết trôi chảy được. Tôi thử bút viết tiểu thuyết “Bốn người lính đa cảm”, nhưng chỉ viết được 180 trang đánh máy thì bỏ dở. Rủ Khuất Quang Thụy, Đào Thắng đi chơi lang thang quanh thành phố, gặp một cô gái vừa tốt nghiệp đại học nông nghiệp từ Bắc vào nhận việc trồng cỏ nuôi bò ở cao nguyên Di Linh. Thụy có vẻ xao xuyến, về viết được bài thơ “Em đã về Di Linh” đưa tôi đọc. Xúc động thế nào đó, tôi đã phổ bài thơ này thành bài hát “Tình ca gửi người trồng cỏ”: Em đã về Di Linh/Ngẩn ngơ chiều Đà Lạt/ Thông vô tình cứ hát/ Anh đứng nhìn mây bay… Tôi đưa bài hát cho Đài Lâm Đồng và được hẹn trả nhuận bút bằng… ngô (vì thời đó hiếm tiền mặt). Tất nhiên là chuyện đó đã không xảy ra. Bài hát này sau đó được Bích Việt hát trên Đài TNVN.

Chiến tranh biên giới phía Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc rập rình. Chúng tôi được phân công đi viết về người lính biên cương. Tốp đi Tây Nam, tốp đi biển với hải quân, tốp đi các tỉnh biên giới phía Bắc… Những nhà văn lính chúng tôi lại khoác ba lô lên đường.

Tôi và Khuất Quang Thụy đi Lào Cai. Đến Việt Trì thì ghé vào nhà Hữu Thỉnh theo lời hẹn. Gần Tết mà không khí Việt Trì vẫn lầm lũi lao động. Vợ chồng Hữu Thỉnh đón chúng tôi bữa cơm cá đồng, có lòng lợn để nhắm rượu. Thời bao cấp có được thế là sướng lắm rồi. Chả là vợ Hữu Thỉnh làm ở cửa hàng ăn uống thị xã mới mua được chút thực phẩm ưu tiên. Hữu Thỉnh vỗ vỗ vào thùng sắt tây vốn là thùng đựng lương khô cũ, cười tươi nói với chúng tôi: Còn nhiều gạo nhé, Tạo và Thụy ở đây cả tuần thì vui lắm, yên tâm đi. Nói thế, nhưng cả ba chúng tôi lại phải lên đường đi tới vùng chiến sự đang xảy ra. Cầu Cốc Lếu nối thị xã Lào Cai với Vân Nam, Trung Quốc được ngăn lại bằng những vòng dây thép gai lớn. Phía Pha Long đã có tiếng súng nổ. Các điểm chốt của bộ đội tập kết thêm quân. Đường lên Sapa sương mù dày đặc. Chúng tôi cứ đi và viết về những người lính. Thụy viết ký sự biên giới. Tôi viết thơ và tùy bút. Đúng giao thừa năm ấy (1978) bài thơ “Tổ quốc ở biên giới” và bài tùy bút “Người lính gác” của tôi đã được phát đi trên làn sóng của đài TNVN, báo hiệu bắt đầu cuộc chiến đấu mới.

Về quê ăn Tết xong, chúng tôi trở lại trại sáng tác, lúc này đã được xây mới ở Vân Hồ 3, vì dãy nhà ở bên bờ sông Tô Lịch đã bị giải tỏa để mở rộng đường bên sông. Các trại viên hồ hởi khoe với nhau các tác phẩm mới hoàn thành. Nguyễn Hoa cùng Thái Vượng từ biên giới Tây Nam về còn chưa hết xúc động qua những bài thơ viết về người lính, kể cho tôi nghe những câu chuyện cảm động đã xảy ra ngay trên các điểm chốt mà các anh được biết. Có người đại đội trưởng trước khi hi sinh thì nhận được thư vợ báo tin đã sinh con trai. Tôi tiếc là không được đi về hướng đó, nhưng qua những câu chuyện của Nguyễn Hoa, tôi đã viết được truyện ngắn “Khoảnh khắc thời bình” và bài thơ “Hát ru em bé Campuchia” đưa in ngay báo Văn Nghệ và gây xúc động cho bạn đọc. Truyện ngắn này sau đó được dịch ra 6 thứ tiếng, và bài thơ được Nguyễn Thụy Kha phổ nhạc. Niềm vui sáng tác chưa dứt thì chiến tranh nổ ra khắp 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Cả trại lại tỏa đi theo những đơn vị bộ đội đang chiến đấu. Tôi và Chu Lai được cử đi viết phóng sự hướng Cao Bằng. Nghe tin Nguyễn Thái Sơn khoác ba lô lên hướng Đồng Đăng – Lạng Sơn bị thương lòi ruột phải đưa về tuyến sau cấp cứu. Chu Lai vẫn lạc quan đọc thơ “bút tre”: Thái Sơn một khúc ruột lòi/ Ta đi về hướng ôi thôi Cao Bằng. Vâng, tôi và Chu Lai đã đi ngược những dòng người gồng gánh con cái lánh nạn về xuôi. Cầu sông Hiến, sông Bằng bị đánh sập. Hai bên đường, vệ núi nham nhở những hầm ếch mới đào đất còn đỏ máu. Chúng tôi đến được đơn vị pháo cao xạ đã từng chúc nòng từ trên núi bắn cháy xe tăng địch. Đại đội phó Trần Hùng là người yêu thơ đã kể cho chúng tôi nghe về những giờ gay cấn đối đầu với bọn địch xâm lăng quen mà lạ. Sau này Hùng đã thành Phó chủ tịch Cao Bằng và thành một nhà thơ có giải thưởng của hội Nhà Văn Việt Nam. Rồi tôi và Chu Lai chia làm hai ngả cùng bộ đội tiến về phía gần biên giới hơn. Nghe và nhìn. Hỏi và ghi. Và viết nhanh về chiến sự đang nóng hổi. Viết về cuộc chiến đấu bảo về biên giới Tổ quốc. Những điều làm mình xúc động, khâm phục hay căm thù đều được viết ra nhanh chóng, bất kể thể loại văn học nào. Trên báo chí xuất bản hồi đó, rất nhiều bài viết của trại sáng tác quân đội liên tục xuất hiện.

Cuối năm 1979, trại sáng tác quân đội kết thúc, chúng tôi bước vào học khóa 1 trường Viết văn Nguyễn Du...

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}