Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Những vần thơ cách mạng của Crixtô Bôtep[1] (1848 - 1876)*

Hồ Sĩ Vịnh | Chủ Nhật, 23/07/2017 10:13 GMT +7

Crixtô Bôtep không chỉ là lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc Bungari, là nhà dân chủ cách mạng những năm 60-70, mà còn là người mở đầu nền thơ ca trữ tình cách mạng ở Bungari.

Đối với Bôtep, tác phẩm thơ ca trước hết phải là diễn đàn của cách mạng, là tấm gương phản chiếu hiện thực, là sự thể hiện trực tiếp thế giới và cá tính của người chiến sĩ.

Cơ sở và tiền đề của thơ ca Bôtep là phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Bugari những năm 60, 70 của thế kỷ XIX. Cao trào cách mạng đó có nguyên nhân sâu xa của nó.

Cuối thế kỷ XV, nước Bungari và hầu hết các dân tộc trên bán đảo Ban căng đều bị đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ xâm chiếm. Từ đó cho đến đầu thế kỷ XIX “sự có mặt của người thổ ở châu Âu là một trở ngại nghiêm trọng tới sự phát triển theo hướng giàu có tự nhiên” của bán đảo này. (C. Marx: Vấn đề dân tộc ở Thổ Nhĩ Kỳ). Là một nước giàu có ở trung tâm bán đảo Ban căng, nơi giao thoa của nhiều đường giao thông quan trọng, nơi có nhiều thành phố công nghiệp sớm phát triển, Bungari bị bọn xâm lược Thổ nhòm ngó rất sớm.

Nhưng cũng từ đó, các dân tộc trên bán đảo, người Bungari và người Xecsbi, người Maxêđoan và người Slôven, v.v… đã đứng lên, gan góc và kiên trì, đấu tranh chống bọn xâm lược nước ngoài. Hình thái sớm nhất của cuộc đấu tranh bọn xâm lược của nhân dân Bungari là phong trào du kích chiến tranh của nghĩa quân Haiđúc[2]. Chiến thắng của nghĩa quân đã vang dội khắp núi rừng vùng Ban căng, và đã trở thành đề tài của những bài ca và truyện cổ. Tên tuổi của những vị thủ lĩnh nghĩa quân như Tsapđa, Manusơ, Bưntsan, v.v… đã khắc sâu vào tama trí của nhân dân Bungari.

Đến đầu thế kỷ XIX, đế quốc Thổ rơi vào một thời kỳ khủng hoảng trầm trọng về chính trị và kinh tế. Thêm vào đó, sự thất bại của chúng trong chiến tranh Nga - Thổ (1828 - 1829), cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Hy lạp (1821 - 1840), cuộc đấu tranh nổi loạn của tướng Mếchmét Ali  vùng Êghiptơ (1831- 1840) và nhiều sự kiện khác đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình suy vong của đế quốc Thổ. Và cũng từ đây, Thổ Nhĩ Kỳ bị rơi vào vòng kiểm soát của các cường quốc châu Âu.

Ở trong nước, ách áp bức và bóc lột của bọn Tsoócbagi (bọn phong kiến thống trị) và phương thức sản xuất phong kiến đã bị cản trở sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dân tộc. Những mâu thuẫn giữa thống trị và bị trị, giữa xâm lược và bị xâm lược đã được đẩy lên điểm cao.

Bấy nhiêu điều kiện và nguyên nhân đã thúc đẩy cuộc đấu tranh bền bĩ của nhân dân Bungari thành một cao trào vào những năm 60 -70.

Người tổ chức và lãnh đạo của phong trào đó là Giêoócghi Rakốpxki (1821 - 1867), người chiến sĩ kiên quyết, mưu trí và gan dạ, nhà yêu nước chân chính.

Với cái chết của Rakốpxki, thời kỳ đầu của phong trào cách mạng đã kết thúc. Liuben Karavêlốp. Vaxili Lépxki, Bôtép, v.v… là những người kế thừa xuất sắc và trung thành của Rakốpxki. Thế hệ đó giương cao ngọn cờ cách mạng và tiến hành cuộc đấu tranh bền bỉ trong nhiều năm qua để giải phóng Bungari khỏi ách áp bức của đế quốc Thổ và bọn phong kiến trong nước.

