Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Thứ Ba, 24/10/2017 11:08

Mạn đàm:

 

Phương pháp sưu tập văn nghệ dân gian của nghệ sĩ Trương Minh Phương*

GS.TSKH.Phan Đăng Nhật | Thứ Hai, 02/01/2017 10:06 GMT +7

Nghệ sỹ Trương Minh Phương là người đa tài, đã đóng góp trong nhiều lĩnh vực. Tập sách “Rừng hát”, hợp tuyển tác phẩm và công trình nghiên cứu của cụ dày hơn 1300 trang , khổ 19x27, do NXB Văn học xuất bản năm 2015, bao gồm 128 ca khúc, 80 kịch bản sân khấu, 6 công trình nghiên cứu về dân ca, dân nhạc các dân tộc. Bài này chỉ tìm hiểu một góc nhỏ di sản đồ sộ, phong phú và đa sắc màu của cụ: phương pháp sưu tập văn nghệ dân gian.

Các đại biểu chụp ảnh kỷ niệm Hội thảo khoa học"Nhạc sĩ, Nhà viết kịch Trương Minh Phương"

Ở nước ta, việc sưu tập văn nghệ dân gian đã được thực hiện qua nhiều thế hệ: các nhà Nho, các học giả tân học và đương đại. Xin điểm qua các thế hệ trên trước khi bàn đến nghệ sỹ Trương Minh Phương.  

I.Việc sưu tập thơ ca dân gian của các nhà Nho

Việc sưu tập thơ ca dân gian của các nhà Nho bắt nguồn từ  Kinh Thi của Khổng Tử. Khổng Tử và nho gia Trung Quốc đã tiến hành nghiêm túc công việc này. Đức Khổng  đã có công san định Kinh Thi. Nói đúng hơn Ngài góp phần chủ yếu san định thơ ca dân gian Trung Quốc và hình thành Kinh Thi, bộ sách được nhắc đến đầu tiên trong ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu ) Đến đời nhà Chu, việc sưu tập thơ ca dân gian được tiến hành rất quy mô. Việc thu thập thơ ca dân gian được goi là “thái thi” (hái thơ). Một vị quan cao cấp được nhà vua giao việc này, gọi là “thái sư”, ở các địa phương có các “quan thái thi”. Thực hiện nhiệm vụ cụ thể của các quan có một đội ngũ đông đảo các “hành nhân” được chọn người cao tuổi, kể cả những người mù. Hành nhân được cấp lương để làm việc thái thi.

Ơ ta, nhiều nhà Nho theo bước Khổng Tử sưu tập ca dao dân ca Việt Nam: Trần Danh Án có Quốc phong giải trào, Ngô Đình Thái có Nam phong giải trào, Nguyễn Đăng Tuyển có Quốc phong thi tập hợp thái, Nguyễn Đình Mại có Việt Nam phong sử, v.v…Sở dĩ tên sách của các vị đều có từ phong là xuất phát từ tên gọi phần đầu của ba phần trong Kinh Thi (Phong, Nhã, Tụng) . Phong còn là “Thập ngũ quốc phong” , thơ ca dân gian của 15 nước. Đặt tên như vậy, các cụ có ý nói rõ đã nối gót Khổng Tử và bày tỏ niềm tự hào rằng nước Nam cũng có Thi và Kinh Thi, chẳng khác gì Trung Hoa.

Các cụ ghi lại riêng phần lời của ca dao mà không ghi nhạc, mặc dầu có phân biệt hai loại: ca có khúc điệu, dao không có khúc điệu.

