Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Nửa ngày về chiều - Nỗi niềm người khao khát lẽ công bằng

Phạm Việt Hà | Thứ Năm, 09/01/2020 10:29 GMT +7

Trân trọng giới thiệu tham luận của Phạm Việt Hà "Nửa ngày về chiều - Nỗi niềm người khát hao lẽ công bằng" tại Hội thảo khoa học “Xuân Trình – Nhà viết kịch, Nhà lãnh đạo Sân khấu tiên phong của sự nghiệp đổi mới” tổ chức ngày 30/11/2019 tại Hà Nội.
 

Xuân Trình với một trái tim đầy mẫn cảm, cả một đời lăn lưng để sống, ba chìm bẩy nổi mà tồn tại, biết đau và biết đồng cảm với những thiệt thòi mất mát của những người dưng ông gặp... để rồi, con mắt tinh tường đã sớm nhìn thấy bao điều nghịch lý trong lẽ thuận chiều, đã gọi ra được những điều bất bình thường, vô lý mà vẫn mặc nhiên tồn tại… Cứ đi giữa dòng đời mà đau đáu xót xa, càng ở cuối con đường kịch của Xuân Trình càng sắc sảo và có sức lay động hơn. 


Nửa ngày về chiều là một trong những tác phẩm cuối cùng ông viết, đã được Đoàn kịch nói Hà Nam Ninh (cũ) và Đoàn kịch nói Quân đội dàn dựng tham dự Hội diễn sân khấu năm 1990. Không có may mắn được xem vở diễn, nhưng khi gấp lại những trang kịch, nhân vật của ông cứ ám ảnh tôi biết bao điều về nhân tình thế thái, về lẽ đời thuận - nghịch, thực - hư; được - mất..., trong đó, nỗi niềm khao khát công bằng cứ khắc khoải, xót xa...


Gần cả cuộc đời chiến đấu, hy sinh cho đất nước, trở về với đời thường bằng hai bàn tay trắng ở tuổi đã xế chiều, Tư Hoằng chỉ mang theo một ước mơ giản dị: Được sống đoàn tụ bên con cháu những tháng năm còn lại. Thế nhưng, hiện thực cuộc sống và cơ chế cứ xô đẩy ông, cuộc đời người sỹ quan già đã được ông tự ví như cái giẻ rách, chó tha đi, mèo tha lại. Muốn xin ra quân tại Sài Gòn để làm chỗ dựa cho con không được, muốn ở Hà Nội để gần gũi nương tựa bên con không được. Đành về quê tuân theo chính sách thì cái thân già tội nghiệp phải đến nương nhờ nhà trẻ mồ côi.


