Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Những sinh thể văn chương Việt nhìn từ nhiều phía

Bùi Việt Thắng | Thứ Ba, 12/05/2020 17:47 GMT +7

Đọc Những sinh thể văn chương Việt, Tiểu luận – Phê bình của Lý Hoài Thu, Nxb Văn học, 2018

SỨC BỀN CỦA NGÒI BÚT – NGƯỜI SỐNG VỚI VĂN CHƯƠNG CÙNG THỜI

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thuộc Hội đồng LLPB không ít (gần 100 người), nhưng viết phê bình chuyên nghiệp, chuyên chú và thủy chung lại không nhiều, có thể tính đếm trên mười đầu ngón tay. Nhà văn nữ viết phê bình lại càng hiếm vì nhiều lý do khách quan, chủ quan. Độc giả vốn quen với  tên tuổi của lớp “đàn chị” như Mai Hương, Tôn Phương Lan, Nguyễn Thị Minh Thái, Bích Thu, Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ, Lê Dục Tú,… Nay thêm đội hình 7X và 8X như  Cao Hồng, Lê Hồ Quang, Hoàng Thụy Anh, Thái Phan Vàng Anh,…Nhưng để lại dấu ấn gương mặt nữ phê bình trên văn đàn đương đại thì không nhiều, nếu không nói là hiếm hoi. Đầu những năm chín mươi của thế kỷ trước, Lý Hoài Thu, như tôi nhớ, mới gia nhập đội ngũ phê bình. Cái thưở ban đầu phê bình ấy, thỉnh thoảng tôi vẫn còn phải “đi kèm” đồng nghiệp nữ cùng khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội đến tạp chí VNQĐ, báo Văn nghệ, hay một địa chỉ văn chương nào đó. Đi kèm chứ không phải kèm cặp, vì buổi đầu còn nhiều bỡ ngỡ với một cô giáo, dù đứng lớp tự tin, đĩnh đạc nhưng khi bước vào chốn trường văn trận bút thì đâu dễ. Dẫu sao vẫn là “lính mới”. Được một dạo, tự nhiên Lý Hoài Thu tách ra “ở riêng”, độc lập tác chiến, tên tuổi bắt đầu được chú ý trên các báo chí văn nghệ uy tín ở trung ương (sau rồi đến địa phương). Có gần 30 năm cầm bút viết phê bình, đến nay Lý Hoài Thu đã là tác giả của 4 công trình được dư luận đánh giá cao: Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám - 1945 (Thơ thơGửi hương cho gió; Chuyên luận, Nxb Giáo dục 1997), Đồng cảm và sáng tạo (Tiểu luận – Phê bình, Nxb Văn học, 2006), Văn nhân quân đội ( Tiểu luận – Phê bình, Nxb Văn học, 2015) và Những sinh thể văn chương Việt (Tiểu luận – Phê bình, Nxb Văn học, 2018). Đó là bốn tác phẩm  “chính chủ”, còn viết chung thì áng chừng hơn 20 đầu sách.

Ngòi bút phê bình của Lý Hoài thu có sức bền. Là đồng môn, đồng nghiệp văn chương với tác giả nhiều năm nay, tôi có điều kiện theo sát đường đi nước bước, hiểu chân tơ kẽ tóc những khó khăn/ thuận lợi, những vui/ buồn đan xen, những được/ mất trong cuộc đời cũng như nghề nghiệp của chị. Đôi khi trước đám đông, vui lên chị cứ một mực gọi tôi là “sư huynh”. Nghe cũng thinh thích. Nhưng bình tâm lại, thấy được làm sư huynh một người như Lý Hoài Thu đâu có dễ dàng như thò tay vào túi mình mà lấy ra bất kỳ lúc nào, bất kỳ cái gì mình muốn. Còn nhớ cái độ chị ra sách Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám -1945 (Thơ thơ Gửi hương cho gió), tôi có viết một bài phê bình đăng trên báo Văn nghệ, nhan đề Một cách tiếp cận văn học (về sau được đưa vào sách Đồng cảm và sáng  tạo, 2006). Rồi đến Văn nhân quân đội, vòng vèo thế nào cuối cùng xuất hiện trên tạp chí VNQĐ, nhiều người đọc thích.