Sở dĩ Bôtép, trở thành người mở đầu nền thơ ca trữ tình cách mạng trước hết là nhờ ông đã tiếp thu truyền thống tiến bộ của thơ ca truyền miệng dân gian. Ông kể: “Những năm thơ ấu, tôi đã nghe mẹ tôi hát hàng trăm bài dân ca. Những bài này, Người đều ghi chép chu đáo. Sau này tôi cũng thường hát những bài ca đó. Việc ấy làm cho tôi say mê thơ ca dân gian, đặc biệt là dân ca vùng Iunát”[3]. Thơ ca dân gian hấp dẫn Bôtép không chỉ vì những bài ca tám khổ, âm điệu du dương, man Marx, mà còn do nghệ thuật xây dựng hình tượng anh hùng của các dân tộc dòng Slavơ, việc thể hiện tình cảm và nguyện vọng của dân tộc.

Những năm ở Ôđétxa, Bôtép tiếp xúc với nền thơ ca cổ điển Nga. Những vần thơ yêu tự do của Puskin, những trang thơ “dấy loạn” của Lécmôngtốp, những bản trường ca bi hùng của Nêcraxốp đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nội dung thơ trữ tình cách mạng của Bôtép. Ông đã đọc thơ Rưlêép, Ôgarốp, Mikhailốp, v.v… những nhà thơ cách mạng Nga thế kỷ XIX, trong các bản thảo chuyển tay hoặc qua các nhà xuất bản nước ngoài. Bôtép sớm làm quen với thơ trữ tình của Bairơn, của Hainơ và nhiều nhà thơ ca cách mạng châu Âu.

Bấy nhiêu ngọn nguồn tươi mát và trong lành đã cho chùm thơ trữ tình cách mạng của nhà thơ dân tộc Bungari nở hoa và tỏa hương. Nội dung thơ trữ tình của Bôtép thường là những vấn đề lớn của xã hội, của Tổ quốc đã được diễn đạt bằng những lời tâm sự với người thân. Chính bề sâu và bề rộng của chủ đề cho phép nhà thơ trữ tình chính trị khái quát lịch sử về Tổ quốc của mình. Nội dung ấy còn phản ánh những xúc động mạnh trước chiến công oai hùng của những anh hùng dân tộc. Chúng ta đọc một đoạn trong bài thơ Gửi mẹ:

Mẹ ơi, có thể nào suốt ba năm ròng rã

Mẹ buồn rầu, mẹ đã rủa nguyền con

Con ra đi, khổ sở lang thang

Gặp gỡ ở phương xa những người con ghét[4]

Đây là bài thơ đầu tiên được in năm 1986, lúc nhà thơ trở lại Calôphe, quê nội của mình. Bài thơ buồn. Những năm tháng ở nước ngoài, xa mẹ, xa người thân, nhà thơ cảm thấy đơn độc và thất vọng. Nhân vật của bài thơ là một thanh niên giàu mơ ước. Nhưng làm sao mà người thanh niên ấy thực hiện được ước mơ của mình trong cái thực tế nghiệt ngã và hung bạo dưới ách đế quốc Thổ và bọn phong kiến Bungari! Hoài bão tan vỡ và dự định không thành. Sức vang dội to lớn của bài thơ đối với thanh niên hồi bấy giờ chính là ở chỗ đằng sau nỗi lòng của đưa con đối với mẹ là tình yêu sâu thẳm, khôn cùng của người công dân đối với Tổ quốc:

Cho con được thêm một lần ôm chặt

Không giận hờn cha, mẹ, chị em yêu,

Rồi máu có thể ngừng trong mạch đập

Và thân con rữa nát dưới mồ sâu

Thủ pháp ẩn dụ và khả năng khái quát được sử dụng trong bài thơ Gửi mẹ và nhiều bài thơ khác như Gửi bạn, Gửi nàng, Gửi mối tình đầu, Cuộc xử giảo Vátxin Lépxki, Bắt cóc một người con gái ưng thuận, v.v… cho phép chúng ta khẳng định rằng, trong thơ Bôtep, chất trữ tình luôn luôn gắn liền với tinh thần công dân và âm điệu lãng mạn luôn luôn quyện chặt với tâm trạng của người thanh niên yêu nước.