Cái lý do then chốt đẩy cuộc đời Tư Hoằng đến chỗ bơ vơ chính là sự quan liêu cứng nhắc của cơ chế, là sự đãi ngộ với những người có công với nước chưa được quan tâm xứng đáng nên nhân vật rơi vào cảnh mất tự do và thiếu công bằng. Các con và đồng đội quyết liệt đòi hỏi công bằng cho ông, còn ông cứ giữ niềm tin sớm muộn gì những bất cập hiện thời sẽ được thay đổi... Xuân Trình cứ vừa đấu tranh, vừa hy vọng, ông đã đặt Tư Hoằng vào giao điểm của các mối quan hệ để nói cho được hết những nỗi lòng.
Ngày đoàn tụ, ngỡ ngàng trước những suy nghĩ thực dụng, những ảo tưởng của các con về mình, ông dắt họ trở lại những vùng chiến đấu cũ thăm lại đồng đội xưa mong chia sẻ với con những phẩm chất đáng trân trọng của người lính. Gặp lại Năm - người đã từng cùng ông vào sinh ra tử giờ đây đang chật vật kiếm sống bằng cái mác thương phế binh, tự chạy trốn khỏi quá khứ của mình. Cái danh thằng lính cách mạng đã bị đồng đội ông bán đi vì mưu sinh, vì cái giá của 19 năm, 7 tháng đi chiến đấu cho cách mạng với năm lần bị thương không đủ để trở về sống trong sạch... Trong khi đó, những kẻ ăn trên ngồi chốc, lúc chiến tranh sống no đủ ở nơi không bom đạn, giờ lũ lượt kéo nhau về bằng sự luồn lách đã kịp có cuộc sống đàng hoàng, sung túc. Có kẻ đang làm chủ ngôi biệt thự xưa kia ông và đồng đội đã sống và chiến đấu, đối xử tệ bạc cả với nắm xương tàn của người liệt sỹ còn đang nằm lại góc vườn chưa kịp chuyển đi. Chính sự thiếu công bằng đã dẫn đến nghịch lý ấy và một người lương thiện, liêm khiết như Tư Hoằng cứ giữ nguyên vẹn phẩm chất người lính để mà ngỡ ngàng trước những đổi thay của thời cuộc. Cả cuộc đời đi chiến đấu, đòi hỏi đầu tiên của ông với cách mạng là muốn xin ra quân tại Sài Gòn đã không thành hiện thực, người ta giải thích với ông là đơn vị cũ của ông cũng đã rời khỏi thành phố... Thế nhưng, ngay cả một chiến sỹ công an - người đại diện cho công quyền duy nhất xuất hiện trong kịch lại có mối quan hệ khá thân thiết với kẻ biết chạy chọt thì đến bao giờ may mắn với đến bên ông?


Số phận hẩm hiu cứ bám riết lấy Tư Hoằng, trở về Hà Nội, một lần nữa cơ chế quan liêu, cứng nhắc đã phá vỡ hy vọng về công việc lập nghiệp, những mơ tưởng về cảnh sống đoàn tụ tìm chốn nương thân cuối đời của ông. Ông không được ở lại thành phố với con vì chính sách quy định khi đầu quân ở đâu lúc ra quân sẽ được trả về nơi ấy. Là người tự trọng, và cái khổ nhất cho cuộc đời ông cũng chính là vì thế. Ông trở về quê hương để được danh chính ngôn thuận, để không phải phiền lụy... nào ngờ, quê hương ông, sau bao biến thiên dâu bể, sự trở về của ông có khác nào như người chết sống lại, gây phiền toái cho bao nhiêu người, đến nỗi phải chịu tiếng xấu: Nhà Sài Gòn có, Hà Nội có, mà vẫn tiếc rẻ đâm đầu vào xó bếp tranh với dân từng thước đất... Để rồi, ông chỉ còn chỗ trong nhà trẻ mồ côi. Một người đã ở cái dốc bên kia của cuộc đời, sau bao thăng trầm vật lộn với đời đến phút cuối lại quay về nhà trẻ mồ côi. Có nghiệt ngã chăng khi cho đây là cái vòng tròn oan nghiệt, tay trắng - trắng tay, ông giờ đây cũng không khác gì những đứa trẻ ngây thơ kia Cái gì không có thì nó là không có. Ông chẳng có cái gì cả!


Xuân Trình bản lĩnh, sắc nhọn, cứ thủ thỉ mà khơi thêm tột cùng nỗi đau. Ông đưa Tư Hoằng vào nhà trẻ mồ côi là để mong chia sẻ nỗi cô đơn tột cùng của sự bơ vơ không nơi nương tựa, một hoàn cảnh đáng thương có thể làm lay động cả những trái tim sắt đá nhất, và cũng không thể có một lời nào gợi được nỗi cô đơn của Tư Hoằng hơn thế nữa. Kỳ diệu thật, diễn tả nỗi cô đơn nhường ấy mà không cần đến một câu chữ nào tả sự cô đơn, mà thấm, mà đau.