Trừ những nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học trước 1945, về căn bản viết của Lý Hoài Thu đều tập trung theo sát diễn trình văn học đương đại (từ sau 1975). Nói cách khác, viết phê bình của Lý Hoài Thu có diện “phủ sóng” rộng lớn, có đặc điểm cập thời vũ, có chiều sâu của trí tuệ nhưng không lấn át sự mẫn cảm và tinh tế, bao dung và đằm thắm của thẩm bình văn chương. Đọc phê bình văn chương của Lý Hoài Thu, tôi hay nghĩ đến định đề “Nghệ thuật đi tìm cái đẹp trong đời sống. Phê bình đi tìm cái đẹp trong nghệ thuật”. Cứ đọc nhan đề các tiểu luận - phê bình của Lý Hoài Thu đủ biết chị đeo bám sát sao thời sự văn chương nước nhà lúc thăng cũng như trầm; chưa hết chị còn vươn ra viết Tiểu thuyết hải ngoại – tha hương và thân phận. Hơn thế, dài rộng suy tư hơn, văn chương viết về chủ quyền quốc gia trên biển đảo quê hương cũng cũng đã vào phê bình của Lý Hoài Thu trong Biển đảo trong sinh thể thơ ca Việt. Tôi lấy làm mừng khi thấy đồng nghiệp của mình cứ say sưa viết với tất cả tình yêu văn chương Việt, không mấy khi để tâm đến cái gọi là “phê  bình bác học/ khoa học”, “phê bình báo chí” hay “phê bình  nghệ thuật” do mấy người “rách việc” hay nhàn rỗi ngồi chẻ sợi tóc làm tư, phân chia ra nào là văn chương tinh hoa, nào là văn chương bình dân, vv..vv. Rồi ngấm ngầm theo lối “tiểu nhân đắc chí” tự nhận mình là “tinh hoa”, còn người khác là “bình dân (!?).

2. NHỮNG SINH THỂ VĂN CHƯƠNG VIỆT NHÌN TỪ NHIỀU PHÍA

Nhìn từ nhiều phía những sinh thể văn chương Việt là cách nhìn “lập thể” đối tượng khảo sát, thẩm bình. Trong 24 bài viết được dưa vào sách Những sinh thể văn chương Việt ta thấy: 7 bài viết về tác giả/tác phẩm thơ trước 1945, 7 bài về tác giả/ tác phẩm/ vấn đề của thơ ca đương đại, 10 bài về các thể loại văn chương khác (tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, ký) và các vấn đề vĩ mô của tiến trình lịch sử văn chương Việt hiện đại. Theo tôi “Sinh thể văn chương Việt” qua cách viết của Lý Hoài Thu được cảm hội/ nhìn nhận/ soi sáng từ 3 phương diện/ góc độ sau:

Sinh thể văn chương Việt nhìn từ lịch đại: Tức nhìn “dọc”, nương theo thời gian xuất hiện tác giả/ tác phẩm mà thẩm bình (từ Xuân Diệu với Thơ thơGửi hương cho gió những năm 30-40 của thế kỷ tước cho đến Thơ Lưu Quang Vũ - Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, tận Hồ Thế Hà với Thuyền trăng, thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21). Đọc những bài phê bình trong chuỗi lịch đại, ta thấy, Lý Hoài Thu xuất hiện và phát ngôn vơi tư cách một nhà viết sử văn/ sử thơ; kết nối quá khứ với hiện tại, làm rõ dung nhan thơ Việt trong tiến trình vượt rào hai thế kỷ qua những tác giả/ tác phẩm tiêu biểu.

Sinh thể văn chương Việt nhìn từ đồng đại: Tức nhìn “ngang”, đối chiếu, so sánh tác giả/ tác phẩm/ trào lưu/ phương pháp cùng một không – thời gian nghệ thuật (Trữ tình ngoại đề trong Truyện Kiều và những đoản khúc buồn của Thơ mới, Thơ Nguyễn Bính - Từ ký hiệu sinh thái đến không gian tự tình, Gái quê và những tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Hàn Mặc tử, Cái cô đơn mang tên Xuân Diệu, Ấn tượng thị giác từ Thôn ca của Đoàn Văn Cừ,..)

Sinh thể văn chương Việt nhìn từ loại hình nhà văn/ phong cách/ thể loại/ thi pháp: Phương pháp loại hình giúp nhà phê bình tránh được cái nhìn xã hội học, hướng cái nhìn vào bản chất đối tượng theo phương pháp “mô hình hóa” (Cuộc tranh luận Thơ mới, thơ cũ – nhìn từ đương đại, Truyện ngắn Nam Cao - nhìn từ thi pháp, Cây như là sinh mệnh thứ hai của thơ Hữu Thỉnh, Không gian Trường Sơn và những giai điệu tình yêu trong thơ Phạm Tiến Duật, Vấn đề trào lưu và phương pháp sáng tác trong đời sống văn học Việt Nam, Lưu Quang Vũ và chặng đường kịch Việt Nam cuối thế kỷ XX, Tiểu thuyết hải ngoại - tha hương và thân phận,...).