Việc giải thích ý nghĩa của ca dao họ thường làm theo kiểu Chu Hy, Trung quốc, gán một hiện tượng lịch sử nào đấy vào ca dao. “Họ đều ghi chép tục ngữ ca dao bằng chữ Nôm, rồi dịch ra chữ Hán và chú thích theo cách chú giải của Chu Hy vì có ý đem ca dao Việt Nam so sánh với thơ Quốc phong của Kinh Thi. Với hai câu "Thương chồng nên phải gắng công/ Nào ai xương sắt da đồng chi đây", Nguyễn Mại làm truyện rằng "Trưng Vương là đàn bà, báo thù cho chồng mà đánh đuổi Tô Định, thực là gan vàng dạ sắt". Hay như câu "Hoa thơm, thơm lạ thơm lùng/Thơm cành thơm rễ, người trồng cũng thơm" thì được ông cho là ám chỉ việc Lý Huệ Tông lấy bà Trần Thị Dung mà họ Trần được vinh hiển. Việc mô phỏng Truyện của Chu Hy để chú thích ca dao như vậy đôi khi là khiên cưỡng, gán ghép, làm sai lạc đi ý nghĩa của mỗi câu ca dao”. (https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_Thi).

II.Việc sưu tập ca dao của các học giả tân học và đương đại

Không ít nhà tân học để tâm sưu tập ca dao, dân ca: Nguyễn Văn Ngọc (Tục ngữ phong dao), Phạm Quỳnh ( Tục ngữ ca dao),Vũ Ngọc Phan (Tục ngữ và dân ca Việt Nam), Trần Viêt Ngữ, Trương Đình Quang, Hoàng Chương ( Dân ca miền Nam Trung Bộ), Ninh Viết Giao ( Hát phương vải ) , Nhóm Lam Sơn ( Ca dao sưu tầm ở Thanh Hóa), Trần Việt Ngữ, Thành Duy ( Dân ca Bình Trị Thiên), Nguyễn Tấn Long, Phan Canh ( Thi ca bình dân Việt Nam)  Nguyễn Xuân Kính-Phan Đăng Nhật (Kho tang ca dao người Việt), v,v,….

Phần lớn các vị tập trung ghi chép lời dân ca, mặc dầu dân ca gắn bó với tổng thề làn điệu, lề lối sinh hoạt, phong tục tập quán và môi trường, còn gọi là không gian văn hóa.

III. Nhiệm vụ và mục tiêu của việc sưu tập văn nghệ dân gian.

Khoảng ba thập kỷ lại đây từ khi Viện Văn hóa dân gian cùng khoa nghiên cứu văn hóa dân gian do GS Đinh Gia Khánh đứng đầu, được hình thành, một số đặc tính của ngành học này được xác định, trong đó tính nguyên hợp được nhấn mạnh:

“Văn hóa dân gian (folklore) đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo những phương hướng khác nhau. Sự khác nhau này tùy thuộc quan điểm của từng trường phái, tùy thuộc truyền thống học thuật của từng nước. Dầu sao thì không ai phủ nhận tính nguyên hợp (syncrétisme) của folklore (P.Đ.N. nhấn mạnh) và đa số học giả đều công nhận đó là một nghệ thuật”[1] Nguyên hợp (syncrétique) khác với tổng hợp (synthétique). Nguyên hợp là tính chỉnh thể nguyên có từ cội nguồn của loại hình nghệ thuật. Ví dụ: Quan họ là sự nguyên hợp của nhiều thành tố: lời ca, làn điệu hát, trang phục hội, tục kết bạn Quan họ, kết chạ giữa các làng, môi trường đình đền chùa (hát thờ), sông hồ (hát trên thuyền),…. Ví dụ: Hội Dóng là nguyên hợp của các thành tố: nghi lễ thờ cúng Thánh Dóng, truyền thuyết về Thánh Dóng, đặc điểm nổi bật là hai trận đánh ở Đống Đàm và Sòi Bia với rất nhiều nhân vật và nhiều màn cảnh.

 “Nảy sinh ra từ cuộc sống, từ  thực tiễn sản xuất và chiến đấu tác phẩm folklore phản ảnh nhận thức có tính nguyên hợp về thế giới. Nói một cách khác , tác phẩm folklore phản ảnh thế giới như là một chỉnh thể, không bị chia cắt và chưa bị chia cắt. Chỉnh thể ấy được cảm thụ bằng tất cả giác quan trong cùng một lúc. Phản ảnh thế giới như là một chỉnh thể, tác phẩm folklore cũng là một chỉnh thể. Tác phẩm folklore trong cùng một lúc tác động vào thị giác, thính giác, vào cảm xúc nhịp điệu. Tác phẩm folklore lại có mối quan hệ hữu cơ với môi trường, với sinh hoạt văn hóa, với thế ứng xử và lối ứng xử, với tập tục và truyền thống lâu đời của cộng đồng, với xu hướng tiến lên phía trước của cuộc sống cộng đồng.