Công bằng là một lý tưởng tốt đẹp. Chính vì nó mà ba hy sinh, mà chúng con chịu đựng (Lời của Huyện). Câu nói mang đấy ý nghĩa khái quát ấy đã được Xuân Trình lấy làm hạt nhân cho nhân vật kịch của mình. Công bằng là vấn đề cốt tử, là khát vọng tốt đẹp mà con người luôn vươn tới. Người ta, ai cũng muốn tạo dựng cho mình cuộc sống no đủ, hạnh phúc, nhưng không thể là sự tước đoạt, là sự đi hái ở vườn người. Là người nhạy cảm, Xuân Trình đã cảm được những điều bất ổn, những điều chưa hợp lý đang đặt ra cho chúng ta ngay trên ngưỡng cửa hòa bình. Cứ tưởng rằng, thắng giặc, được tự do là sẽ có công bằng, nhưng thực chất đó mới chỉ là sự công bằng - một nửa. Có trớ trêu chăng khi Tư Hoằng cả đời chiến đấu để dành lấy công bằng cho dân tộc thì chính ông lại rơi vào bi kịch của sự thiếu công bằng, và vì thế nên chơ vơ, đơn độc ngay giữa người mình, nước mình? Chính sự bi hài này càng làm nhen thêm những nỗi đau! 


Xuân Trình viết kịch, vì muốn gửi vào trong từng sáng tạo những vấn đề vốn làm day dứt trái tim đầy mẫn cảm như ông. Một xã hội công bằng - đó là điều ông hằng khao khát mà không chỉ đến Nửa ngày về chiều ông mới đề cập đến, mà đã thấp thoáng trong rất nhiều tác phẩm khác khi ông lên tiếng bênh vực lẽ công bằng, tự do, dân chủ cho những người dân thấp cổ bé họng không biết kêu ai chỉ biết kêu trời mà trời thì... Ở quá xa!


Số phận hẩm hiu của người sỹ quan già được xây lên từ nguyên mẫu một đảng viên ở Nghệ An khi về hưu không biết đăng ký hộ khẩu vào đâu chỉ là một trong rất nhiều những thân phận thiệt thòi khác trong xã hội mà ông gặp. Những người đã hy sinh máu xương cho độc lập dân tộc, nhưng ngày hoà bình, có trường hợp thậm chí còn không được công nhận là thương binh vì bị mất giấy tờ, không được công nhận là liệt sỹ vì giấy báo tử thất lạc, người đã chết cứ bị cãi là còn sống nên không được hưởng một sự đãi ngộ nào. Đây là vấn đề nhức nhối mà gần 30 năm qua khi những người có công đã gần đất xa trời, nhiều người đã vĩnh viễn ra đi... mới được giải quyết phần nào ổn thoả. Xuân Trình cứ vừa đấu tranh, vừa hy vọng, Tư Hoằng trở về sau chiến tranh, đối diện với bao nghịch lý của cơ chế nhưng trong ông vẫn có niềm tin sắt đá vào cái Chân, cái Thiện của con người. Những điều trớ trêu của số phận đem đến đã không làm lung lạc người sỹ quan già, ông vẫn hoà nhập sôi nổi, quên đi bất hạnh của riêng mình, ngày ngày tập trung các cháu học sinh tập thể dục rèn luyện thân thể để bảo vệ tổ quốc, hăng hái vận động thanh niên lên đường nhập ngũ với niềm tin tuyệt đối rằng sớm muộn gì những người có công với nước sẽ được đền đáp xứng đáng. Ông vẫn tha thiết tin vào những điều tốt đẹp, vào lẽ phải ở đời: Bố vẫn tin là có và sẽ có nhiều người. Làm người lương thiện đắt giá lắm con ạ. Nhưng lương thiện mà giàu sang thì kẻ ác tranh nhau làm người lương thiện hết cả rồi! (Lời ông Hoàng nói với con trai).