Có thể nói “giao diện” của Những sinh thể văn chương Việt là rất rộng, những vấn đề được bàn thảo là rất sâu. Những tố chất đó tạo nên cái nhìn đa diện, lối thẩm bình đa chiều, tạo nên đa sắc màu thẩm mỹ của phê bình văn chương  mang tên made in Lý Hoài Thu. Đôi khi tôi cứ vân vi, như mình đàn ông đã đành, không vướng bận thê nhi, bếp núc, không là nội tướng, lại “nhà có điều kiện” mới có thời gian và sức lực để “đọc đuổi” văn chương đương thời phát triển như thác lũ trong cơ chế thị trường. Còn như Lý Hoài Thu, dẫu con đã lớn, cháu đã khôn, nhưng vẫn là bà, là mẹ, là phụ nữ nên vẫn còn trăm thứ việc phải nhúng tay vào. Vậy chị đọc và viết vào lúc nào? Gần gũi mới tỏ chị thu xếp công tư vẹn cả đôi đường (ví dụ đi Trại viết thì “cố đi kẻo phí”, nhưng thường chỉ dự một nửa thời gian rồi rút, ít xuất hiện ở đám đông nếu thấy không  cần thiết, chỉ đọc cái nào cái nào cần viết,...). Nhưng nhiều người có thời gian và sức lực song le có viết được gì đâu vì chán ...văn chương, hay không viết được khi tư duy, cảm xúc đã trơ lỳ. Dường như thời gian bất lực trước Lý Hoài Thu, tôi vẫn hay nói thế về người bạn Văn giỏi giang của mình (!?).

VĂN PHÊ BÌNH LÝ HOÀI THU

Sinh thời nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh hay chia sẻ và nhắc nhở đồng nghiệp trẻ tuổi phải cố gắng viết lý luận - phê bình hay/ theo cách nói của ông là “có văn”. Chao ôi, nói thì dễ mà làm thì khó. Tôi thấy mấy “đệ tử” của thầy cứ cố vùng vẫy, cứ rướn lên “cho hay” nên đôi khi tội nghiệp vì hụt hơi, đuối sức, loạng quạng. Đọc phê bình của Lý Hoài Thu tôi hay viện câu “Văn là người” để soi chiếu. Thấy đúng. Người thì rõ ràng là đằm thắm, nền nã, khoáng đạt, mẫn cảm, bặt thiệp, tinh tế. Nên văn là người cũng thế. Ở đây tôi loại trừ lối viết “câu viu” của ai đó kiểu như “bi kịch đọc không vỡ chữ”, “văn chương là trò chơi vô tăm tích”, “kiểm dịch nhà văn”,... Lối đó, nguwoif ta gọi là “giật tít” theo cách của các nhà báo hiện nay được trả nhuận bút theo số lượng người đọc. Thời cơ chế thị trường nên sinh ra lắm mẹo mực (vặt vãnh để kiếm tiền) viết. Lý Hoài Thu cũng quan tâm tới “tit” bài, nhưng không rơi vào mẹo vặt vãnh. Mỗi nhan đề được tác giả đặt, tôi thấy, là sự ấp ủ ý tưởng, sự chiêm nghiệm đối tượng, sự trải nghiệm nghề vă, sự hối thúc nội tâm. Và thực sự ở đó neo đậu tình yêu văn chương của Lý Hoài Thu. Những Gái quê và những tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Hàn Mặc Tử, Ấn tượng thị giác từ Thôn ca của Đoàn Văn Cừ, Thơ Nguyễn Bính - từ ký hiệu sinh thái đến không gian tự tình, Tầm xuân nhớ nắng - hoa hay phận người, Cây như là sinh mệnh thứ hai của thơ Hữu Thỉnh, Không gian Trường Sơn và những giai điệu tình yêu trong thơ Phạm Tiến Duật, Thơ Lưu Quang Vũ – Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Từ mặt đất đến Thuyền trăng, Biển đảo trong sinh thể thơ ca Việt, Tiểu thuyết hải ngoại – tha hương và thân phận,... Tôi nghĩ, không bỗng chốc mà ngồi “chế” nhanh ra được những nhan đề gợi tứ, gợi cảm, gợi tình, gợi ý như thế nếu không có lao động nghệ thuật/ chữ kỳ khu. Với ai khác thì không thể nói, nhưng với Lý Hoài Thu thì chị viết gì tôi đọc nấy (đọc đuổi). Một đối tượng thẩm bình rất khó viết như văn thơ về biển đảo, dễ bị coi là tuyên truyền, nhưng vào tay Lý Hoài Thu thì trở thành máu thịt từ cái nhìn, từ cách cảm xúc đến cách thể hiện tình, lý song song. Lý Hoài Thu viết phê bình luôn đề cao cái đẹp trước cái đúng, cái tình trước cái lý. Vì thế nên những bài như Cây như là sinh mệnh thứ hai của thơ Hữu Thỉnh, tôi thấy chị viết như lên đồng, như nhập vào đối tượng: “Bằng những trải nghiệm cá nhân, những buồn đau thành thật của người cầm bút, Hữu Thỉnh đã mang đến những suy cảm mang tính chiêm nghiệm sâu sắc. Viết về cây, tác giả luôn có sự chuyển hóa, đổi ngôi thay “vai giao tiếp” một cách linh hoạt: từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ ba, từ vị trí chủ thể sang đứng chỗ ngang hàng hoặc cao hơn chủ thể. Song, dù vị trí nào, dù “diễn ngôn” của cây là độc thoại, hay đối thoại thì đó vẫn là những thân phận người, đa sầu đa cảm và mang gánh nặng đa đoan của kiếp người”. Viết phê bình hay như thế, tôi nghĩ,  Lý Hoài Thu giống như một nghệ sỹ nhiếp ảnh tài hoa đã bắt được “thần thái” của đối tượng, và cắt cúp khuôn hình cân đối, hài hòa, sáng sủa. Mà không riêng với Hữu Thỉnh. Nếu chỉ có một thì ai đó sẽ nghĩ là... “nâng đỡ không trong sáng”. Lý Hoài Thu trải lòng với văn chương/ thơ ca/ thi nhân của đất nước thời hiện đại từ Xuân Diệu (ông Hoàng tình yêu) đến những thi sỹ đương đại gần gũi và kề cận như Hồ Thế Hà (3 trong 1: nhà giáo/ nhà thơ/ nhà phê bình văn học). Tôi thích  lối văn  phê bình hay như trong Cái cô đơn mang tên Xuân  Diệu: “Một tuổi thơ không yên ả với sự thiếu vắng tình mẫu tử. Một thân phận tình yêu chứa đầy bi kịch bởi “cả đời thêu gối cưới nhưng chưa bao giờ được làm cô dâu”. Một tâm hồn thi sỹ bẩm sinh: đa sầu, đa cảm, dễ bị tổn thương và chịu nhiều mất mát. Một trực giác quá nhạy bén với những ấm lạnh bất thường... Những “ô màu lập phương”  khác nhau  đó đã giúp chúng ta hình dung đủ đầy chân dung con người Xuân Diệu. Người thơ ấy mà “không chịu” cô đơn mới thực lạ lùng”. Tôi đã đọc gần như hết những gì người đời viết về Xuân Diệu, nhưng đọc phê bình Lý Hoài Thu vẫn thấy “khoái”. Tôi nghĩ, đó là lối viết theo phép “thi thoại” (nghĩa là không chỉ chú mục vào tác phẩm/ con chữ mà còn chú ý đến yếu tố con người, cá tính, ngoại cảnh, tâm linh, số phận của văn nhân).