Bôtep viết Gửi bạn (1868) trong những ngày cuối cùng ở Calôphe. Bài thơ được in trên báo Bình minh trên sông Đanúyp, cơ quan ngôn luận của những nhà cách mạng Bungari lưu vong ở Rumani. Chủ đề tư tưởng của bài thơ là sự xung đột gay gắt giữa tinh thần cách mạng nồng nhiệt của người thanh niên yêu nước và tâm lý nhỏ nhen tiểu tư sản của “những tên ngu ngốc” trong xã hội Calôphe và của bọn tsoócbagi phản bội:

Bạn ạ, thật khó khăn phải sống

Giữa những tên ngu ngốc tối tăm.

Hồn tôi bốc cháy trong lửa hận

Bao vết thương xé nát tim gan

Cũng như ở nhiều nhà thơ cách mạng khác, ở Bôtep, tình yêu và căm thù thường hỗ trợ lẫn nhau, và mặt này là tiền đề của mặt kia:

Tôi yêu quý tha thiết Tổ quốc

Tôi giữ gìn di sản cha ông

Tôi thù ghét những tên ngu ngốc,

Giận điên lên, tôi mất cả trí khôn

(Gửi bạn)

Theo đuổi tình yêu lớn lao ấy, trong Gửi mối tình đầu (1871), Bôtep từ chối tình yêu nhỏ, hạnh phúc đựng trong tà áo hẹp. Bài thơ gửi cho một nữ danh ca mà Bôtep đã yêu say đắm trong những ngày ở thị trấn quê hương. Có lẽ, cũng có ai đó nông nổi lại nghĩ rằng: tuổi hai mươi với nhịp đập náo nức trong con tim của một thanh niên và tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ; tại sao Bôtep lại dễ dàng từ chối hạnh phúc cá nhân? Còn Bôtep thì nghĩ khác; và người thanh niên cách mạng “có trái tim bọc kín hằn thù” ấy đã nói thẳng với người yêu:

Em hãy dứt khoát tình ca ấy

Đừng rót vào tim anh chất độc nữa em!

Anh còn trẻ, nhưng đã quên tuổi trẻ,

Dẫu nhớ ngày xanh, anh chẳng muốn bới đào lên.

Thái độ đứng trước nghĩa cả và tình riêng, trước tình yêu của cách mạng và hạnh phúc gia đình thật rõ ràng, dứt khoát. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì bài thơ ít có tác dụng to lớn trong thanh niên trí thức và hàng ngũ nghĩa quân về sau. Nhà thơ viết tiếp:

Giọng em trong, tuổi em còn trẻ,

Nhưng em có nghe tiếng hát của rừng?

Em có nghe người nghèo nức nở?

Tâm hồn anh khao khát nghe tìm.

Lòng anh gọi anh về xứ sở,

Nơi máu người đang chảy loang.

thì người đọc đều rõ là vì ai, vì lý tưởng nào mà người thanh niên cách mạng ấy phải tạm quên lãng tình yêu cá nhân.

Bài thơ được viết ra do những ấn tượng tươi mát của nhà thơ về những chiến công của nghĩa quân Hátghi Đimitrơ và Stêphan Carátgia. Gửi mối tình đầu còn là bài thơ có tính chất cương lĩnh để bảo vệ thơ ca anh hùng. Trong thơ trữ tình chính trị của Bôtep, vai trò cá nhân, nhân vật trữ tình thường được nhận thức như một sứ giả hay một sức mạnh xã hội tích cực. Vì vậy khi tình cảm của nhà thơ hướng về người mẹ, người yêu, người bạn, ngay cả về cái chết của người đồng chí, thì chúng ta cũng thấy được một tình cảm rất lạ, cái tình cảm dạt dào và sâu thẳm vô cùng. Niềm đau đớn đứt gan, xé ruột của nhà thơ trước cái chết của một chiến hữu, cũng là nỗi đau mất nước của toàn dân tộc:

Ôi Bun - ga - ri!

Ôi mẹ hiền, ôi Tổ quốc thân yêu!

Sao mẹ khóc buồn thương đến thế.

Và quạ kia, giống chim ta nguyền rủa

Trên mộ ai mi cất tiếng kêu?

