Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Những vần thơ đi tìm trí tuệ của trái tim*

Hồ Sĩ Vịnh | Thứ Hai, 01/05/2017 21:41 GMT +7

Dưới nhan đề mang tính chất ẩn dụ Hòa tấu của mặt trời[1], Vĩnh Quang Lê không có ý đồ to tát đi tìm qui luật âm - dương của vũ trụ bằng hình tượng thơ, ngôn ngữ thơ thời hiện đại, mà hướng tới những đề tài dường như vĩnh cửu, những vấn đề bức thiết đối với con người, thân phận làm người dưới dạng những song đề: đó là tình yêu và sự thù hận, chiến tranh và sự ổn định, thánh thần và trần tục, cái tương sinh và cái tương khắc.

Trong phần I của tập thơ có nhan đề: Người bắn súng chỉ thiên, nhà thơ đã dành nhiều trang nói về một mảng đề tài quan trọng của con người hôm qua và hôm nay: Đó là tình yêu trong chiến tranh. Có thể kể những bài: Những bước chân không dấu, Thợ xây trực chiến, Chuyện làng trinh sát, Chiến hào, Thơ chiến sĩ, Sự thật, Nếu tất cả chàng trai trên trái đất bên nhau v.v… Viết về tình yêu trong chiến tranh, Vĩnh Quang Lê không tường thuật những cảnh chia ly của những chàng trai và cô gái cùng phố; không miêu tả cảnh đường làng đầy khăn tang trắng… mà tìm đến những khát vọng bình dị của mọi người từ các đô thị sầm uất cho đến mọi góc khuất trên trái đất: Nếu tất cả chàng trai trên trái đất bên nhau / Chắc sẽ chẳng có chiến tranh xâm lược / Sẽ chẳng có hận thù và nước mắt / Mỗi ngày thường ta thấy đáng yêu hơn. Trong thơ anh, tình yêu trong chiến tranh của con người vừa rộng lớn vừa cụ thể; nói rộng lớn bởi tình yêu của người mẹ trùng khít với tình yêu Đất Nước: Bốn mươi năm, mẹ chờ chúng con về / Chúng con đã viết lên cành cây, lên mũ, lên áo / Chỉ hai từ thôi: Đất nước - thật ngẹn ngào. (Mẹ đất nước); nói tình yêu rộng lớn, bởi trên chiến trường lập trường của lính không được nói “nhị nguyên”, không được bắn súng chỉ thiên, bởi ở đây chỉ có còn và mất, bạn và thù, người bị xâm lược và kẻ đi xâm lược (Người bắn súng chỉ thiên). Và bao dung hơn, nhân đạo hơn, nhà thơ còn nói với mọi người có lương tri hãy cảnh giác với bọn mưu chiến mới, bởi hậu quả chiến tranh không chỉ gây đau khổ cho nước bị xâm lược mà còn là hiểm họa đối với nước đi xâm lược: Nước Mỹ còn nguyên đó / Những người lính bị thương / Ba mươi năm chưa chết… / Là địa ngục phi thường / Giam giữ người còn sống. Nhưng tình yêu thời chiến tranh cũng rất cụ thể: Một cây na khẳng khiu vì bom chặt nát cành cũng gợi cho người đọc một thi hứng về sự hồi sinh: Mùa na vẫn chín / Hương bay xa / Gọi đàn chim về hót / Một mắt na xanh thôi / Cũng chỉ rõ một khoảng trời mơ ước / Đất nước mình rất xanh / Và tình yêu chín đỏ. (Mắt na). Và đây nữa: một phát hiện về tình yêu của biển; mượn biển để thổ lộ tình yêu của mình. Nhà thơ thấy biển vừa kiêu sa vừa hồn nhiên, vừa dữ dội vừa hiền hòa, tình yêu của biển thì bao la thế mà cuối cũng phải nhận phần thiệt về mình: Biển trong trắng đến không ngờ / Bạc đầu mà chẳng bao giờ được yêu.