Nhưng Những sinh thể văn chương Việt đã là một cái gì toàn bích? Tôi nghĩ, chưa! Vì sao? Vì cấu trúc sách chưa thật cân đối (phần I- Thơ/ gồm 14 bài) tỏ rõ sở trường của người viết. Có thể nói, qua 14 bài viết về thơ hiện đại, độc giả tri nhận được những đường nét cơ bản của nó trong tiến trình vắt qua hai thế kỷ, qua sự tiếp nối nhiều thế hệ thi nhân, qua nhiều cá tính và phong cách thơ tiểu biểu. So với phần I, phần II (Một số vấn đề lý luận và các thể loại khác /10 bài) chưa thật ăn nhập, chưa nhịp nhàng, hòa nhuyễn với tựa sách “Những sinh thể văn chương Việt”. Những vết hàn/ nối còn lờ mờ hiện lên chứng tỏ chủ nhân chưa thật cao tay trong tổ chức cấu trúc sách. Cũng trong phần II, có vài bài hơi bị “ép chín” khi đưa vào sách. Nhưng riêng tôi hiểu lý do tế nhị của sự sắp xếp này. Đành lòng vậy cầm lòng vậy. Chợt nghĩ “giá như” Lý Hoài Thu “rắn” hơn một chút thì không “lọt” vài bài, như tôi đã viết, ở phần II. Người ta nói vì hai chữ “giá như”, “nếu như” lịch sử thậm chí đôi khi có thể còn thay đổi. Huống hồ văn chương. Huống hồ phê bình.  Tĩnh trí lại, riêng tôi thấy Những sinh thể văn chương Việt của Lý Hoài Thu, trước sau vẫn là một cuốn sách có thể mang lại không ít nhã thú văn chương cho độc giả hôm nay vốn rất thông minh, nhưng khó tính và đôi khi... đỏng đảnh nhất thời./.

                                                  Quảng Bình - Hà Nội, tháng Tư, năm 2019 - BVT

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}