(Cuộc xử giảo Vátxin Lépxki)

Trong Gửi mối tình đầu, từ chối “những lời ca đầu độc”, “những khúc u buồn”, nhà thơ cách mạng đòi hỏi các nhà thơ phải ca ngợi “những cơn dông bão ngàn đời gầm thét”, “những bài ca thương đau mới”.

Cơn dông bão mà Bôtep mơ ước, trông chờ, chính là cơn dông bão do nghĩa quân Hai đúc đang dấy lên và đang làm chuyển động khắp núi rừng Ban căng. Thơ trữ tình cách mạng viết về nghĩa quân Hai đúc đã chiếm một vị trí khá lớn trong toàn bộ thơ ông. Người ta hay nhắc đến những bài thơ Nghĩa quân Haiđúc, Hátgi Đimitrơ, Dông bão, Những lời vĩnh biệt, v.v…

Bôtep viết Nghĩa quân Haiđúc năm 1868, nhưng mãi đến bă năm sau bài thơ mới được in trên báo Tiếng nói của những người lưu vong Bungari. Đây chỉ là phần đầu của bài thơ. Bài thơ kể lại cuộc đời của Tsapđa, một thủ lĩnh nghĩa quân, từ tấm bé cho đến những ngày “đoàn quân trung dũng” của ông làm cho quân Thổ và những tên tsoócbagi bạt vía, kinh hồn. Quân đội đó lúc đầu gồm rất ít người, nhưng qua hàng chục năm rèn luyện dưới sự chỉ huy tài giỏi và mưu lược của Tsapđa, nghĩa quân Haiđúc đã trở thành người cứu tinh của nhân dân cần lao:

Vừa vặn hai mươi năm chẵn

Tsapđa chỉ huy đội nghĩa quân.

Ông làm cho giặc Thổ hoảng kinh.

Bè lũ chúng rụng rời khiếp sợ

Ông dang cánh ấp ôm che chở

Người nông dân nghèo khổ gần xa.

Tên tuổi và chiến công thần kỳ của Tsapđa cũng như tên tuổi và chiến công thần kỳ của Hátgi Đimitrơ đã được nhân dân khắp nơi, từ núi Xtơrangia đến bờ sông Đa nuýp, từ đồng bằng Rumêli đến biển Êgiê, chuyển thành lời ca, tiếng hát. Với bút pháp anh hùng ca dân gian, cả đến cái chết của vị dũng tướng Hátgi cũng được nhà thơ đặt vào một khung cảnh vừa hào hùng (Có mặt trời phẫn nộ, có chim ưng và phượng hoàng nâng giấc ngủ chăm nom), vừa lộng lẫy (có trời đầy sao, rừng xào xạc và những nàng tiên chăm sóc anh hùng) như một truyền thuyết nào đó:

Người nằm yên. Cao tận trong xanh

Mặt trời đứng dừng, phẫn nộ, cháy bùng

Cánh đồng xa vang tiếng ca những nàng thợ gặt.

Trong một thời gian dài, nhân dân không tin Đimitrơ đã chết. Người ta kể rằng, trước sức phản công của quân Thổ mạnh hơn hàng chục lần, Đimitrơ thoát được, và cùng với nghĩa quân của mình lánh vào rừng sâu, lên những mỏm núi cao chót vót, đi khắp núi rừng Ban căng, một lần nữa mưu việc lớn, gan góc tiếp tục chiến đấu cho đến khi không còn bóng một tên xâm lược Thổ trên đất nước hoa hồng của mình:

Trước kia, trên đỉnh Bancăng, Người vẫn còn sống mãi.

Người nằm yên, rên rỉ, máu đầm đìa

Ngực loét thủng một vết thương khủng khiếp

Gục giữa tuổi xuân, vị anh hùng không chết.

Năm 1868, Bôtep viết Những lời vĩnh biệt. Đó là lúc ủy ban khởi nghĩa quyết định gửi về Tổ quốc một đơn vị nghĩa quân trong đó có Bôtep. Nhân vật trữ tình của bài thơ là con người hành động, người chiến sĩ của nghĩa quân Haiđúc đang chiến đấu cho nền độc lập Bungari. Nhân vật hướng về mẹ hiền:

Mẹ ơi, đừng khóc!