Xuân Trình bền bỉ, gắng gỏi mà đầy trân trọng. Ông luôn tìm được những nghịch lý trong lẽ thuận chiều, không tin ngay vào những điều đến từ trực giác, mà tinh tế, nhạy cảm, len nhè nhẹ đến để cảm thông với từng nỗi đau thân phận. Ông là một trong số ít những nhà viết kịch tới được phần vô cùng nhạy cảm của nỗi đau. Thường thì, người đời hay ngụy trang cho nỗi đau bằng những nụ cười, nếu không thạo dò la những điều tinh tế sẽ không bao giờ chạm tới được. Tư Hoằng chấp nhận chịu nhiều thua thiệt là bởi vẫn tin ở ngày mai, nhưng cái bề nổi ấy lại làm nhà văn day dứt, thôi thúc ông đi tìm cái mạch ngầm, lật ngược vấn đề để tìm ra nguyên cớ. Trái tim ông vẫn khao khát, vẫn tin rằng sớm muộn gì công bằng cũng đến, nhưng lý trí cũng mách bảo ông công bằng theo đúng nghĩa, theo đúng sự ưu việt của nó còn ở đâu đó, xa xôi... Ít nhất, cho đến lúc ấy, công bằng chưa thành hiện thực mà mới chỉ nằm trong khát khao, trong mơ ước mà thôi.


Vì thế ông đã để cho kịch của mình một cái kết mở, mỗi người được tự xây cho mình cái kết về số phận nhân vật Tư Hoàng. Thế nhưng, sao cứ khắc khoải, cứ ám ảnh về những khát khao, những ước mơ bình dị của ông. Xuân Trình đã đặt vấn đề và bênh vực cho lẽ công bằng ở đời, nhưng ông chỉ nêu mà không giải quyết. Công bằng dường như vẫn cứ ở tương lai và thế hệ chúng ta là những người đi tiếp…


Từ ngày con người ý thức được lẽ công bằng, đã có biết bao thế hệ đã đi, đi bằng nhiều cách, bằng nhiều con đường mà vẫn chưa tới được. Không phải ngẫu nhiên khi Xuân Trình để công bằng cứ lơ lửng trong mỗi ước mơ, khát khao và hy vọng được cụ thể hoá trong số phận Tư Hoằng- cái điều cứ xa vời vợi mà càng cố tìm càng rơi vào bi kịch, cứ mỗi lần nhen nhóm là một lần đối mặt với biến cố, nó như cái đích ở trong vô tận cứ càng đuổi thì càng xa. Cho đến hôm nay, cái được gọi là công bằng mới dừng lại ở những gì tương đối. Công bằng cho mỗi cá nhân, công bằng trong gia đình, trong xã hội là khát vọng lớn lao nhất của con người mà xã hội càng phát triển con người càng cần được hưởng sự công bằng.


Nếu như, ở Thời tiết ngày mai, Mùa hè ở biển, Lập xuân… đều với một cái kết phơi phới tương lai thì ở đây, trên từng trang viết không còn thấy một Xuân Trình vốn lạc quan mà nỗi ngậm ngùi, buồn tủi cứ chảy trong từng mạch ngầm câu chữ. Hình như, ông đã linh cảm phần nào những bất hạnh đang rình rập, nên trong mỗi nghiền ngẫm, suy tư cứ thấy se sắt một nỗi buồn, nỗi cô đơn khi cái buổi xế chiều của cuộc đời đang xuống dần, hắt hiu, ảm đạm. Dường như, sự đấu tranh cho lẽ phải, cho sự công bằng đã phần nào mệt mỏi.