Cho nên, tác phẩm folklore với tính cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thường bao gồm nhiều thành tố gắn bó với nhau một cách tự nhiên và hữu cơ với nhau” (Đinh Gia Khánh, tr.34)

Bản chất nguyên hợp của văn hóa nghệ thuật dân gian, đòi hỏi  việc sưu tập và nghiên cứu đối tượng này phải có những phương pháp thích hợp. Về nghiên cứu phải tiếp cận nguyên hợp. Báo cáo này không không đi sâu về phương pháp nghiên cứu mà chỉ xin tập trung vào phương pháp sưu tầm.

IV.Việc sưu tập văn nghệ dân gian của nghệ sỹ Trương Minh Phương.

Cụ đã cập nhật được lý thuyết tính nguyên hợp của văn hóa dân gian và sưu tầm và giới thiệu văn nghệ dan gian theo lý thuyết này. Sau đây là một số trường hợp tiêu biểu:

-Tingat là một đồ chơi trong hội, đồng thời là một dụng cụ đuổi chim, được buộc vào đầu gậy chọc lỗ tra hạt (apập) để vừa chọc lỗ, vừa đuổi chim lại nghe vui tai. Cuộc sống lao động và cuộc sống hội hè gắn với nhau, cùng được thực hiện trên một công cụ giản đơn. Làm cho tingat có ý nghĩa chiều sâu, bà con còn kể một truyền thuyết thú vị và tác giả không quên sưu tầm truyền thuyết này. Vậy ở tingat nguyên hợp ba yếu tố, với hai chức năng: lao động và vui chơi.

-Đàn Tăm praar được giới thiệu liên kết với kể chuyện cổ tích, sử thi, hát dân ca trong môi trường thông thường là nhà gươl, vào những ngày mưa gió bà con không lên nương rẫy được. Với đầy đủ các yếu tố trên đàn Tăm praar mới phat huy đầu đủ hiệu lực.

-Đàn Abel sống trong tổng thể các yếu tố: dân ca Pa cô, Ca tu, và môi trường trai gái tỏ tình.

Abel ơi abel!

Tràn xuống đôi vú tròn

Xoáy vào trái tim anh

Tóc em như dòng suối

Tiếng em như làn gió

         Abel ơi abel!

-Đàn Anton được làm bằng các thanh gỗ giống như đàn đá. Đàn anton không đứng độc lập, mà thường hòa với khèn bè, kl’ong pút, tămplưng, tămprết,…và đặc biệt là đệm dân ca Pacô, Katu:

Người về theo dòng suối, nhớ thương cây rừng

Người về nghe bài hát núi non xanh tươi

Nhịp nhàng ru lời gió ngân vang đất lành

Rộn ràng chim vẫn hót nhớ em thương anh

Nhớ thương tha thiết.

Theo lý thuyết nguyên hợp, nghệ sỹ Minh Phương đã sưu tập đươc một hinh thái ca múa nhạc đặc sắc của đồng bào Trường Sơn.

Hợp tấu ca múa nhạc cổ sơ thời kỳ đầu

Diễn xướng cha chấp là một trình diễn đa thành phần. Trung tâm là lời dân ca (của dân tộc Cơ Tu và Pa Cô), một loại dân ca vui, khỏe, tương tự như điệu hò miền biển. Trên cơ sở tính chất đó, đồng bào tổ chức diễn xướng. Nhạc cụ phụ họa khá đông: tù và, khèn bè, trống acưrur, tingat, cồng chiêng, âng coi, cơ rơ dóc ra don…Có một người đứng cái và nhiều người làm con phụ họa, cũng có lúc các con hát đối đáp. Họ vừa hò hát vừa nhảy múa, tương đối tự do. Trong trường hợp một người đối đáp bị lung túng, khán giả tham gia tiếp ứng.

Theo chúng tôi, hình thái trên có mối quan hệ với hình thái thứ hai của cồng chiêng Tây Nguyên.