Vâng, con mẹ là quân Haiđúc

Quân Hai đúc, “một tên phiến loạn”

Con đã làm cho mẹ đau buồn

Mẹ chịu tang một đứa con đầu

Mẹ chớ khóc mà nên nguyền rủa

Sự bạo ngược của quân giặc Thổ

Trong cuộc chiến đấu quyết liệt và không cân sức với kẻ thù dân tộc, người thanh niên ấy đã lường trước được những gì sẽ xẩy ra, có thể làm héo hon quả tim người mẹ:

Nếu… con đã trúng đạn kẻ thù

Ngã gục

Thì mẹ ơi, đừng khóc!

Và lời trối trăng của người chiến sĩ khi ngã xuống:

Mẹ bảo các em ghi nhớ đừng quên

Đi khắp núi cao hốc đã kiếm tìm

Thịt con trắng, thịt con khô cứng,

Tìm trên những mỏm đá, các chim ưng bay liệng…

Bài thơ hơi nặng nề vì gợi lên sự hy sinh của người chiến sĩ trong khi mới lao vào cuộc đấu tranh sinh tử với quân cướp nước, song những ưu điểm khác của bài thơ như khí phách và tình cảm cách mạng của nhân vật trữ tình, thủ pháp tượng trưng và ngôn ngữ giàu chất thơ đã làm cho trở thành một bài thơ trữ tình cách mạng hay.

Bôtep còn viết nhiều bài thơ thuộc loại triết lý xã hội. Mẫu mực của thể loại này là Bi ca (Elégle). Phần đầu của bài thơ là những câu hỏi về nguyên nhân gây ra ách áp bức dân tộc. Và nhà thơ trực tiếp trả lời, vạch mặt chỉ tên thủ phạm củ ách áp bức đó là Nhà nước và Giáo hội, là “con của Lôiôla và anh em của Giuđa”[5]. Trong những phần tiếp theo, Bôtep nói đến một sự thật đau đơn, đầy kịch tính. Mặc dầu bị áp bức “cổ đeo ách nặng”, nhưng nhân dân khi chưa được giác ngộ cách mạng thì vẫn không có ý thức về tình trạng bị áp bức, vẫn tin vào những lời kêu gọi tự do và giải phóng. Và cuối cùng “dân chúng vẫn kéo lê xiềng xích”.

Nhà thơ cách mạng thấy muốn chặt đứt xiềng xích nô lệ, thì phải làm cho quần chúng lao động hiểu rằng, không thể tin vào lòng nhân đạo giả dối của giai cấp thống trị, cũng không nên chờ sự khủng hoảng trong nội bộ giai cấp chúng, mà chỉ còn một lối thoát duy nhất là đấu tranh. Bài thơ kết luận:

Lẽ đâu ta tin bọn sói lang

Khi ta cũng chờ đến lượt vùng lên.

Bôtep thường trở đi trở lại chủ đề này trong một số bài chính luận.

Nhà thơ cách mạng đã nhìn rất rõ kẻ thù. Chúng là “Xalômông, tên bạo chúa hoang dâm” (Tranh đấu), là giáo hội và sự liên hiệp mờ ám giữa nó và chính quyền chuyên chế (Lời cầu nguyện của tôi), v.v…

Tranh đấu là một trong những tuyên ngôn thơ ca mạnh mẽ nhất của Bôtep về cách mạng. Trong bài thơ, sau khi nói lên cái hiện thực cay đắng, mỉa mai ở một xã hội mà “tội ác đã thành luật pháp”, trong một cuộc sống mà con người “bị thú dữ lột da” cũng phải chịu đựng “nhẫn nhục, cầu khẩn”…, nhà thơ tuyên bố:

Cuộc đấu tranh sôi sục tiên mau

Tiến gấp tới đỉnh cao trận cuối cùng thần thánh…

Ta sẽ thét to:

“Cơm hoặc đạn đồng”

Trong thơ triết lý của Bôtep, ngoài cái cốt lõi, cái tiêu điểm nghệ thuật mà nhà thơ tập trung ánh sáng triết học của mình vào đấy, chúng ta còn tìm thấy những nhân tố tự sự và đả kích châm biếm.