Ai đó đã từng nói, muốn sống cùng hậu thế, người viết phải biết cách đi trước thời đại của mình. Tác phẩm của Xuân Trình không chỉ phản ánh chân thực sinh động cuộc sống, lấp lánh cái nhìn nhân bản mà còn ẩn chứa những dự báo lúc mơ hồ, khi rõ rệt về tương lai. Nửa ngày về chiều ông viết năm 1990, khi cuộc chiến tranh đã lùi xa 15 năm và cũng đã 5 năm sau đổi mới. Đất nước chúng ta bước sang trang mới đã làm được nhiều điều trên các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, xã hội..., từng bước xây dựng một xã hội công bằng, văn minh. Nhưng cuộc sống bước đầu yên ấm, no đủ đã không khiến nhà văn yên lòng. Bằng trái tim của niềm yêu và đôi mắt biết nhìn xa trông rộng, ông đã có những dự cảm về một cái gì đó chưa ổn mà thiệt thòi lại rơi vào những người trung thành, liêm khiết ông vốn tin yêu, muốn đòi hỏi một chính sách đãi ngộ xứng đáng. Đâu phải chỉ là đất nước ta nghèo, mà chính là sự thiếu công bằng... (Lời của Phụng). Với ông, chừng nào xã hội chưa xác lập được sự công bằng, chừng đó còn những số phận hẩm hiu, càng tốt càng thiệt thòi.
Những điều cay đắng cứ dồn dập xảy đến với cái nửa đời đã về chiều của Tư Hoằng là một nỗi đau chung rất thật, đặt ra cho chúng ta bao điều phải nghĩ, bao việc phải làm trong hoà bình. Đây còn là danh dự tổ quốc trước công lao của những người đã vì đất nước này mà cầm súng, một vấn đề cứ tưởng rằng đơn giản nhưng sẽ không thể giải quyết một sớm, một chiều. Nếu không, vô hình chung, đất nước này sẽ trở thành kẻ vô ơn!


Không chỉ dừng lại ở đó, vượt lên trên số phận Tư Hoằng, Xuân Trình muốn hướng đến tự do công bằng - vấn đề muôn thuở cho tất cả mọi người. Ngày hôm nay, công bằng vẫn là mục đích đầu tiên để đất nước chúng ta xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thế giới hôm nay vẫn một ngày không im tiếng súng là bởi người ta cũng đang chiến đấu, hy sinh để đấu tranh cho tự do, hướng tới một xã hội công bằng.


Xuân Trình là người sớm phát hiện ra những bất cập trong chính sách đãi ngộ, trong cách đối xử với những người có công với nước ở giai đoạn đầu sau giải phóng. Cái vấn đề nhạy cảm lẽ ra người ta phải trọng Tình hơn Lý, thì với cái Lý cứng nhắc, ấu trĩ đã vô tình gây thiệt thòi cho bao nhiêu người. Đặt vấn đề công bằng xã hội những năm 1990  không phải là một cái nhìn mới, nhưng đó là vấn đề muôn thuở, vấn đề luôn ở tương lai, là cái đích để con người mãi mãi phấn đấu. Với thái độ trân trọng, dám nói thẳng, thẳng đến quyết liệt đã thể hiện sự dũng cảm của ngòi bút Xuân Trình. Ông nói thẳng nhưng nói ôn tồn, nhũn nhặn mà hướng thiện chứ không đả phá. Vì thế mà không cần đến những lời thoại nảy lửa, hay mạt sát, độc địa, đặt một vấn đề lớn, vô cùng nhạy cảm, có sức lay động mà không u ám. Chất văn học thấm đẫm cả trong từng mạch ngầm lời thoại ở nghệ thuật đưa nhân vật kịch đến nhiều không gian khác nhau, ở trong từng ý nghĩa biểu tượng vừa cụ thể lại khái quát như nghĩa trang - biệt thự, nhà trẻ mồ côi... Kịch bản vì thế đã có giá trị độc lập, hấp dẫn ngay cả khi tiếp cận nó từ phương diện văn bản - điều mơ ước của nhiều nhà viết kịch.


Đọc Nửa ngày về chiều đã có ý kiến cho rằng tác giả đã cực đoan hoá tâm lý những con người đã hy sinh cho đất nước mà không được hưởng sự công bằng và xem đó như một hạn chế lịch sử trong thế giới quan của ông. Có lẽ vì quá yêu và biết đau nỗi đau nhân vật nên Xuân Trình đã quyết liệt bênh vực họ đến vậy. Và, cũng bởi, lời ngay khó lọt, sự thật... mếch lòng bao giờ chẳng nghiệt ngã, và càng thật càng nghiệt ngã. Một con người ngay thẳng không bao giờ chịu cúi mình chỉ có thể nói những điều trái tim yêu và trí óc tin! Nửa ngày về chiều là cả nỗi lòng ông dành về mai hậu.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}