Phần hai của tập thơ có tiêu đề: Câu hỏi muôn đời gồm 37 bài, luận về những đề tài vĩnh cửu, những câu hỏi của muôn đời, của nhiều thế hệ: tình yêu và hôn nhân, tôn giáo và lòng tin, dân tộc và ngôn ngữ, cuộc đời và ý nghĩa của kiếp người. Toàn là những vấn đề lớn, nhưng qua cảm thụ của con mắt thơ, Vĩnh Quang Lê có những nhận biết và cách thể hiện riêng từ cảm hứng bất chợt với mong muốn đẩy lên thành triết luận. Nói đến sự chung tình của người con trai: Dù em qua mọi bến bờ nào khác / Anh suốt đời là cát dưới chân em (Cát); Bàn đến một trường hợp bất hạnh của tình yêu: Hôn nhân là mồ chôn của tình ái (Hôn nhân có đôi mắt màu vàng); nhìn đời với cặp mắt biến chứng, giao hòa Thế giới dù vĩnh hằng vẫn có sinh, có biệt / Phật và Giêsu mãi tồn tại song đôi v.v…

Vĩnh Quang Lê không quên tranh luận với những ai lãng quên quá khứ, nhất là quá khứ xứng đáng được khoác vòng nguyệt quế của lịch sử dân tộc. Thậm chí có lúc, có kẻ lý sự rằng, giá như ta cũng đi theo con đường đi của một số nước Đông Nam Á thì có thời có tránh được chiến tranh (! ?). Bài thơ Ai sẽ lấy thân mình lấp lỗ châu / mai là ví dụ. Có phải sự hy sinh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là vô ích, hay đó là sự ngộ nhận lịch sử của một số người thiếu đầu óc tỉnh táo? Bài thơ Thơ gửi bạn đặc công trả lời cho chúng ta câu hỏi trên: Bao đồng đội của ta ngã xuống / Ngực vẫn còn rớm máu đêm đêm / Như nhắc nhở bạn bè còn sống / Không được quên những năm tháng của mình.

Tập thơ chưa phải đã hoàn hảo, còn có nhiều khoảng trống cần được bàn luận để khỏa lấp, nhưng cái đáng quí là sự tìm tòi, lật trở của suy tư trước nhiều câu hỏi của cuộc đời, sự thể nghiệm cách diễn đạt thi hứng, cách xây dựng hình tượng của nhà thơ. Những bài: Điên rồ, Cấu trúc, Bay lên nói đến “Tình yêu bị đánh cắp”; “Cấu trúc giải mã được tình yêu”; hay “Ánh sáng đa chiều của trái tim thầm lặng” v.v… Trong thơ ca thế giới, các nhà thơ tượng trưng, vị lai thường dùng những ngôn ngữ khoa trương, những hình tượng phi lý để diễn đạt những điều có lý với mục đích là điểm nhấn của ý tưởng thơ. Maiakôpxki có kể lại rằng, vào năm 1913 trên đường từ Xaratốp đến Matxcơva ông ngồi cùng toa với người bạn gái, để chứng tỏ tình ý của mình hoàn toàn trong sạch, ông nói với cô ta rằng, “Tôi không phải là đàn ông mà là đám mây mặc quần”. Hai năm sau, “Đám mây mặc quần” cần cho ông đặt tên một trường ca. Vậy đó, không phải cái lạ nào cũng đưa đến cái mới; nhưng cái lạ thường có thể dẫn đến sự cách tân.

Trong bối cảnh thị trường văn học xô bồ như hiện nay, việc bạn đọc chọn để tìm mua được một thi phẩm hay là nhiều phần khó, đòi hỏi sự cố vấn của những nhà phê bình. Còn đối với nhà thơ, dù trình độ người đọc có pha tạp, thì lý tưởng sáng tạo anh ta đòi hỏi sự bền bĩ, chấp nhận sự tìm tòi chưa đạt, tin vào những sở trường, những trải nghiệm của mình để bước tiếp. Tôi tin ở Vĩnh Quang Lê có những tiền đề và điều kiện đó, bởi anh là nhà thơ có khuynh hướng, có lý tưởng thẩm mỹ, mà nói như một nhà thơ lớn, chỗ nào có khuynh hướng là chỗ ấy bắt đầu có thơ ca.

Tháng 6/2005

Báo Nhân Đạo - cơ quan Trung ương

Hội chữ thập đỏ Việt Nam

----------------------

* Trích trong sách "THƠ TỪ CUỘC ĐỜI

                             THƠ ĐẾN MỌI NGƯỜI

(Hợp tuyển tiểu luận, phê bình về thơ 1963 - 2013) của Hồ Sĩ Vịnh do NXB Dân Trí xuất bản

 

[1] Vĩnh Quang Lê: Hòa tấu của mặt trời, NXB Hội nhà văn, 2001.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}