Nghệ thuật đả kích và châm biếm được Bôtep coi là phương tiện hiệu quả nhất trên địa tư tưởng. Ông quan niệm rằng, tiếng cười, lời nguyền rủa, là những vũ khí lợi hại để chống kẻ thù; “Dưới gót sắt của bọn dã man châu Á (chỉ bọn phong kiến Thổ Nhĩ Kỳ đi xâm lược) không một ai có thể cười, có thể khóc, khắp bờ sông Đa nuýp, tiếng cười đã biến thành tiếng chửi và lời nguyền rủa”[6].

Những mũi tên đả kích của ông đã gây ra những vết thương khủng khiếp cho bọn phản động thống trị nhân dân, bọn giáo sĩ đạo hồi, và các loại phản bội khác.

Ngày lễ thánh Gioócgiơ, Nhà ái quốc, Kẻ hồi cư, Trong quán rượu, v.v… là những bài thơ thuộc loại chủ đề nói trên. Phần lớn những bài thơ này ra đời trong những năm cuối cùng của đời ông. Ngày lễ thánh Gioócgiơ phản ánh tâm trạng lo âu của người chiến sĩ cách mạng trước tình trạng “ruỗng nát của đất nước”, khi nhân dân biến thành người nô lệ và vua chúa là tên “mục đồng đần độn”. Bằng giọng văn châm biếm vừa chua chát, vừa căm giận, nhà thơ vạch trần cảnh tượng giả dối trong ngày lễ thánh Gioócgiơ. Trong lịch Bungari, 23/4 là Ngày lễ thánh Gioócgiơ, ngày hội của ngành chăn nuôi cừu, Bôtep muốn mượn sự kiện này để dẫn đến hình tượng ẩn dụ đàn cừu non và tên mục đồng ngu dại:

Người xem kìa:

Giàu và nghèo đều say cả, hát lên

Cùng đức cha tán tụng Chúa, bề trên…

Dân hỡi, hãy vui đi! cứ thế

Như đàn cừu be be bên lũ chó

Bước lặng êm theo gã mục đồng

Để thể hiện rõ nội dung châm biếm của bài thơ, Bôtép đã mượn một đoạn trong bài thơ nổi tiếng của Puskin Người gieo hạt giống tự do trên đồng vắng làm đề tài:

Gặm cỏ đi, hỡi dân chúng cầu an[7]

Tiếng gọi của danh dự sẽ không thức tỉnh các người đâu,

Những tặng vật của tự do

Không có nghĩa gì đối với những đàn cừu

Chúng đang đem giết hoặc hớt trụi lông.

Trong bài thơ, Bôtép đã tỏ thái độ căm giận đối với bọn bóc lột thống trị, đã nói lên được một sự thật đau lòng của lịch sử, nhưng nhà thơ chưa có quan điểm đúng đắn về vai trò và sức mạnh của nhân dân trong lịch sử, nên đã có cái nhìn bi quan lệch lạc về họ.

Ở những bài còn lại, Bôtép đã đưa ra trước tòa án lương tâm những hạng người đó là: “giống vô loài”, chẳng biết mình là “người hay cầm thú”. Bấy giờ, việc một số thanh niên xuất dương sang Rumani và Xécbi để tham gia cách mạng, đã tự tiện trở về, vì không chịu được gian khổ, hy sinh, đã gây nên sự phản ứng mạnh mẽ trong hàng ngũ cách mạng, nhất là giữa lúc Tổ quốc đang cần nhiều đơn vị nghĩa quân vượt sông Đanuýp trở về hành động. Chính Bôtép là tấm gương sáng ngời về vai trò tiên phong trong hành động cách mạng đó. Tháng 4/1876 cuộc khởi nghĩa của nhân dân Bungari bị dìm trong biển máu. Trong những ngày sôi sục căm thù đó, Bôtép dẫn đầu một đội quân khởi nghĩa gồm 175 người vượt sông Đanuýp trở về giải phóng quê hương. Nghĩa quân thẳng tiến về thành phố Vrattxa. Trước sự phản công điền cuồng của quân Thổ, nghĩa quân phải tạm thời rút vào núi Bancăng.