Tiếp đến hợp tấu âm nhạc cổ sơ thời kỳ hai: hợp xướng cồng chiêng Tây Nguyên. Trong lễ bỏ mả có thể có đến 10 bộ chiêng của 10 buôn đến đóng góp, mỗi bộ 10 đến 12 chiếc. Như vậy có đến trên 100 chiếc chiêng cùng hợp tấu.  Mười dàn chiêng đó tấu theo giai điệu quy định và âm thanh buộc phải rất chỉn chu, “nếu lệch sẽ vỡ chiêng” (đồng bào tin như vậy). Ai chỉ huy? Luôn luôn có một vị nhạc trưởng tài giỏi điều khiển. Ông không mặc áo đuôi tôm, đứng trên bục cao, cầm gậy chỉ huy, mà ngồi kín đáo ở một điểm thuận nghe âm thanh , miệng ngậm ống điếu, lắng nghe. Hễ một chiêng nào , trong hàng trăm chiêng bị lỗi “ton”, ông liền gọi đích danh tên chiêng, của làng đó: -Chiêng knak khơk , hay knak liêng của làng A, làng B lại đây. Ông có một tên gọi giản dị. “pô ktul chinh” (ông sửa chiêng).

Nhận xét về hai dạng thức hợp tấu ca nhạc Trường Sơn-Tây Nguyên.

-Dạng thức hợp tấu ca nhạc của Trường Sơn –Tây Nguyên là sản phẩm tất yếu của xã hội, cụ thể là sản phẩm của hình thái văn hóa nguyên thủy (nhắc lại ba hình thái văn hóa trong lịch sử loài người). Ở hình thái này, có hai đặc điểm sản sinh ra dạng thức hợp tấu ca nhạc trên: tính nguyên hợp cao của nghệ thuật và tính cộng đồng cao của xã hội.

-Hợp tấu ca nhạc Ca tu, Cơ ho là bước thứ nhất, hợp tấu cồng chiêng Ê đê, Jrai là bước thứ hai. Bước thứ nhất đặt nền móng, bước thứ hai kế thừa, phát triển đến tinh tế và rất hoành tráng.

-Dầu khiêm tốn mấy chúng ta cũng phải nhận định rằng đây là một niềm tự hào của đất nước và của nhân loại, là đỉnh cao của ca nhạc; giống như đối với hợp tấu ca nhạc hiện đại bắt nguồn từ châu Âu, và ông sưả chiêng là một nhân tài quý hiếm, cần phải trân trọng, bồi dưỡng và chăm sóc .

-Đề nghị nghiên cứu và phát huy mạnh hai dạng thức hợp tấu trên.

V.Kết thúc

1.Phần trên chúng tôi mới bàn về một phạm vi  rất nhỏ công lao nghệ sỹ Minh Phương đã thấy sự đặc sắc công lao của ông, mà đương thời không nhiều người có được.

2.Nghệ sỹ Trương Minh Phương là người bám sát thực tiễn đời sống văn nghệ dân gian của bà con các dân tộc, mà do đặc điểm xã hội và do đặc điểm nghệ thuật, tính chất nguyên hợp cao về nghệ thuật, gắn bó với tính chất cộng đồng cao về xã hội đã bộc lộ rõ rệt.

3.Đồng thời nghệ sỹ Minh Phương  đã được đào luyện một vốn kiến thức, kỹ năng đa diện: ca hát, nhạc pháp, nhạc cụ,…rất cần thiết và thích hợp cho công việc.

4.Nghệ sỹ Minh Phương để lại cho đời sau những bài học rất quý, chúng ta cần nghiêm túc học tập.

-Công lao của ông to lớn, xứng đáng để các cơ quan truy tặng giải thưởng Nhà nước.

 P.Đ.N.
------------------------------

* Tham luận tại Hội thảo khoa học "Nhạc sĩ, Nhà viết kịch Trương Minh Phương".

[1](Đinh Gia Khánh: Phương pháp tổng hợp trong việc nghiên cứu folklore, trong sách Văn hóa dân gian-một chặng đường nghiên cứu, NXB Khoa học xã hội, tr.33)

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}