Đối tượng đả kích trong bài thơ Trong quán rượu là những tên phản bội, những kẻ vong bản. Thái độ của nhà thơ là thái độ quyết chiến:

Chúng ta cất lời ca phẫn khích

Ta giương nanh, trước bọn hung tàn

Những quán rượu đối với ta quá hẹp

Ta gào lên: “Vào núi Ban căng!”

Di sản thơ ca của Bôtép để lại không nhiều, nhưng rõ ràng Bôtép đã chiếm một vị trí đặc biệt và là một trong những người đi đầu trong nền văn học cách mạng dân tộc. Nửa thứ hai của thế kỷ XIX, trong nền văn học Bungari xuất hiện khuynh hướng dân chủ. Những nhà hoạt động văn hóa ở giai đoạn này chia làm hai nhóm: nhóm những nhà ánh sáng, và nhóm những nhà dân chủ cách mạng. G.Rakốpxki và Cr. Bôtép thuộc vào nhóm sau. Hoạt động thơ ca của Bôtép là tấm gương trong sáng cho những nhà thơ thế hệ sau, chính là nhờ ông đã có những quan điểm đúng đắn về văn học và thơ ca. Bôtép khẳng định rằng: “khoa học, văn học, thơ ca, v.v… là sản phẩm và sự phản ánh đời sống của nhân dân”[8]. Nhà thơ đòi hỏi tác phẩm nghệ thuật trả lời những yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân mình, thời đại mình, đồng thời phải chú ý đến những vấn đề mà nhân loại quan tâm. Trên thực tế, Bôtép đã đem tác phẩm thơ ca của mình gắn liền với những nhiệm vụ xã hội và giải quyết tốt những nhiệm vụ đó. Biến văn học thành vũ khí của cuộc đấu tranh giai cấp, Bôtép công khai tuyên bố rằng, bản chất của văn học, thơ ca và báo chí nhất thiết phải mang tính chất tuyên truyền chính trị.

Để xây dựng nền văn học cách mạng dân tộc, Bôtép thường xuyên quan tâm đến việc đấu tranh chống mọi biểu hiện của nền văn học tư sản suy đồi và phi dân tộc. Nhà thơ coi văn học và báo chí suy đồi là thứ “văn học ngu ngốc” và “báo chí say mềm”. Bôtép hết sức coi trọng công tác phê bình văn học, coi nó là vũ khí sắc bén để đấu tranh với “mọi điều dữ đang phổ biến trong văn học chúng ta”. Tờ báo Ngọn cờ (1875-1876) luôn luôn mở mục phê bình nghệ thuật và có nhiều bài thơ của nhà thơ. Đặc điểm nổi bật trong những bài phê bình của ông là tính chiến đấu và tính thời sự vốn có trong công tác phê bình của Biêlinxki, Tsecnưsépxki, những người thầy học của ông.

Bài thơ Tại sao tôi không phải là nhà thơ? của Bôtép thực chất là bài phê bình mang tính chất luận chiến sắc sảo. Trong đó, ông châm biếm một cách tinh tế tâm trạng bi quan, tác phong thụ động, hành động xa rời cuộc đấu tranh cách mạng của một số nhà thơ sống ở nửa đầu những năm 70. Trả lời bài thơ Tôi không hát được (1870) của Pétkô Slavâykốp, Bôtép giận dữ và nghiêm khắc phê phán nhà thơ đã tách hoạt động thơ ca của mình khỏi cuộc sống bão táp của dân tộc, đã phủ nhận vai trò tuyên truyền của nghệ thuật thơ ca. Bôtép phẫn nộ lên án bài thơ Lòng tin của tôi (1872) của Ivan Vađốp, bởi vì trong bài thơ đã tuyên truyền cho sự hòa hoãn giai cấp và kêu gọi thái độ “hòa bình xã hội”.

Dưới ảnh hưởng trực tiếp của Bôtép, về sau Slavâykốp và Vađốp đã di vào đúng quỹ đạo của nền thơ ca cách mạng và yêu nước, trở thành những nhà thơ lớn của dân tộc Bungaria.

Những vấn đề mà Bôtép nêu lên từ những năm 70 như việc bảo vệ văn học dân tộc, việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ và việc trau dồi vẻ đẹp của ngôn ngữ Bungaria, việc đấu tranh chống mọi lực lượng văn học phản động, v.v… đã được Liuben Karavêlốp, Slavâykốp và những nhà sư phạm, nhà báo tiến bộ tiếp tục./.

(Bài viết này ký tên Hồ Sĩ Vịnh, Hiếu Giang. Sau khi bài được công bố trên Tạp chí Văn học năm 1967, tham tán văn hóa Đại sứ quán Bungari đã đến Viện Văn học tặng hoa và quà cho chúng tôi). Bài đã đăng trên “Tạp chí Văn học” năm 167

-----------------------------

* Trích trong sách "THƠ TỪ CUỘC ĐỜI

                             THƠ ĐẾN MỌI NGƯỜI

(Hợp tuyển tiểu luận, phê bình về thơ 1963 - 2013) của Hồ Sĩ Vịnh do NXB Dân Trí xuất bản.

[1]  Sinh ngày 25-12-1948 tại thị trấn Ca-lô-phe (bun-ga-ri) con một nhà sư phạm nổi tiếng Bô-chi-u-pét-cốp.

Sau khi học xong năm thứ ba trường trung học địa phương, ông sang Nga, vào trường trung học ở Ô-đét-xa (1863-1865). Ông chịu ảnh hưởng những nhà dân chủ cách mạng Nga. Trở về nước, Bô-tép tuyên truyền cách mạng giải phóng trong thanh niên Bun-ga-ri.

Mơ ước giải phóng quê hương bằng con đường khởi nghĩa, mùa thu năm 1867, Bô-tép sang Ru-ma-ni, nơi trung tâm của những nhà cách mạng lưu vong đang hoạt động. Ở đấy, ông tiếp xúc với những nhà cách mạng Nga như S.X.Nêt-tsa-ép, Mê-lê-đin, Xút-đi-lốp-xki. Ông đã bị chính quyền Ru-ma-ni bắt giữ.

Năm 1869, Bô-tép cộng tác với tạp chí châm biếm Chiếc trống. Năm 1871, ông cho xuất bản báo Tiếng nói của những người lưu vong Bun-ga-ri: Năm 1872-1874, Bô-tép cộng tác với hai tờ báo Tự do và Độc lập của L.ca-ra-vê-lốp. Nhưng sau khi Ca-ra-vê-lốp đã từ bỏ lập trường đấu tranh cách mạng, và đổi sang lập trường hòa bình, thì Bô-tép tổ chức lại Ủy ban cách mạng trung ương và từ đấy trở đi ông thành lãnh tụ của phong trào cách mạng.

Mùa hè năm 1875, Bô-tép lấy một góa phụ trẻ tên là Vê-nê-ta Vê-đi-rép-va Pê-trôp-na.

Đúng một năm sau, ông hy sinh trong một cuộc chiến đấu không cân sức với quân cướp Thổ. Hàng năm, nơi ông ngã xuống, nhân dân Bun-ga-ri thường tổ chức ngày hội để tưởng nhớ người anh hùng vĩ đại của dân tộc.

[2] Hai đúc trong tiếng Thổ nghĩa là quân ăn cướp, kẻ nổi loạn. Trong sự nhận thức của người Bungari có nghĩa là trả thù cho nhân dân, người chiến sĩ của cuộc khởi nghĩa vũ trang. Haiđúc đã biến thành danh từ riêng.

[3] Dẫn theo cuốn Crixtô Bôtép của K.N Đécgiavin; Nxb. Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Mátxcơva, 1962, tr. 186.

[4] Tất cả những bài thơ trích trong bài này chúng tôi lấy trong cuốn Thơ Bôtép, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1962 do Vũ Tú Nam dịch và giới thiệu.

[5] Ignace de Loyola (1491 - 1556), người sáng lập ra giáo phái Giê-duýt (dòng Tên); Judas, một trong mười hai tông đồ, kẻ phản bội, bắn chúa Giê su lấy tiền thưởng.

[6] Sách đã dẫn, chú thích (2), tr. 80.

[7] Trong tập thơ Bô-tép, Vũ Tú Nam dịch là: dân chúng tốt lành. Như vậy, e không sát với nội dung châm biếm của bài thơ.

[8] Cr.Bô-tép (Văn chính luận, Những bài báo, Bút ký và Thư từ); tiếng Nga; Mát-xcơ-va;1952; tr.161.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}